LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động không thể thiếu cho nên kinh tế của một đất nước và có sự
ảnh hưởng to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống con người. Bản thân hoạt động này luôn tiềm ẩn những
rủi ro, đặc biệt đối với các Tổ chức tín dụng, Nhà nước luôn có những chính sách ưu đãi và đảm bảo cho
các loại hình này được giảm thiểu rủi ro và cân bằng vốn lưu động trong ngày, nâng cao khả năng thanh
toán. Hiện pháp luật Ngân hàng Việt Nam qui định không chỉ riêng Ngân hàng Nhà nước mà các tổ chức
tín dụng cũng được phép thực hiện các hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá. Hiện nay vai trò của hoạt động
này ngày càng được thể hiện rõ nét. Bản thân nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ có qui
trình đơn giản nhanh chóng và tốn ít chi phí giao dịch cho các bên, đồng thời nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ
có giá là một hoạt động hạn chế rủi ro cho các tổ chức pháp nhân thực hiện các hoạt động ngân hàng,
hoạt động này không những không làm đóng băng vốn của các ngân hàng mà còn giúp các ngân hàng sử
dụng có hiệu quả và linh hoạt hơn nguồn vốn của mình. Hơn nữa sự cung ứng vồn trong hoạt động chiết
khấu sẽ tạo ra nguồn tiền gửi- một nguồn vốn mới cho khách hàng để cho vay, đây chính là lí do mà các
ngân hàng hoặc các tổ chức có hoạt động ngân hàng rất chú trọng thực hiện hoạt động chiết khấu giấy tờ
có giá hơn các kỹ thuật tín dụng khác. Đồng thời đối với bên được chiết khấu cũng nhận được những lợi
ích rõ ràng khi tham gia vào hoạt động này. Quyền lợi mà bên nhận chiết khấu có thể nhận được từ hoạt
động này đó là họ có thể sư dụng hình thức chiết khấu giấy tờ có giá như một hình thức lưu hoạt hóa
nguồn vốn kinh doanh của mình, chiết khấu sẽ giúp họ có thể biến những khoản nợ trên giấy tờ thành tiền
trước thời hạn thanh toán, giúp họ giải quyết kịp thời nhu cầu vốn, đồng thời bên nhận chiết khấu không bị
ràng buộc bởi mục đích sử dụng số tiền chiết khấu như những hoạt động tín dụng khác. Như vậy hoạt
động chiết khấu giấy tờ có giá không những mang lại cho cả các bên tham gia chiết khấu những lợi ích
không thể phủ nhận được.
Hiện nay pháp luật ngân hàng cũng như pháp luật khác liên quan đã có những qui định khá cụ thể
và chi tiết về qui chế thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, đặc biệt là việc ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam năm 2010 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì đã kịp thời khắc phục, bổ sung những hạn
chế của các qui định của pháp luật cũ. Hiện pháp luật có qui định về hình thức của hoạt động chiết khấu
giấy tờ có giá là phải bằng hợp đồng và thể hiện bằng văn bản nhưng hiện vẫn chưa có một qui định cu
thể nào về các loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Bài luận của em dưới đây sẽ đi vào phân tích, làm
rõ vấn đề “Các loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá”.
I ) KHÁI QUÁT CHUNG.
1. Chiết khấu giấy tờ có giá .
dựa chủ yếu trên cơ sở nguồn vốn là tiền gửi( đối với các tổ chức tín dụng) hoặc ngân sách Nhà nước
( đối với Ngân hàng Nhà nước).
Đối tượng của chiết khấu giấy tờ có giá là những giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, và lưu ý
giá bán của các giấy tờ có giá bao giờ cũng thấp hơn giá trị của giấy tờ có giá được mua.
Đồng thời theo qui định trong cả Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và Luật các Tổ
chức tín dụng thì việc chiết khấu giấy tờ có giá đều phải thể hiện dưới hính thức văn bản và phải thực
hiện dưới hình thức hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá. Mọi hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của các
chủ thể trên đều phải tuân theo những nguyên tắc chung của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng.
2. Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá
2.1.Khái niệm về Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
Hiện nay hiện chưa có một văn bản pháp lí nào qui định cụ thể “thế nào là hợp đồng chiêt khấu giấy
tờ có giá” nhưng xuất phát từ những đặc trưng chung của hợp đồng cũng như bản chất của hoạt động
chiết khấu giấy tờ có giá mà em sẽ khái quát thành một khái niệm bao quát như sau: Hợp đồng chiết khấu
giấy tờ có giá là là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên nhận chiết khấu( ngân hàng nhà nước hoặc tổ
chức tín dụng) với khách hàng có nhu cầu chiết khấu ( tổ chức tín dụng hoặc các cá nhân tổ chức) mà
theo đó bên nhận chiết khấu đã thỏa thuận sẽ mua giấy tờ có giá của bên khách hàng trước kỳ hạn thanh
toán với điều kiện khấu trừ ngay một số tiền nhất định tính theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ
có giá được chiết khấu, tái chiết khấu trong thời gian chiết khấu, tái chiết khấu.
Dựa trên định nghĩa trên thì ta nhận thấy bản chất của hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá khá giống
nhưng không phải là hợp đồng tín dụng nếu xét về phương diện kinh tế cũng như pháp lí. Có điều trên vì
ta thấy hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hợp đồng được tồn tại trên cơ sở nhu cầu cấp tín dụng cho
khách hàng có nhu cầu nhưng thực tế hợp đồng chiết khấu là hợp đồng phát sinh từ hoạt động chiết khấu
giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng nên bản chất pháp lí của nó là mua bán giấy tờ có giá hay nói thực tế
là mua bán các trái quyền dân sự, trong khi bản chất pháp lí cảu hợp đồng tín dụng đó là hợp đồng vay tài
sản.
Trong giao dịch này pháp luật qui định phải được xác lập bắt buộc do một bên nhận chiết khấu là tổ
chức được phép hoạt động ngân hàng với bên nhận chiết khấu là tổ chức, cá nhân có nhu cầu..pháp luật
qui định hợp đồng chiết khấu phải được lập bằng văn bản và có các nội dung, điều khoản phù hợp với các
qui định của pháp luật cũng như hợp đồng mẫu do Hiệp hội ngân hàng ban hành.
Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là hình thức pháp lí của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá với
các thành phần là bên nhận chiết khấu và bên được chiết khâu.
Ta nhận thấy hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ
chức tín dụng là một hoạt động tái cấp vốn mà một đặc điểm chung của hai chủ thể này đó là đều là những
chủ thể có thẩm quyền chiêt khấu giấy tờ có giá, đều được thực hiện hoạt động ngân hàng một cách hợp
pháp. Đối với hoạt động này thì việc xác định tính hợp pháp về tư cách chủ thể sẽ đơn giản hơn nhiều so
với hoạt động cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng với khách hàng. Sở dĩ có điều đó vì mọi hoạt động của
hai chủ thể này đều chịu sự chẽ của pháp luật ngân hàng do đó công tác quản lí là rất chặt chẽ nên thủ tục
để thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá sẽ khá đơn giản. Trong hoạt động này thì bên nhận chiết
khấu (tức ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đương nhiên được quyền chiết khấu với mục đích thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia và tái cấp vốn; còn bên được chiết khấu (các tổ chức tín dụng) nhằm mục đích
hỗ trợ vốn ngắn hạn..
Đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá giữa Tổ chức tín dụng với khách hàng thì chủ thể của
hợp đồng sẽ phức tạp hơn. Đối với bên nhận chiết khấu (tổ chức tín dụng) phải thảo mãn những điều kiện
nhất định do pháp luật qui định khi thực hiện hoạt động chiết khấu, mà cụ thể là những điều kiện sau:
+ Thứ nhất tổ chức tín dụng phải có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
+ Thứ hai để được tiến hành hoạt động kinh doanh Tổ chức tín dụng phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh
doanh nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá.
+ Thứ ba Tổ chức tín dụng phải có Điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y. Bản điều lệ cũng chính là
một trong những điều kiện pháp lí cơ bản phản ánh các yếu tố cấu thành năng lực pháp lí của Tổ chức tín
dụng khi hành nghề trong lĩnh vực ngân hàng.
+ Thứ tư, đòi hỏi Tổ chức tín dụng phải có người đại diện có thẩm quyền và hợp pháp.
