Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
`Lêi më ®Çu
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ ( mà đại diện thường là
NHTW ) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định ( hay cơ chế điều hành tỷ giá ) và hệ
thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá
biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách kinh tế quốc gia.
Vai trò của chính sách tỷ giá tới tăng trưởng kinh tế
1. Đ ố i v ớ i cán cân thanh toán
Khi tỷ giá hối đoái (TGHĐ) tăng (đồng nội tệ xuống giá) sẽ làm tăng giá trong nước
của hàng nhập khẩu và giảm giá ngoài nước của hàng xuất khẩu của nước đó, cải thiện
sức cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước. Kết quả là xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm
làm cán cân thanh toán được cải thiện.
2. V ớ i l ạ m phát và lãi su ấ t
Khi các yếu tố khác không đổi, TGHĐ tăng làm tăng giá các mặt hàng nhập khẩu tính
bằng nội tệ. Các hộ gia đình,các nhà sản xuất sử dụng đầu vào nhập khẩu phải tiêu
dùng hàng nhập khẩu với mức gia tăng. Kết quả mức giá chung trong nền kinh tế trở
nên cao hơn đặc biệt là nền kinh tế mở cửa với thế giới bên ngoài có xuất khẩu và nhập
khẩu chiếm tỷ lệ cao so với GDP. Nếu TGHĐ tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các
năm có nghĩa là lạm phát đã tăng. Nếu lãi suất tăng ở mức vừa phải có thể kiểm soát sẽ
kích thích tăng trưởng nhưng nếu lạm phát tăng quá cao sẽ tác động làm lãi suất tăng
làm giảm đầu tư ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế.
3. V ớ i s ả n l ượ ng và vi ệ c làm
Đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước thì khi TGHĐ
tăng, sự tăng giá hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này
giúp phát triển sản xuất từ đó tạo thêm công ăn việc làm giảm thất nghiệp, sản lượng
quốc gia có thể tăng lên và ngược lại.
4. Đ ố i v ớ i đ ầ u t ư qu ố c t ế
- Đầu tư trực tiếp: TGHĐ tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư hoặc góp vốn liên doanh. Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phi sản xuất và
hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài. Do đo sự thay đổi TGHĐ có ảnh hưởng nhất
là thời kỳ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
- Các bạn hàng chủ yếu là các nước XHCN trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Hình
thức trao đổi thương mại chủ yếu là hàng đổi hàng giữa các nước theo một tỷ giá đã
được thoả thuận trong hiệp định ký kết song phương hay đa phương.
1.2. Chính sách tỷ giá (phương pháp xác định, chính sách quản lý)
• Tỷ giá trong giai đoạn này được xác định dựa trên việc so sánh sức mua giữa hai
đồng tiền, sau đó được qui định trong các hiệp định thanh toán được ký kết giữa các
nước XHCN.
- Tỷ giá của Việt Nam lần đầu tiên được công bố vào ngày 25/11/1955 là tỷ giá
giữa đồng Nhân dân tệ (CNY) và VND. 1CNY=1470VND. (Tỷ giá này được xác định
bằng cách chọn ra 34 đơn vị hàng hóa cùng loại, thông dụng nhất, tại cùng một thời
điểm tại thủ đô và có tham khảo thêm giá cả ở một số tỉnh khác để qui đổi ra tổng giá cả
của 34 mặt hàng đó theo hai loại tiền của 2 nước.)
- Sau đó, khi Việt Nam có quan hệ ngoại thương với Liên Xô, tỷ giá giữa VND
và đồng Rúp (SUR) được tính chéo nhờ tỷ giá giữa CNY và SUR đã có từ trước. 1 SUR
= 0.5 CNY ⇒ 1 SUR = 735 VND.
• Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này được giữ cố định trong một thời gian dài.
• Một đặc trưng nữa của tỷ giá trong giai đoạn này là “đa tỷ giá” tức là việc tồn tại
song song nhiều loại tỷ giá: tỷ giá chính thức, phi mậu dịch, kết toán nội bộ.
- Tỷ giá chính thức: (còn gọi là tỷ giá mậu dịch) là tỷ giá do ngân hàng nhà nước
công bố và dùng để thanh toán mậu dịch với Liên Xô và các nước XHCN khác. Đây là
tỷ giá dùng trong thanh toán có liên quan đến mua, bán hàng hóa, dịch vụ vật chất giữa
các nước trong phe XHCN.
