Một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu mặt hàng kính xây dựng và gốm sứ thuỷ tinh - Pdf 27

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Việt Nam đang trên đà phát triển và hướng tới mục tiêu trở thành
nước công nghiệp trong năm 2020. Vì vậy, các ngành công nghiệp phải là
ngành đi tiên phong trong công cuộc đổi mới này. Ngành công nghiệp kính
xây dựng là một ngành còn non trẻ, nhưng đang giữ một vị trí quan trọng
trong quá trình đổi mới. Trong thời gian tới, ngành có xu hướng phát triển
nhanh. Tuy nhiên, ngành kính xây dựng đang vấp phải những khó khăn
thách thức, vì là một ngành mới, nên một mặt chưa có kinh nghiệm, một
mặt còn yếu về nguồn lực nên khó có thể cạnh tranh được với hàng nhập
khẩu từ bên ngoàI với giá thành rẻ và chất lượng cao. Vì vậy, ngành kính
xây dựng của Việt Nam và đặc biệt là công ty kinh doanh và xuất nhập
khẩu cần phảI có chiến lược thích hợp để có thể cạnh tranh với hàng nhập
khẩu. Mặt khác, công ty cũng đề nghị nhà nước có những chính sách để
bảo hộ cho ngành kính xây dựng khắc phục khó khăn để phát triển đi lên.
Đồng thời nhà nước cần có biện pháp ngăn chặn những hành vi nhập lậu
hàng hoá và chống hàng giả để giúp ngành kính xây dựng phát triển. Qua
thực trạng phát triển của ngành kính xây dựng và của công ty, tôi đã chọn
đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu mặt hàng kính xây
dựng và gốm sứ thuỷ tinh”. Qua đó, em hy vọng ý kiến của mình sẽ góp
phần khắc phục được những khó khăn của công ty đang gặp phải.
Trong quá trình thực tập và viết chuyên đề này, em luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo TS. Nguyễn Tiến Dũng và toàn thể
các cô, chú, của công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera. Qua đây
em chúc thầy và các cô chú trong công ty mạnh khoẻ và công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn!
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương I
Những lý luận về xuất khẩu hàng hoá
I. Cơ sở lý luận của hoạt động ngoại thương.

quốc gia này như sau:
Bảng 1: Chi phí sản xuất của Anh và Mỹ
Sản phẩm
Mỹ
Anh
Lúa
Mì(giạ/người/năm)
6 1
Vải(mét/người/năm
)
4 5
Theo lý thuyết tuyệt đối của Adamsmith thì Mỹ sẽ sản xuất lúa mì có
hiệu quả hơn Anh, còn Anh thì sản xuất vảI có hiệu quả hơn Mỹ. Như vậy,
Mỹ sẽ chuyên môn hoá sản xuất lúa mì, Anh chuyên môn hoá sản xuất vải
và khi đó Anh và Mỹ sẽ mang sản phẩm của mình đi trao đổi thì cả hai
quốc gia này đều có lợi.
Nếu Mỹ đổi 6 giạ lúa mì với Anh để lấy 6m vải thì Mỹ sẽ có lợi 2m vải
hay sẽ tiết kiệm được 1/2 giờ vì mỗi giờ ở Mỹ sản xuất được 4m vải.
Tương tự như vậy, nếu Anh nhận được từ Mỹ 6 giạ lúa mì tức là Anh
không mất 6 giờ để sản xuất lúa mì ở trong nước. Với thời gian này, Anh sẽ
tập chung vào sản xuất vải thì sẽ được 30m vải. Trong đó 6m vải đem đi
trao đổi với Mỹ, còn 24m vải để lại tiêu dùng, hay nói cách khác Anh đã
tiết kiệm được 5 giờ lao động.
1.2. Khả năng áp dụng
Ngày nay, lý thuyết lợi thế tuyệt đối vẫn còn có ý nghĩa, đặc biệt là với
các nước đang phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển là những nước
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú; nguồn lao động dồi dào, giá
lao động rẻ. Những nước này không đủ khả năng để sản xuất ra máy móc

