Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu đề án:
Ngày 7/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của
tổ chức thương mại thế giới WTO, trong điều kiện trình độ phát triển của nền
kinh tế còn thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao, đặc biệt chất lượng lao động còn
nhiều bất cập. Tình trạng thừa lao động giản đơn, thiếu lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao đang diễn ra phổ biến ở tất cả các ngành nghề, các
thành phần kinh tế. Trong đó, vấn đề về xuất khẩu lao động cũng mang tình
trạng này. Sự thiếu hụt lao động chất lượng cao đang là một trong những nguyên
nhân quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của lao động xuất
khẩu Việt Nam với lao động của các nước khác trên thị trường quốc tế.
Gia nhập WTO, sự cạnh tranh trong và ngoài nước sẽ diễn ra ngày càng
gay gắt trong khi khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ ngày càng nhanh và trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì việc đẩy mạnh và nâng cao lao động xuất
khẩu ở Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng. Nó quyết định đến năng lực cạnh
tranh của lao động Việt Nam trên thị trường thế giới. Do vậy, giáo dục đào tạo
nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu là một trong những vấn đề then chốt của
sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trong xu thế toàn cầu hóa như
hiện nay. Gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo dục lực lượng lao động xuất
khẩu có chất lượng cao như có chuyên môn nghề nghiệp giỏi, có ý thức tổ chức
kỷ luật cao, tác phong công nghiệp…quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh và
hội nhập, để làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Đồng thời cũng xây
dựng được uy tín của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.
Ở Việt Nam, những năm 80 của thế kỷ trước, hợp tác lao động theo
Hiệp định của Chính phủ với các nước XHCN đã đóng vai trò quan trọng trong
giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, tăng thu ngoại tệ và cải thiện đời
sống nhân dân. Sau năm 1990, thực hiện xuất khẩu lao đôngj theo cơ chế thị
trường và hội nhập đã đạt được thành tựu quan trọng như mỗi năm giải quyết
việc làm cho hàng chục vạn lao động, thu về trên một tỷ USD, đời sống gia đình
Ban kinh tế TW, của Bộ lao động Thương binh và Xã hội, trên internet. Qua đó
rút ra các nguyên nhân của những thành công và hạn chế, từ đó kiến nghị các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của nước ta trong thời
gian tới.
5. Kết cấu và nội dung của đề án:
Tên đề án “Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam nhằm nâng cao chất lượng lao động cho xuất khẩu ”.
Mở đầu
Nội dung
Chương I: Cơ sở lí luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
nhằm nâng cao chất lượng cho xuất khẩu.
Chương II: Đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực nhằm đảm bảo chất lượng cho xuất khẩu lao động.
Chương III: Phương hướng và giải pháp để cải tiến đào tạo và phát
triển chất lượng cho lao động xuất khẩu.
Kết luận
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
NỘI DUNG
I.CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CHO XUẤT KHẨU
1.1.Các khái niệm về đào tạo và phát triển:
- Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao
động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng,nhiệm vụ của mình. Đó chính là
quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của
mình,là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ kĩ năng của người lao
động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
- Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào
vai trò quản lý Nhà nước tại địa phương với haọt động xuất khẩu lao động, khắc
phục hiện tượng tiêu cực như cò mồi, môi giới lừa đảo. Hình thức này giúp
doanh nghiệp xuất khẩu lao động lựa chọn người lao động tốt, ngừơi lao động
giảm chi phí trung gian, thủ tục hành chính dễ dàng hơn .Với hình thức này đã
mở rộng đến các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Tây Nam Bộ.
- Hình thức tuyển qua trung tâm giới thiệu việc làm tại địa phương:
Doanh nghiệp sẽ tìm nguồn lao đọng dồi dào, phong phú về tay nghề,
giảm chi phí tuyển chọn vì người lao động tuyển từ các trung tâm này đã do cán
bộ xã, phường có chuyên môn nghiệp vụ chọn lọc. Nhưng hình thúc này làm
tăng chi phí người lao động do phát sinh khâu trung gian.