- Tỷ giá phi mậu dịch: là tỷ giá dùng trong thanh toán chi trả hàng hóa hoặc dịch
vụ vật chất không mang tính thương mại. Như: chi về ngoại giao, đào tạo, hội thảo, hội
nghị …
- Tỷ giá kết toán nội bộ: được tính trên cơ sở tỷ giá chính thức cộng thêm hệ số
phần trăm nhằm bù lỗ cho các đơn vị xuất khẩu. Tỷ giá này không công bố ra ngoài mà
chỉ áp dụng trong thanh toán nội bộ. Nó thoát ly tỷ giá mậu dịch nhằm bù đắp những
khoản thua lỗ trong kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp nhà nước. Đây
cam kết và thực thi chiến lược ổn định hóa nền kinh tế - tài chính – tiền tệ, trong đó vấn
đề tỷ giá được coi là khâu đột phá, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải
cách, chuyển đổi cơ chế và mở cửa kinh tế.
2.2. Chính sách tỷ giá và tác động
• Nghị định 53/HĐBT ra đời ngày 26/03/1988, qui định về việc tách hệ thống
Ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp, bao gồm ngân hàng nhà nước thực hiện
chức năng quản lý vĩ mô và hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh
doanh tiền tệ và tín dụng. Tỷ giá mua bán của các ngân hàng được phép dựa trên cơ sở
tỷ giá chính thức do NHNN công bố cộng trừ 5% và chênh lệch giữa tỷ giá mua bán quy
định là 0,5%.
Nhóm thực hiện
4
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
• Nghị định 161/HĐBT về “Điều lệ quản lý ngoại hối” ban hành ngày
18/10/1988 quy định “Tỷ giá áp dụng trong việc thanh toán, mua, bán và chuyển đổi
ngoại tệ được thực hiện theo tỷ giá kinh doanh của Ngân hàng ngoại thương hoặc ngân
hàng được ủy quyền công bố trên cơ sở tỷ giá do NHNN VN công bố”
• Quá trình xóa bỏ chế độ tỷ giá kết toán nội bộ diễn ta cùng lúc với việc điều
chỉnh giảm giá mạnh nội tệ ( không khác gì thả nổi).
2.3. Tác động đến nền kinh tế.
• Kim ngạch xuất khẩu tăng. Năm 1990 tăng 18,8% ; 1991: 48,63%.
• Trong khoảng thời gian này, tỷ giá VND/USD có khuynh hướng tăng và được nhà
nước điều chỉnh sát với giá thị trường tự do, điều này chứng tỏ nhà nước bắt đầu thả
nổi tỷ giá, quan hệ cung cầu ngoại tệ đã được quan tâm đầy đủ hơn, tuy nhiên sự thả
nổi tỷ giá đã: kích thích tâm lý đầu cơ ngoại tệ nhằm mục đích hưởng chênh lệch
giá; tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây nên những cơn
sốc USD làm mất ổn định nền kinh tế; chính phủ không kiểm soát được lưu thông
ngoại tệ.
• Đồng Việt Nam liên tục bị mất giá so với Đô la Mỹ làm giá cả hàng nhập khẩu
tăng nhanh. Chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất tăng lên là điều kiện thúc đẩy lạm
chuyển đổi.
• Điều đó đã dẫn đến cán cân vãng lai và cán cân thương mại thâm hụt lớn, nhập khẩu
gấp 3 lần xuất khẩu. sự thiếu hụt trong cán cân thương mại được bù đắp bằng các khoản
viện trợ, cho vay của các nước CNXH mà chủ yếu là Liên Xô.
2.3.2. Chính sách tỷ giá.
a) Thời kỳ 1992-1994: tỷ giá chính thức hình thành trên cơ sở đấu thầu tại trung tâm
giao dịch ngoại tệ.
• Trong thời gian này, NHNN đề nghị với chính phủ thành lập Quỹ điều hòa ngoại tệ
tại NHNN để có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá. Chính phủ
ủy quyền cho Thống đốc được toàn quyền điều hành quỹ một cách linh hoạt.
Có thể nói, việc thành lập quĩ ngoại tệ tại NHNN đã làm dịu những biến động thất
thường của tỷ giá trên thị trường. NHNN đã sử dụng quỹ một cách rất linh hoạt và hiệu
qua. Quỹ tạo cho NHNN một lực thực sự để can thiệp nhằm ổn định tỷ giá, đáp ứng nhu
cầu thiết yếu của nền kinh tế về ngoại tệ.
• Tháng 9/1991 ngân hàng nhà nước đã thành lập một trung tâm giao dịch ngoại tệ tại
thành phố Hồ Chí Minh và tháng 11/1991, một trung tâm giao dịch thứ hai ở Hà Nội
cũng ra đời.
Đối tượng tham gia giao dịch trên các trung tâm này là các ngân hàng được phép
kinh doanh ngoại tệ, các tổ chức XNK kinh doanh trực tiếp với nước ngoài và NHNN.
Ngoài ra các ngân hàng được phép tập hợp các yêu cầu mua bán ngoại tệ của khách
hàng không trực tiếp mua bán tại trung tâm.