phí cao hơn Nga. Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối thì Việt Nam không có
khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga. Nhưng nếu xét theo chi phí so
sánh ta sẽ thấy.
Bảng 3: Chi phí so sánh giữa hai loại hàng hoácủa Việt Nam và Nga
Sản phẩm
Chi phí so sánh
Việt Nam Nga
Thép(1 đơn vị) 5 4
Quần áo(1 đơn vị) 1/5 1/4
Theo chi phí so sánh thì thấy rằng: chi phí sản xuất thép của Việt Nam
cao hơn Nga: để sản xuất 1 đơn vị thép Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo,
trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị. Nhưng chi phí để sản xuất 1đơn vị quần
áo của Việt Nam thấp hơn Nga: để sản xuất 1 đơn vị quần áo Việt Nam cần
1/5 đơn vị thép trong khi đó ở Nga cần 1/4 đơn vị thép. Điều này chỉ ra
rằng, Việt Nam và Nga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau. Nga sẽ xuất
khẩu thép sang Việt Nam và Việt Nam sẽ xuất khẩu quần áo sang Nga, việc
trao đổi này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Nga và Việt Nam.
Trước khi có ngoại thương, Nga sản xuất 1 đơn vị thép đổi lấy 4 đơn
vị quần áo. Khi có hoạt động ngoại thương thì Nga sản xuất 1 đơn vị thép
sẽ đổi được 5 đơn vị quần áo. Như vậy sau khi có hoạt động ngoại thương
thì Nga sẽ được lợi thêm 1 đơn vị quần áo.
Đối với Việt Nam, trước khi có ngoại thương, Việt Nam sản xuất 5 đơn
vị quần áo thì đổi được 1 đơn vị thép. Khi có hoạt động ngoại thương thì
Việt Nam chỉ cần 4 đơn vị quần áo đã đổi được 1 đơn vị thép. Như vậy,
Việt Nam đã tiết kiệm được 1 đơn vị quần áo
Như vậy nhờ có hoạt động ngoại thương mà lợi ích của 2 quốc gia đều
tăng lên trong khi đó vẫn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước. Hay
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nói cách khác đã làm nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một quốc

nguyên nhân dẫn đến giá tương đối của các hàng hoá khác nhau, và từ đó
dẫn đến thương mại giữa các nước.
II. Các chiến lược phát triển ngoại thương của một số nước trên thế
giới
1. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô được hầu hết các nước đang sử
dụng. Đó là chiến lược dựa vào việc sử dụng các sản phẩm sẵn có của đất
nước. Sản phẩm thô là những sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm khai
khoáng vì thế nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời tiết ở
quốc gia đó.
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô được các nước đang phát triển sử
dụng vì các quốc gia này giàu có tài nguyên thiên nhiên. Nhưng về mặt
khoa học công nghệ thì rất kém, vì vậy việc xuất khẩu sản phẩm thô là một
hình thức phù hợp. Mặt khác, chiến lược này sẽ tạo động lực cho phát triển
kinh tế. Ban đầu nền kinh tế sẽ phát triển theo chiều rộng nghĩa là các quốc
gia bán tàI nguyên của mình để thu ngoại tệ về cho đất nước. Hoặc dùng
chính sách thu hút đầu tư nước ngoàI vào công nghiệp khai khoáng và công
nghiệp sản xuất sản phẩm nhiệt đới. Sự phát triển này sẽ làm cho tăng
nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tăng khả năng tích luỹ của nền kinh tế, đồng
thời giải quyết việc làm cho người lao động.
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô cũng tạo ra những biến đổi cơ cấu
kinh tế. Ban đầu là sự phát triển công nghiệp khai khoáng và ngành công
nghiệp chăn nuôi, trồng cây lương thực và cây công nghiệp có khả năng
xuất khẩu, đồng thời với những ngành này là sự phát triển của công nghiệp
chế biến, tạo ra các sản phẩm sơ chế như: gạo, cà phê, cao su….Sự phát
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
triển của công nghiệp chế biến sẽ tạo cơ hội cho việc gia tăng các sản phẩm
xuất khẩu. Mặt khác nó lại có tác động ngược lại với các ngành cung ứng
nguyên liệu, tạo ra mối liên hệ ngược.