- Hình thức tuyển trực tiếp tại công ty:
Người lao động chủ động tìm đến doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo
nhu cầu của mình. Cán bộ xuất khẩu lao động trực tiếp tuyển chọn ngừơi có
trình độ nghiệp vụ thông thạo. Nhưng hình thức này doanh nghiệp xuất khẩu lao
động bị động về nguồn, đôi khi không tuyển được người theo đúng nhu cầu.
- Tuyển tại nơi làm việc:
Cán bộ xuất khẩu lao động tìm đến tại các nhà máy, xí nghiệp để tuyển
lao động. Hình thức này đảm bảo chất lượng lao động, tiết kiệm chi phí đào tạo
nhưng khó khăn vì chế độ giữ người ở các nhà máy, xí nghiệp.
1.3.Xuất khẩu lao động:
1.3.1.Khái niệm:
- Xuất khẩu lao động là sự di chuyển lao động có mục đích từ nứơc này
sang nước khác theo quy định của pháp luật, đó là hình thức đặc thù của xuất
khẩu nói chung, trong đó hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu là sức lao động của
người lao động. Đó là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao
động cho nước ngoài, có đối tượng xuất khẩu là con người.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Hoạt động xuất khẩu lao động được hiểu là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ
liên quan đến quá trình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở
nhập hơn 31 lần thu nhập trung bình đầu người của người nghèo trong nước, thị
trường Đài Loan hơn 65 lần…Sau khi về nước số vốn đó tiếp tục tạo thu nhập
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cao cho người lao động qua các hoạt động sản xuất kinh doanh mà trước đó do
thiếu vốn họ chưa làm được và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thu phí
dịch vụ hàng tháng, Nhà nước thu được thuế từ hoạt động này.Xuất khẩu lao
động tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.Tất cả khu vực có liên quan của
nền kinh tế đều được hưởng lợi từ xuất khẩu lao động.
- Tăng cường quan hệ hợp tác giữa nước ta với nước khác.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, thông qua xuất khẩu lao động có
thể tìm kiếm bạn hàng, mở rộng thị trường cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh
khác, tăng cường thông tin và trao đổi hàng hóa với đối tác. Đối với hai Chính
phủ phải kí kết hiệp định khung và cùng nhau hiệp tác giải quyết vấn đề phát
sinh trong quá trình thực hiện, thông qua đó các nước nhập khẩu lao động hiểu
hơn về đường lối, chính sách của nước ta. Do đó các lĩnh vực hợp tác không còn
bó hẹp trong xuất khẩu lao động mà mở ra mối quan hệ ngoại giao, kinh tế…Từ
đó, xuất khẩu lao động góp phần tăng cường tính đoàn kết hữu nghị, đưa Việt
Nam hòa chung với sự phát triển của thế giới.
- Một số vai trò khác của xuất khẩu lao động:
+ Giảm hiện tượng tiêu cực của xã hội: khi người lao động có việc
làm thì các tệ nạn xã hội cũng giảm đi đáng kể.
+ Giảm tình trạng đói nghèo: khi người lao động có việc làm thì tăng
thu nhập cho họ và giảm được nghèo đói.
+ Nâng cao mức sống và giữ gìn hạnh phúc gia đình của người đi
lao động xuất khẩu.
1.3.3.Các yếu tố tác động đến xuất khẩu lao động:
a,Cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt giữa các quốc gia xuất khẩu
lao động:
Việt Nam là quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, lực lượng lao động trẻ,
yếu tập trung ở các nước phát triển, khoảng 1/3 ở châu Âu, 20% ở Bắc Mỹ, 12%
ở các nước Ả rập, tất cả các khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung và Nam
Mỹ chiếm chưa đến 10%.
c,Hệ thống pháp luật và môi trường chính trị của các nước xuất, nhập
khẩu lao động và luật pháp quốc tế.