Trung tâm hoạt động theo nguyên tắc đấu giá từ thấp đến cao hoặc ngược lại để
đạt được cân bằng cung cầu về ngoại tệ.
• Tỷ giá chính thức của đồng Việt Nam được xác định có căn cứ vào tỷ giá đóng cửa
tại các phiên giao dịch ở các trung tâm theo nguyên tắc tỷ giá mua vào không được vượt
quá 0.5% so với tỷ giá ấn định tại phiên giao dịch trước.
Việc thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tệ là bước ngoặt đầu tiên của hệ thống
ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự theo hướng thị trường. Thông qua hoạt động
Nhóm thực hiện
6
chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa, chứ nới rộng thêm nữa biên độ giao dịch tỷ giá (mức
10% đã là quá cao) là hết sức nguy hiểm. NHNN đã ý thức được hiểm hoạ đó và quay
trở lại điều chỉnh tỷ giá hối đoái chính thức tăng khoảng 5,6%, từ 11.175 lên 11.800
VND/USD (theo Quyết định 37 ngày 14/2/1998 của Thủ tướng Chính phủ). Bước cải
tiến này vừa có lợi thế về thanh toán đối ngoại là giảm bớt mức độ VND bị đánh giá
quá cao, vừa tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách chênh lệch về tỷ giá giữa thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường tự do
Sau một số tháng áp dụng Nghị định 37, trong nước xuất hiện căng thẳng trở lại về
cung cầu ngoại tệ. Bởi vậy, vào ngày 7/8/1998 bằng một chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ tỷ giá chính thức đang từ 11.810 VND/USD được đưa lên bằng với tỷ giá thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng là 12.990 – 12.998 VND/USD, đồng thời biên độ giao
Nhóm thực hiện
7
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
dịch tỷ giá thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bị thu hẹp từ 10% xuống còn 7. Cùng
thời gian này một Nghị định quan trọng khác cũng được ban hành, đó là Nghị định
63/1998/NĐ - CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối. Theo đó, tỷ giá
hối đoái của đồng Việt Nam so với các ngoại tệ khác được hình thành dựa trên cơ sở
cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Hàng ngày, NHNN
công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng giữa VND
với USD trên các phương tiện thông tin đại chúng. Căn cứ vào mục tiêu của chính sách
tiền tệ trong từng thời kỳ mà NHNN quy định biên độ giao động so với tỷ giá giao dịch
bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để các ngân hàng thương mại được
phép xác định tỷ giá mua, tỷ giá bán giữa VND với USD.
Như vậy, NHNN đã sử dụng khá linh hoạt hai công cụ điều hành tỷ giá là tỷ giá
chính thức do NHNN công bố (từ cố định trong thời gian dài trước đây sang công bố
hàng ngày và tương đối uyển chuyển theo cung cầu ngoại tệ, theo định hướng thị
trường của Nhà nước) và biên độ giao động (từ cứng nhắc đến khá mềm dẻo, từ chỉ có
tăng biên độ tới cả có giảm biên độ). Điều chỉnh tỷ giá chính thức và biên độ giao dịch
những năm 1997 – 1998 đã thu hẹp khoảng cách giữa thị trường tự do và thị trường
trường liên ngân hàng của VND so với đồng đô la Mỹ. Các NHTM được phép xác định
tỷ giá mua bán đối với USD không được vượt quá +0.1% so với tỷ giá bình quân liên
ngân hàng của ngày giao dịch trước đó.
• Từ ngày 1/7/2002, NHNN quyết định nới rộng biên độ quy định tỷ giá của các Tổ
chức tín dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ đối với khách hàng lên ± 0,25% so với
mức ± 0,10% trước đó đối với nghiệp vụ giao ngay; lên ± 0,50% so với mức ± 0,40%
của nghiệp vụ giao dịch kỳ hạn 30 ngày; lên ± 2,5% so với mức 2,35% của nghiệp vụ
giao dịch kỳ hạn trên 90 ngày Đối với các ngoại tệ khác không phải là USD, các
NHTM được quyền chủ động tự định tỷ giá giữa VND và ngoại tệ đó.
• Như vậy, yếu tố thả nổi trong tỷ giá kinh doanh là đại lượng TGBQLNH, còn yếu tố
điều tiết là đại lượng BĐDĐ.
4.3. Ưu điểm và hạn chế
Những ưu điểm nổi bật của cơ chế tỷ giá này là:
• Tạo quyền chủ động của NHTM trong việc quy định tỷ giá với các ngoại tệ
khác.
• Tỷ giá được xác định một cách khách trên quan hệ cung cầu, các doanh
nghiệp chủ động hơn đồng thời đảm bảo được vai trò kiểm soát của nhà nước.
• Những biến động có thể tạo ra khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ
giá của các NHTM sẽ khó xảy ra.