Pm là giá bình quân hàng nhập khẩu
Hệ số này phản ánh sức mua hàng nhập khẩu khi xuất khẩu 1 đơn vị
hàng hoá khác. ở các nước đang phát triển thường xuất khẩu sản phẩm thô
để có ngoại tệ nhập khẩu hàng công nghệ. Xu thế của thế giới hiện nay là
giá của sản phẩm thô ngày càng giảm so với hàng công nghệ. Theo như
nghiên cứu của 2 nhà kinh tế học Grilli và Yang đã chứng minh rằng giá
của sản phẩm thô giảm bình quân là 0,65%/ năm so với hàng công nghệ
Thứ tư, do thu nhập của sản phẩm thô biến động. Nguyên nhân của
sự biến động này là do cung và cầu của sản phẩm thô luôn biến động, nó sẽ
tác động đến thu nhập của sản phẩm thô. Do đặc điểm của sản phẩm thô là
độ co giãn của đường cầu sản phẩm thô là rất thấp, trong khi đó cung của
sản phẩm thô có độ co giãn rất cao. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng
doanh thu của sản phẩm thô sẽ giảm mạnh hoặc có tăng thì rất ít cho dù
được mùa hay mất mùa.
2. Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu
Chiến lược thay thế sản phẩm nhập khẩu nhằm đẩy mạnh sự phát triển
các ngành công nghiệp trong nước mà trước hết là các ngành công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, sau đó là các ngành công nghiệp khác nhằm sản
xuất sản phẩm nội địa thay thế các sản phẩm nhập khẩu. Để thực hiện chiến
lược này đòi hỏi phải có những điệu kiện sau:
Thứ nhất, tạo điều kiện để cho các ngành sản xuất trong nước có được
thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng rãi. Do vậy chiến lược này chỉ có thể
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phát huy hiệu quả đối với những nước có dân số tương đối đông.
Thứ hai, các ngành công nghiệp trong nước ban đầu có thể còn nhỏ
bé nhưng phải tạo ra được những yếu tố đảm bảo khả năng phát triển.
Những yếu tố này đòi hỏi phải thu hút vốn và công nghệ của các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.
Thứ ba, chính phủ phải có những chính sách thích hợp. Vì ban đầu khi

liệu không có khả năng phát triển, hạn chế sự hình thành cơ cấu công
nghiệp đa dạng ở đất nước.
Thứ tư là, chiến lược này làm tăng nợ nước ngoàI của các nước đang
phát triển. Do được bảo hộ nên các sản phẩm của sản xuất trong nước
không có khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ trên thị trường quốc tế,
trong khi vẫn phải nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu từ ngoài
làm cho tình trạng nhập siêu của những nước này tăng lên.
3. Chiến lược phát triển hướng ngoại
Trong suốt những năm 50, 60 của thế kỷ trước hầu hết các nước đang
phát triển gặp phải những khó khăn do theo đuổi chiến lược hướng nội.
Đặc biệt là khoản nợ nước ngoài ngày càng gia tăng, nền kinh tế tăng
trưởng chậm, cơ cấu kinh tế mất cân đối. Do vậy, đầu những năm 60 một
số nước đã chuyển hướng chiến lược, đi đầu trong các nước đang phát triển
là những nước NICs. Họ đã thành công trong việc thực hiện chiến lược
hướng ngoại, họ nhận thấy rằng để khắc phục vấn đề nợ nước ngoài, nguồn
tài nguyên và thị trường nhỏ hẹp trong nước chỉ có cách là dựa vào thị
trường quốc tế.
Nội dung của chiến lược hướng ngoại của các nước NICs là sản xuất
những mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nhất những yếu tố có sẵn trong
nước, thực hiện nhất quán chính sách giá cả: giá hàng trong nước phải phản
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ánh sát với hàng trên thị trường quốc tế và phản ánh được sự khan hiếm
của các yếu tố trong nước. ở phần lớn các nước đang phát triển, nguồn lao
động dồi dào trong khi nguồn vốn lại khan hiếm. Chính sách của nhà nước
là tiền lương và các chi phí khác, về nhân công phải thấp và lãi suất phải
cao nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, như vậy
vừa mang lại lợi nhuận, vừa tạo ra công ăn việc làm, góp phần giải quyết
vấn đề thất nghiệp cho đất nước. Do vậy, đối với các nước NICs trong thời
kỳ đầu thực hiện chiến lược hướng ngoại thường tập chung vào sản xuất

ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chiến lược hướng ngoại tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho đất nước.
Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và đầu
tư nước ngoài. Đối với nhiều nước đang phát triển, ngoại thương đã trở
thành nguồn tích luỹ vốn chủ yếu của giai đoạn đầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá. Đồng thời có ngoại tệ làm tăng khả năng nhập khẩu công nghệ,
máy móc thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển của ngành công
nghiệp.
III. Các xu hướng phát triển của thương mại quốc tế có ảnh hưởng tới
xuất khẩu
1. Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền
kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá
diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của khoa học công
nghệ. Đối với những nước đang phát triển và kém phát triển thì hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường tốt để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác và
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có điều kiện để phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong
phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào
tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong mối quan hệ đó, giữa các
quốc gia thành viên có sự giàng buộc theo quy định chung của khối. Nói
cách kháI quát nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực
hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và
tàI chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư
vào các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
giải quyết 6 vấn đề cơ bản:
+ Đàm phán cắt giảm thuế quan
+ Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan

Hai là, lý lẽ tạo nên nguồn “tài chính công cộng”. Theo lý lẽ này, các
loại thuế nhập khẩu là cần thiết để đảm bảo nguồn thu cho chính phủ đáp
ứng các chi phí cho việc cung cấp các hàng hoá công cộng, để tiến hành
việc trả nợ và giải quyết các khoản chi phí khác. Trong các loại thuế khác
nhau đã được áp dụng như thuế doanh thu, thuế thu nhập hay thuế tiêu
dùng, thuế nhập khẩu vẫn ít gây ra méo mó trong hoạt động thương mại
hơn cả và việc thực thi sẽ có nhiều thuận lợi hơn do việc buôn bán quốc tế
được tập trung ở một số cửa khẩu.
Ba là, lý lẽ về khắc phục một phần “tình trạng thất nghiệp” thông qua
việc thực hiện chế độ thuế quan bảo hộ. Theo lý lẽ này, các loại thuế nhập
khẩu đánh vào các sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu sẽ tạo điều kiện để
mở rộng thêm việc sản xuất các loại sản phẩm mới và tạo việc làm cho
người lao động trong nước.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bốn là, lý lẽ về việc thực hiện “ phân phối lại thu nhập” thông qua việc
áp dụng chế độ bảo hộ. Theo lý lẽ này thì, các loại thuế nhập khẩu sẽ làm
dịch chuyển một phần thu nhập của người tiêu dùng giàu có hơn sang cho
những người sản xuất các loại hàng hoá được sản xuất trong nước tương
ứng các hàng hoá nhập khẩu. Điều đó sẽ có lợi về mặt xã hội.
Nhưng chúng ta cần phải hạn chế dần xu hướng này vì nó có thể làm
cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào sự bảo hộ của nhà nước, làm
giảm động lực phát triển của các doanh nghiệp.
IV. Hoạt động về xuất khẩu hàng hoá
1. Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu hàng hoá là quá trình trao đổi hàng hoá qua cửa khẩu của 2
quốc gia và ngoại tệ được dùng làm phương tiện thanh toán.
Đối tượng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm tất cả các
doanh nghiệp, các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất. Riêng khu
công nghiệp có đặc điểm riêng biệt, nó bao gồm khu chế xuất và khu công