Xuất khẩu lao động không còn là việc làm của một cá nhân mà liên quan
đến nhiều người, nhiều tổ chức cung ứng lao động, đến các nứơc xuất khẩu và
nhập khẩu lao động.Vì vậy quản lý xuất khẩu lao động phải tuân thủ những quy
định về quản lý nhân sự, chính sách, quy luật quản lý kinh tế và hệ thống pháp
luật của nước nhập cư và xuất cư. Hoàn thiện và hoạch định các chính sách,
pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho xuất khẩu lao động.
d,Chất lượng nguồn lao động:
Ngày nay các nước nhập khẩu lao động truyền thống đang đổi mới đầu tư
và hiện đại hoá công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang các nước có
giá nhân công và dịch vụ thấp, có nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài có
trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, tăng dần tỉ trọng lao động chất xám cao
trong tổng số lao động nhập cư.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các nước đang thiếu lao động có trình độ và đang tìm cách cải thiện chính sách
nhằm thu hút lao động chất lượng cao.Với Việt Nam mỗi năm có hơn 1 triệu
người bổ sung vào lực lượng lao động trong đó phần lớn lao động chưa qua đào
tạo. Do đó Việt Nam chấp nhận xu hướng xuất khẩu lao động đi làm việc giản
đơn, không qua đào tạo hoặc ít đào tạo. Thêm vào đó là nhu cầu tiếp nhận lao
động phổ thông tiếp tục có nhu cầu lớn tại một số nước trong khu vực, nhất là
đối với một số ngành nghề lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại. Tuy nhiên
hiệu quả kinh tế-xã hội của việc sử dụng lao động phổ thông trên thị trường lao
động quốc tế có nhiều hạn chế do: thu nhập thấp, khả năng tiếp thu công nghệ
mới có hạn, điều kiện làm việc kém, giá nhân công thấp…
e,Các nhân tố quốc tế:
thân, tìm hiểu trên Internet, thoả thuận và kí kết hợp đồng lao động với chủ thuê
lao động. Chẳng hạn như người lao động Việt Nam ở Lào hay Campuchia…
1.4.2.Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao
động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
Là hình thức phổ biến ở Việt Nam và các nước khu vực Đông Nam Á.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động khai thác tìm đối tác, ký kết hợp đồng
cung ứng lao động theo quy định của pháp luật nước sở tại và luật pháp Việt
Nam. Sau đó tuyển chọn đào tạo ngoại ngữ, bổ túc tay nghề, giáo dục định
hướng về pháp luật, phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động.Và làm các
thủ tục cần thiết để đưa lao động đến nỡi làm việc và được phép thu phí dịch vụ.
Với hình thức này, số lượng ngừơi lao động đưa đi được nhiều hơn, được
tổ chức và quản lý chặt chẽ hơn, quyền lợi của người lao động sẽ được bảo vệ
tốt hơn.
1.4.3. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo công trình thầu khoán,
liên doanh, liên kết, hợp tác trực tiếp, đầu tư ra nước ngoài:
Người lao động đi làm việc cho các doanh nghiệp nhận thầu, khoán, đầu
tư ở nứơc ngoài chỉ kí một hợp đồng lao động trực tiếp với doanh nghiệp Việt
Nam, nên người sử dụng lao động ở nước ngoài là doanh nghiệp Việt Nam và
nội dung của hợp đồng này theo quy định của pháp luật Việt Nam. Lao động đi
theo hình thức này đựơc tổ chức chặt chẽ, quyền lợi được bảo vệ tốt. Hiện nay
Việt Nam thực hiện hình thức này tại Lào và Campuchia, các thị trường khác
chưa thâm nhập được do năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
còn yếu.
1.4.4.Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các hợp đồng thực tập,
nâng cao tay nghề.
Ngừơi lao động Việt Nam đi làm việc trong các doanh nghiệp, học sinh
tại các trường đi thực tập, tu nghiệp nâng cao tay nghề được phía tiếp nhận trả
lương trong thời gian thực tập và tu nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngoài vấn đề ngoại ngữ thì tác phong công nghiệp là vấn đề quan trọng
không kém. Đào tạo cho người lao động tác phong công nghiệp bằng cách rèn
luyện kỉ luật và thể lực cho người lao động .Về thể lực, đã xác định đi lao động
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368