• Giảm bớt tâm lý hoang mang dao động, giảm đầu cơ.
• Do được hình thành trên cơ sở thị trường nên tỷ giá linh hoạt hơn, mềm dẻo
hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế , góp phần tăng cường sự hòa nhập của nền kinh
tế nước ta vào nền kinh tế thế giới.
Những hạn chế của cơ chế tỷ giá này:
• Tỷ giá được xác định từ ngày hôm trước nên nó chưa là cơ sở vững chắc để tỷ
giá chính thức thực sự có ý nghĩa kinh tế.
• Biên độ dao động được đánh giá còn là hẹp, nếu có đột biến cung cầu thì sẽ
dẫn đến sai lệch tỷ giá là quá lớn, giao dịch ngày hôm đó có thể đình trệ hay đóng
băng.
Nhóm thực hiện
Số quyết định Ngày ký Ngày hiệu lực Tỷ giá BQLNH BĐ DĐ
được
phép
65/1999/QĐ –NHNN 25/02/1999 25/02/1999 + 0.1 %
679/2002/QĐ -NHNN 01/07/2002 01/07/2002 +/- 0.25%
2554/QĐ-NHNN 31/12/2006 02/01/2007 16 101 +/- 0.5%
Nhóm thực hiện
10
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
3039/QĐ-NHNN 24/12/2007 25/12/2007 16 113 +/- 0.75%
504/QĐ-NHNN 07/03/2008 10/03/2008 16 025 +/- 1%
1436/QĐ-NHNN 26/06/2008 27/06/2008 16 451 +/- 2%
2635/QĐ-NHNN 06/11/2008 07/11/2008 16 511 +/- 3%
672/QĐ-NHNN 23/3/2009 24/03/2009 16 980 +/- 5%
2666/QĐ-NHNN 25/11/2009 26/11/2009 16 961 +/- 3%
Thông tư
03/2010/TT-
NHNN
10/02/2010 11/02/2002 17 941 lên 18
544
+/- 3%
17/08/2010 19/08/2010 18 544 lên 18
932
+/- 3%
2.1 Năm 2007, đã có những biến động lớn trong chính sách điều hành tỷ giá của Ngân
hàng Nhà nước thể hiện ở những nội dung sau:
- Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ giá ngoại tệ
từ + 0,25% lên +0,5% so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều chỉnh này được cho là
mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của NHNN: Trong ngày 2 và 3 tháng 01 năm 2007,
tăng đáng kể trong ba tháng đầu năm, gây áp lực tăng giá VND, sau đó có dấu hiệu đảo
chiều làm tăng cầu ngoại tệ khi tình hình kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn, kinh tế
trong nước đối mặt với lạm phát, nhập siêu tăng cao. Sau khi có dấu hiệu tăng nhẹ trở
lại do kinh tế vĩ mô Việt Nam diễn biến khả quan, trong các tháng cuối năm, tình trạng
khủng hoảng thị trường tài chính quốc tế lại khiến cho các nhà đầu tư có xu hướng rút
vốn về nước để bảo đảm thanh khoản của các tổ chức ở chính quốc.
Chính sách :
Đối phó với những diễn biến khó lường đó, NHNNVN đã điều hành tỷ giá linh hoạt,
thực hiện được các mục tiêu của chính sách tỷ giá, đảm bảo thanh khoản ngoại tệ, góp
phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể là:
• Để giảm bớt áp lực cho các ngân hàng trong bối cảnh cung ngoại tệ thừa , có
điều kiện ấn định tỷ giá theo cung cầu vốn thực tế, ngày 07/3/2008 NHNN đã
mở thêm biên độ tỷ giá thêm một khoảng là +/- 0,25% so với mức +/-0,75%
trước đây, tức là cho phép các ngân hàng được tự đưa ra tỷ giá trong "phạm vi
cho phép" là +/-1% so với tỷ giá chính thức liên ngân hàng.
• Vào giai đoạn cuối tháng 6.
- Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung cầu thị
trường.
Ngày 26/6/2008 NHNN ban hành quyết định số 1346 mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch
USD/VND từ mức ±1% lên mức ±2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do
NHNN công bố.