làm việc của doanh nghiệp.
Nếu tỷ giá hối đoái tăng lên nghĩa là giá trị của đồng nội tệ giảm xuống
như vậy sẽ khuyến khích xuất khẩu vì cùng với một lượng ngoại tệ thu
được do xuất khẩu có thể đổi được nhiều đồng nội tệ hơn, hàng xuất khẩu
rẻ hơn, dễ cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Và ngược lại, nếu tỷ giá hối
đoái giảm sẽ làm hạn chế xuất khẩu.
2.2. Nhân tố văn hoá- xã hội
Mỗi quốc gia đều có một nền văn hoá khác nhau. Vì vậy, các doanh
nghiệp khi tham gia hoạt động xuất khẩu thì cần phải tìm hiểu văn hoá của
quốc gia đó, tìm hiểu thị hiễu của quốc gia đó. Vì thị trường sẽ quyết định
doanh nghiệp nên sản xuất sản phẩm gì và không nên sản xuất gì. Nếu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
không, doanh nghiệp sẽ đi đến tình trạng hàng hoá ứ đọng không tiêu thụ
được và dẫn đến phá sản.
2.3. Nhân tố môi trường chính trị- pháp luật
Một quốc gia có thể phát triển được thì trước hết phải có một môi
trường ổn định. Sự ổn định chính trị có thể coi là một nhân tố đánh giá sự
rủi ro của nhà đầu tư. Nếu chính trị ổn định tức là độ rủi ro ít, các nhà đầu
tư sẽ mạnh dạn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Nhưng chỉ có chính trị thôI
thì cũng chưa đủ, nếu pháp lụât liên tục có sự thay đổi thì các doanh nghiệp
sẽ không thể thích ứng được với sự thay đổi đó khiến cho nhà đầu tư sẽ gặp
phảI rủi ro cao, nên không khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào sản
xuất. Vì vậy, một trong những điều kiện mà các nhà sản xuất quyết định
tham gia đầu tư sản xuất là sự ổn định về chính trị và pháp luật phải ổn
định, rõ ràng.
2.4. Nhân tố cạnh tranh
Trên thị trường hàng hoá tồn tại rất nhiều nhà doanh nghiệp cùng tham
gia sản xuất. Do vây, các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để có thể
tồn tại và đứng vững trên thị trường. Trong cơ chế thị trường, ngày càng

doanh mặt hàng xuất khẩu nhằm tăng doanh thu và tăng thu nhập. Cũng từ
đó sẽ xuất hiện nhiều hàng hoá bổ xung nhằm cung cấp sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ để ngày càng hoàn thiện hơn cho sản phẩm. Khi nền kinh tế phát
triển ổn định, nó sẽ kéo theo các ngành công nghiệp khác cùng phát triển.
Như vậy, cơ cấu của nền kinh tế sẽ thay đổi cùng với sự phát triển của xã
hội.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.3. Xuất khẩu hàng hoá đối với việc giải quyết việc làm
Hiện nay, số người chưa có việc làm của Việt Nam khá cao. Để giải
quyết việc làm cho những người còn thiếu việc làm và thất nghiệp là một
nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới nhằm ổn định tình hình xã hội. Một
trong những giải pháp được đưa ra là đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Đây
là cơ hội cho những lao động có trình độ thấp làm việc trong những công ty
có sản phẩm xuất khẩu là sản phẩm thô do những hoạt động này cần nhiều
lao động giản đơn. Các mặt hàng được thị trường nước ngoài chấp nhận
càng nhiều thì càng tạo nhiều việc làm cho người lao động trong nước. Do
đó khâu nghiên cứu thị trường để tìm hiểu về nhu cầu sản phẩm của họ là
vấn đề rất quan trọng. Hiện nay, nước ta có một số mặt hàng xuất khẩu mũi
nhọn như là dệt may, thuỷ sản…trong thời gian qua đã có mức tăng trưởng
khá cao và đã thu hút được nhiều lao động vào làm. Với một mức tăng
trưởng của xuất khẩu cao, doanh nghiệp sẽ mở rộng được quy mô sản xuất,
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương II
Thực trạng hoạt động xuất khẩu
mặt hàng kính xây dựng
I. Quá trình hình thành và phát triển của ngành kính xây dựng ở Việt
Nam