Tăng cường bán ngoại tệ cho các NHTM để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế,
đáp ứng tối đa các nhu cầu thiết yếu như nhập khẩu xăng dầu, thuốc chữa bệnh, thuốc
bảo vệ thực vật, phân bón, thiết bị y tế, đồng thời hỗ trợ ngoại tệ cho các ngân hàng có
phục vụ nhu cầu trả nợ vay hoặc thanh toán L/C đến hạn, các nhu cầu ngoại tệ hợp
pháp của cá nhân và hỗ trợ trạng thái cho các NHTM;
Nhóm thực hiện
12
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
- Từ ngày 7/11/2008, biên độ tỉ giá giao dịch USD/VND được mở rộng từ mức 2% lên
kể vàng)
-5.692 -7.966 121 -2.442 -3.544
- Thương mại -9.000 -10.042 -208 -2.597 -3.528
- Kiều hối 6.180 6.804 1.488 1.469 1.243
- Khác -2.812 -4.728 -1.159 -1.314 -1.259
Cán cân tài khoản tài chính (kể cả
vàng)
15.891 8.439 -964 -306 1.446
- “Cơ bản” 14.917 11.449 1.211 1.840 3.013
- Chính thức 2.045 993 322 470 484
- Tư nhân (FDI, FPI, tín dụng
thương mại)
12.872 10.456 889 1.370 2.529
- “Không cơ bản” 974 -3.010 -2.175 -2.146 -1.567
- Tài sản nước ngoài ròng của ngân
hàng thương mại
2.623 677 -688 -265 1.500
- Vàng -1.300 -2.740 2.530 70 0
- “Sai số và thiếu sót” -349 -947 -4.017 -1.951 -3.067
Cán cân tổng thể 10.199 473 -843 2.748 -2.098
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Từ số liệu về cán cân thanh toán trong Bảng 1, có thế thấy rằng thâm hụt cán cân thanh
toán của Việt Nam là do phần “không cơ bản” trong cán cân tài khoản tài chính gây ra,
“sai số và thiếu sót” lại quá lớn, khiến việc giải thích tình trạng thâm hụt của cán cân
thanh toán trở nên khó khăn.
- Cầu ngoại tệ căng thẳng, ngoài nguyên nhân chính là cán cân thanh toán chung, một
phần còn từ hoạt động đầu tư vàng và USD của nhiều người dân. Chỉ trong vòng một
tuần qua, quyết định thu gom USD của người dân có thể lãi 5% – 6%, một tỷ lệ hấp
dẫn và lôi kéo nhiều người chạy theo món lợi này hơn.Và chính vì USD hấp dẫn và bị
đầu cơ càng đẩy cầu ngoại tệ chính thức trở nên căng thẳng. Nhiều người không gửi
Theo đó, xét về mặt vĩ mô, có rủi ro về tỷ giá và rủi ro về dự trữ ngoại hối.
+ Khi tỷ giá chính thức thấp hơn tỷ giá ngoài thị trường tự do, đến một lúc lượng cầu
lớn hơn lượng cung có trên thị trường, thì luôn có sức ép đẩy tỉ giá tới tỷ giá thật. Khi
thị trường ngoại hối căng thẳng, Ngân hàng Nhà nước “bơm” ngoại tệ ra, và “bơm” ra
bao nhiêu thị trường lại “hút” hết bấy nhiêu. Việc này làm cho dự trữ ngoại hối giảm,
nhưng lại không làm bớt căng thẳng thị trường ngọai hối
+ Rủi ro kế tiếp là ở doanh nghiệp. Phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều
doanh nghiệp liên quan hoạt động xuất nhập khẩu. Trong chuỗi các giá trị đó, khi tỷ giá
bấp bênh, người xuất khẩu không bán USD, người nhập khẩu không mua được USD,
thì không nhất thiết thị trường mất cân bằng cũng đưa đến sự căng thẳng.
+ Một rủi ro nữa là rủi ro về tỷ giá hiện nay là lớn, trong khi phần lớn doanh nghiệp
không phòng vệ được, đưa đến sản xuất hoạt động kinh doanh bị hạn chế một phần.
Nhóm thực hiện
15
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
2.4. Đầu năm 2010 cho đến nay :
- Ngày 10/2/2010, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định điều chỉnh tỷ giá giữa
VND và USD liên ngân hàng. Theo đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng điều chỉnh từ
mức 17.941 đồng/USD lên 18.544 đồng/USD, tăng khoảng 3,3%.
- Gần đây nhất, Nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu, ngày 17/8/2010 Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt
Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 đồng/USD lên mức
18.932 đồng/USD, tăng 2%. Biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%. Với những giải
pháp này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình ổn, tỷ giá chính thức
so với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao dịch
vốn trong xã hội.
Kết quả : Với biên độ tỷ giá hiện nay là +/-3%, tỷ giá giao dịch tối đa mà các tổ
chức tín dụng được áp dụng là 19.100 đồng/USD. Theo NHNN, mục đích của việc
điều chỉnh tỷ giá là nhằm cân đối hài hòa cung - cầu ngoại tệ, góp phần kiểm soát
nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô. Ngay sau khi quyết định được ban hành, các ngân
giảm) liên tục sẽ có khả năng tạo "cớ" cho các đối thủ cạnh tranh vận động hành lang
cho các vụ kiện, nhất là trong bối cảnh các quốc gia đang có xu hướng bảo vệ kinh tế
và việc làm nội địa bằng các chính sách bảo hộ phi thuế quan khác nhau.
- Nợ nước ngoài: Gánh nặng thuộc về doanh nghiệp
Thời điểm thay đổi tỷ giá, có một quan điểm thú vị khi cho rằng việc thay đổi này
không làm gia tăng áp lực đối với các khoản nợ nước ngoài của chính phủ vì việc tăng
tỷ giá kích thích xuất khẩu, từ đó làm gia tăng nguồn ngọai hối thu về để thanh toán nợ.
Tuy nhiên, việc nới lỏng tỷ giá vừa qua cũng đã khiến cho các doanh nghiệp có các
khoản vay bằng ngoại tệ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
thậm chí có nhiều doanh nghiệp lợi nhuận làm ra cả năm không đủ bù đắp khoản chênh
lệch tỷ giá đối với khoản vay ngoại tệ của mình, mà đôi khi, vấn đề này còn phụ thuộc
vào chế độ hạch toán kế toán. Tiêu biểu cho trường hợp này là Công ty cổ phần nhiệt
điện Phả Lại trong năm 2008-2009: Công ty đã phải trích lập quỹ dự phòng do trượt tỷ
giá giữa đồng Yên (Nhật Bản) với Đồng Việt Nam với giá trị vượt 30% so với lợi
nhuận sản xuất kinh doanh cả năm 2008.
- Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do
Nhìn vào khoảng thời gian qua, dường như chính sách tỷ giá của NHNN chỉ nhằm rút
ngắn khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do, thu hút lượng ngọai hối về
ngân hàng để phục vụ mục tiêu điều hành của Chính phủ.
Lần điều chỉnh đầu tiên tạo khoảng cách chênh lệch là 1.000 VND/USD. Cũng trong
thời điểm này, có nhiều đánh giá cho thấy lượng tiền USD của các tổ chức, cá nhân gửi
tại Ngân hàng lên tới 20 tỷ USD, tuy nhiên sau khi rà soát lại thì lượng tiền của các Tập
đoàn kinh tế quốc doanh chỉ có 1,9 tỷ USD gửi các kỳ hạn tại Ngân hàng. Khi cung cầu
ngọai tệ căng thẳng, Thủ tướng đã quyết định bắt buộc các Tập đoàn, Tổng công ty
Nhà nước bán ngoại tệ hiện có của mình cho Ngân hàng để bình ổn cung cầu. Tuy
nhiên điều này không được thực hiện một cách triệt để.
Việc tiếp tục nới lỏng tỷ giá VND/USD lần thứ hai làm củng cố tâm lý tiếp tục găm giữ
ngọai tệ và thị trường lại khan hiếm dòng vốn ngọai tệ luân chuyển, ngân hàng tiếp tục
nâng tỷ giá và khép kín một vòng tròn luẩn quẩn.
Dù thế nào thì việc tỷ giá niêm yết biến động mạnh với tần suất cao, không có tín hiệu
tục thâm hụt. nguyên nhân là do trong thời gian này tỷ lệ lạm phát của VN rất cao (tb 10.88%/ năm),
tỷ lệ lạm phát của Mỹ thấp và ổn định (tb chỉ 2.84%/năm). Trong thời gian này, chính sách tỷ giá hối
đoái được điều chỉnh để chống lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài. Để thực hiện mục tiêu chống
lạm phát, chính sách tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
+ Từ năm 1997-1999, tỷ giá thực tăng, sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam bắt đầu đươc
cải thiện, thể hiện ở chỉ số tỷ giá xuất khẩu lớn hơn chỉ số tỷ giá nhập khẩu và thâm hụt của cán cân
thương mại giảm. Đặc biệt, trong năm 1999, lần đầu tiên cán cân thương mại thặng dư. Nguyên nhân
là do tháng 10/1997, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ
giá chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ (+) (-) 5% lên (+) (-)10%. Nới
rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh. Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên
đây đã có tác động tích cực đối với xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu
trong các năm 1997-1999. Ngoài ra, giá cả trên thị trường biến động không đáng kể cũng là một nhân
tố góp phần cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam.
- Giai đoạn 2: từ năm 2000-2005, chỉ số tỷ giá thực eR>1 nghĩa là tỷ giá thực tăng. Từ năm 2000-
2005, mặc dù tỷ giá thực tăng nhưng không cải thiện được sức cạnh tranh thương mại quốc tế của
Việt Nam vì tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu lớn hơn tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu. Nguyên
nhân là do chịu tác động của hai yếu tố giá và lượng của một số mặt hàng chủ lực như xăng dầu, sắt
thép, phân bón do bị ảnh hưởng của tình hình kinh tế, chính trị có nhiều biến động4, chiến tranh Irắc,
căng thẳng về chính trị đặc biệt ở Trung Đông, dịch bệnh SARS vv…
- Giai đoạn 3: từ năm 2006-2008, tỷ giá thực giảm do eR<1 đã làm xói mòn sức cạnh tranh thương
mại quốc tế, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu thấp hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu.