2
/h.
Sản phẩm kính dán theo công nghệ Glassrobots OY của Phần Lan. Sản
phẩm gồm các tấm kính được dán sơ bộ với nhau bằng lớp keo PVB ở
nhiệt độ từ 30- 70
0
C, được dán và ép chặt trong thiết bị nồi hấp có áp lực
15 bar, nhiệt độ 150
0
C . Năng suất dây truyền 50- 80 m
2
/h, sản phẩm đạt
tiêu chuẩn DIN EN ISO: 12543- 1998- CHLB Đức.
Sản phẩm kính an toàn được sản xuất theo phương pháp tôi nhiệt trên
hệ thống thiết bị hiện đại của CHLB Đức và Nhật Bản. Sản phẩm kính an
toàn có độ bền gấp 4- 5 lần so với kính thường, chịu những rung động lớn,
va đập mạnh, có độ bền nhiệt cao. Khi vỡ tạo thành những mảnh nhỏ
không sắc cạnh, không gây nguy hiểm cho người sử dụng. Vì vây, sản
phẩm kính an toàn được sử dụng rộng rãi cho các phương tiện giao thông
vận tải: kính ô tô, tàu hoả, tàu thuỷ, cửa sổ nhà cao tầng, kính quan sát
trong các lò công nghiệp…Kính an toàn có nhiều loại: kính cong, kính
phẳng, kính trắng, kính màu, có chiều dày từ 4- 8mm. Chất lượng sản phẩm
đạt tiêu chuẩn Nhật Bản và Châu Âu.
Sản phẩm kính cán và kính kéo ngang là loại kính mới được sản xuất.
Năm 2003, công ty kính Đáp Cầu đã đưa vào vận hành hai dây truyền sản
xuất kính tấm, kính kéo ngang với công suất 100 tấn/ ngày đêm với các
thông số kỹ thuật chủ yếu sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Kính hoa văn trang trí trắng và màu được sản xuất trên dây truyền hiện

2. Vai trò của ngành kính xây dựng trong điều kiện hiện nay
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có sự phát triển khá và ổn
định, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn trên 7%, song song với đó là sự phát
triển của các ngành công nghiệp với tốc độ tăng trưởng khá cao trên 10%,
các ngành công nghiệp kéo nhau cùng phát triển thông qua các “mối liên hệ
ngược” và “mối liên hệ xuôi”.
Theo mục tiêu của Đại hội Đảng IX Việt Nam sẽ trở thành một nước
công nghiệp vào năm 2020. Vì thế cần phải đẩy nhanh công nghiệp hoá đất
nước, ngành công nghiệp phải chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 ngành: công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Nên vai trò của ngành công nghiệp xây
dựng nói chung và ngành công nghiệp kính xây dựng nói riêng là rất quan
trọng. Nhu cầu về kính xây dựng ngày càng cao phù hợp với quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Những sản phẩm của ngành kính như:kính bảo ôn,
kính an toàn, kính cán,…cùng với kiến trúc hiện đại sẽ tạo ra những công
trình nguy nga tráng lệ, tạo nên một diện mạo mới cho đất nước. Không
những vậy nó còn bảo vệ ngăn cản tiếng ồn, tăng khả năng cách nhiệt, tiết
kiệm năng lượng, bảo vệ an toàn cho công trình và con người. Vì vậy, nhu
cầu về kính xây dựng ngày càng cao. Để phục vụ cho sự phát triển, sản
phẩm kính sẽ thay thế dần cho các nguyên liệu như gỗ. Đây là những yếu
tố thúc đẩy ngành sản xuất kính phát triển. Các công ty trong nước cần phải
nắm bắt được cơ hội này để mở rộng sản xuất và phục vụ thị trường trong
và ngoài nước.
II. Thực trạng xuất khẩu mặt hàng kính xây dựng và gốm sứ thuỷ tinh.
1. Các mặt hoạt động của công ty
1.1. Chiến lược Marketing
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật và công nghệ có
những bước phát triển nhanh chóng, cùng với sự bùng nổ của công nghệ
thông tin và sức ép gay gắt của cạnh tranh thị trường, sự tồn tại của doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status