2. Tác động của tỷ giá thực đa phương (REER) lên cán cân thương mại.
REER được tính thông qua rổ tiền tệ gồm 11 đồng tiền các nước có quan hệ thương mại với Việt
Nam: Singapore, Nhật Bản, Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu, Malaysia, Thái Lan, Hàn
Quốc và Indonexia. Kết quả như sau:
Đồ thị 3 : Mối quan hệ giữa REER và cán cân thương mại
Nhóm thực hiện
19
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
(Nguồn: Adb.org, wordbank.org, econstat.com, epp.eurostat.ec.europa.eu và thống kê tài chính quốc
chính sách đúng đắn, nhất quán và một cơ chế giao tiếp thông tin chính xác, kịp thời
với người dân, DN, thị trường là những điều kiện tiên quyết.
- Những thay đổi chính sách tỷ giá vừa qua, có thể đem lại những tác dụng tức thời
nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, nhưng sự can thiệp của Ngân
hàng Nhà nước vào thị trường bằng quyết định hành chính sẽ để lại cho xã hội tâm lý
bất an khi sở hữu đồng nội tệ. Những người làm chính sách cần phải có xem xét toàn
diện hơn khi triển khai những quyết định thay đổi tỷ giá bất ngờ, không thể ra quyết
định chỉ phục vụ giải quyết tình huống mà quên đi những tác động có tính dài hạn hơn.
III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
NHẰM HỖ TRỢ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CÁC DOANH
NGIỆP.
1. Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay
Chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay nặng về quản lý tỷ giá hối đoái danh nghĩa, thiếu
các phân tích và đánh giá thường xuyên về tỷ giá hối đoái thực và mức độ tác động đến
lạm phát, xuất khẩu … để có chính sách điều chỉnh thích hợp.
Chính sách tỷ giá hối đoái neo chặt vào USD về cơ bản ổn định (mức độ phá giá không
quá 1%/năm) trong khi lạm phát khá cao. Điều này tạo ra nhiều hiệu ứng phức tạp, cụ
thể:
- Doanh nghiệp có thói quen ỷ lại vào tỷ giá ổn định, tận dụng lợi thế về tài nguyên và
lao động rẻ, ít chú ý đến đổi mới công nghệ và giá trị gia tăng của sản phẩm, không
quan tâm phòng ngừa rủi ro hối đoái; không lựa chọn các đồng tiền thanh toán có lợi
thế. Vì vậy, doanh nghiệp thường có phản ứng thái quá khi VND lên giá nhẹ
- Do tỷ giá hối đoái căn bản ổn định (không có rủi ro hối đoái) nên các nhà đầu tư dễ
dàng tận dụng chênh lệch lãi suất nội tệ và ngoại tệ; chênh lệch lãi suất trong nước và
quốc tế để đầu cơ tiền tệ, khiến cho thị trường biến động mạnh, tình trạng thừa, thiếu
ngoại tệ rất khó dự báo, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước. Trong điều kiện thắt chặt tiền tệ, với chính sách tỷ giá như trên cũng làm
tăng xu hướng các ngân hàng thương mại vay vốn ngắn hạn từ nước ngoài (kể cả ngân
hàng nước ngoài) mà chủ yếu để tài trợ nhập khẩu. Điều này cũng làm tăng đáng kể rủi
ro đối với an toàn hệ thống ngân hàng (giống như tình hình Thái Lan trước khủng
tiền nào và trọng số được tính trong rổ là bao nhiêu.
- Cần phân tích sâu hơn về tỷ giá hối đoái thực hiệu quả gắn với một rổ tiền tệ xác định
Như đã đề cập ở trên, nhằm xác lập được mức tỷ giá cân bằng trung tâm (central
parity) làm cơ sở để điều hành tỷ giá và biên độ thích hợp trong từng giai đoạn cụ thể.
Mức cân bằng trung tâm là mức mà tỷ giá hối đoái danh nghĩa cần đạt được để tỷ giá
hối đoái thực cân bằng tính theo cùng một năm gốc.
- Hệ thống lãi suất của Ngân hàng Trung ương – công cụ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Nhóm thực hiện
22
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
Chú trọng sử dụng hệ thống lãi suất của Ngân hàng Trung ương như là công cụ điều
chỉnh tỷ giá hối đoái ngoài việc mua vào, bán ra qua dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng
Nhà nước. Để làm được điều đó lãi suất của Ngân hàng Trung ương phải phản ánh đầy
đủ mức độ tăng giảm của cung tiền nội tệ. Đến lượt nó mức tăng giảm cung tiền phụ
thuộc vào dự báo lạm phát. Ngân hàng Nhà nước chỉ mua vào và bán ra ngoại tệ trong
trường hợp cung cầu không cân bằng tại mức tỷ giá cân bằng trung tâm.
- Một số chính sách hỗ trợ khác
+ Cần cho phép các ngân hàng thương mại (được phép kinh doanh ngoại tệ) mua bán
ngoại tệ hai chiều một cách bình thường với tất cả các nhu cầu giao dịch (như đã thí
điểm tại EXIMBANK). Trên cơ sở đó, cùng với việc nới rộng biên độ tỷ giá hối đoái
tạo ra thị trường hối đoái thông suốt, liên tục bao gồm cả thị trường giao ngay, hoán
đổi và kỳ hạn. Một thị trường hối đoái với sự đa dạng của loại hình và công cụ giao
dịch sẽ làm tăng khả năng cân bằng cung cầu, hạn chế đầu cơ, găm giữ ngoại tệ tạo ra
niềm tin đối với công chúng và nhà đầu tư về khả năng tiếp cận thị trường.
+ Cần để lãi suất hình thành theo nguyên tắc thị trường đảm bảo cấu trúc kỳ hạn và cấu
trúc rủi ro của lãi suất. (Ở Mỹ hiện nay, lãi suất huy động của các ngân hàng lớn từ
3,25 – 3,75%/năm; trong khi đó các ngân hàng thương mại nhỏ huy động phổ biến từ
4,25% – 5%/năm. Các ngân hàng nhỏ cho vay ra với lãi suất cao hơn các ngân hàng
thương mại lớn, đối tượng cho vay chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo phân
khúc thị trường). Đây là giải pháp then chốt nhằm thu hút vốn vào ngân hàng và cho
ngoại tệ để đầu tư chứng khoán khác với tỷ giá thương mại); các biện pháp quản lý
định lượng như hạn mức mua ngoại tệ đối với đầu tu chứng khoán; dự trữ bắt buộc đối
với tiền đầu tư chứng khoán; phong tỏa tài sản lưu ký một năm; đánh thuế cân bằng lãi
suất (thuế chênh lệch lãi suất nội địa và quốc tế)… Tuy nhiên, các biện pháp thuế như
thuế giao dịch ngoại tệ kinh doanh chứng khoán; thuế lợi tức kinh doanh chứng khoán
và thuế cân bằng lãi suất tỏ ra có hiệu quả hơn cả. Ở VN, kinh doanh chứng khoán trên
tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, nên việc áp dụng chính sách thuế càng thuận
lợi.
- Đối với doanh nghiệp
Tỷ giá hối đoái tăng có lợi cho các nhà xuất khẩu và hạn chế tình trạng nhập siêu, đồng
thời cũng có tác dụng giảm sức ép lạm phát. Tuy nhiên, trong ngắn hạn sẽ gây ra một
số khó khăn cho doanh nghiệp như các quyết định đầu tư sẽ phải tính đến rủi ro hối
đoái, đặc biệt các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu. Vì vậy, để giảm thiểu những
rủi ro này các doanh nghiệp cần phối hợp với ngân hàng thương mại thực hiện các
công cụ phái sinh như hợp đồng forwad, futures, swaps. Cũng cần lưu ý rằng những
biến động tỷ giá hối đoái thường lớn hơn biến động về lãi suất vì vậy việc tiết giảm chi
phí phòng ngừa rủi ro hối đoái trong ngắn hạn là vô cùng quan trọng.
Về dài hạn, các doanh nghiệp cần tập trung vào những tác động kinh tế thực sự của
việc biến đổi tiền tệ và cần thiết xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro hối đoái, cùng
với các chiến lược như marketing, sản xuất và quản lý tài chánh thích hợp để đối phó
với những tác động kinh tế của việc biến động tỉ giá hối đoái. Bởi vì, sự biến động tỉ
giá hối đoái kéo theo sự thay đổi giá bán sản phẩm làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của công ty. Vì vậy, ban điều hành cần điều chỉnh quá trình sản xuất, kế hoạch
Nhóm thực hiện
24
Báo cáo kết quả nghiên cứu nhóm – Bộ môn Tài chính quốc tế
marketing -mix để tạo ra tương quan giá mới để đảm bảo lợi nhuận lâu dài. Các công ty
có thể ngăn ngừa những rủi ro dựa vào thu chi ngoại tệ đã được dự trù trước, nhưng
ngược lại, những rủi ro cạnh tranh, – vấn đề này xuất phát từ sự cạnh tranh với các
công ty dựa vào loại tiền tệ khác- là lâu dài, khó để định lượng và không thể giải quyết