Đối với bên được chiết khấu pháp luật cũng có những qui định riêng biệt như sau: Bên được chiết
khấu trong mối quan hệ tín dụng này là các tổ chức cá nhân có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có gia của mình
tại tổ chức tín dụng, hiện nay khách hàng muốn được chiết khấu thì phải đáo ứng đầy đủ những điều kiện
sau: chủ thể xin chiết khấu phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đồng thời giấy tơ có
giá phải có đủ tiêu chuẩn theo qui định của pháp luật.
2.4. Nội dung của Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
Nói đến nội dung của Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá là nói đến những cam kết mà các bên đã
thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng này, các cam kết đó chính
- Nghĩa vụ của bên chiết khấu.
+ nghĩa vụ thanh toán khoản tiền mua giấy tờ có giá đưuọc chiết khấu cho khách hàng.
+ Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại vật chất đã xảy ra đối với khách hàng được chiết khấu khi có hành vi gây
thiệt hại do lỗi của bên nhận chiết khầu trong khi thực hiện hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.
*) Bên được chiết khấu
- Quyền của bên được chiết khấu.
+ Quyền yêu cầu bên nhận chiết khấu giấy tờ có giá trả tiền mua giấy tờ có giá theo giá cả đã thỏa thuận
trong hợp đồng sau khi đã chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho bên nhận chiết khấu.
+ Quyền khiếu naị và khởi kiện đối với bên nhận chiết khấu về các hành vi vi phạm hợp đồng của chủ thể
này để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình..
+ Quyền được yêu cầu bên nhận chiết khấu bồi thường cho mình trong các trường hợp bên nhận chiết
khấu gây thiệt hại khi thực hiện hợp đồng.
- Nghĩa vụ của bên được chiết khấu.
+ Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá được chiết khấu cho bên nhận chiết khấu theo qui
định của pháp luật.
+ Nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu hợp pháp của bên nhận chiết khấu.
2.6. Hiệu lực của hợp đồng.
Hiệu lực của hợp đồng này thường là thời điểm mà các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản hợp
đồng và bên sau cùng ký tên đóng dấu. Hợp đồng có thể coi là vô hiệu khi có sự vi phạm các qui định của
pháp luật. Hợp đồng chiết khấu bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi mục đích, nội dung và hình thức của hợp
đồng vi phạm các qui định của pháp luật, trái với hợp đồng mẫu của Hiệp hội ngân hàng ban hành và đạo
đức xã hội- đối với trường hợp này hiệu lực của hợp đồng không phát sinh từ thời điểm kí kết mà các bên
phục hồi lại hợp đồng theo đúng tình trạng ban đầu trước khi kí kết. Hợp đồng bị coi là vô hiệu tương đối
trong trường hợp khi chủ thể không có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc hợp đồng được kí kết không tự
nguyện và đồng thuận giữa các bên kí kết. Hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu khi có yêu cầu của các bên và
cách xử lí cũng tương tự như trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu tuyệt đối.
II) Các loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá
Như trên đã nói chiết khấu giấy tờ có giá là một nghiệp vụ mua lại giấy tờ có giá từ người thụ hưởng
trước khi đến hạn thanh toán. Hoạt động chiết khấu này. Hoạt động chiết khấu mang lại những lợi ích khá
thực tế, cụ thể về phía bên được chiết khấu họ có thể chuyển đổi giấy tờ có giá thành tiền nhanh nhất, còn
Về thời hạn chiết khấu của loại hợp đồng này thì theo qui định tại Điều 4 Quy chế chiết khấu ban
hành kèm theo Quyết định số898/2003/QĐ-NHNN thì: “Điều 4. Hình thức chiết khấu: 1. Chiết khấu toàn bộ
thời hạn còn lại của giấy tờ có giá: Ngân hàng Nhà nước mua hẳn giấy tờ có giá của các ngân hàng theo
giá chiết khấu. 2. Chiết khấu có kỳ hạn: Ngân hàng Nhà nước chiết khấu kèm theo yêu cầu ngân hàng cam
kết mua lại toàn bộ giấy tờ có giá đó sau một thời gian nhất định. Kỳ hạn chiết khấu tối đa là 91 ngày”. Như
vậy theo qui định này Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể mua hẳn các giấy tờ có giá của các tổ chức
tín dụng có nhu cầu chiết khấu hoặc có thể chiết khấu theo kỳ hạn, mà kỳ hạn đó tối đa là 91 ngày kể từ
chiết khấu giấy tờ có giá (tức ngày tổ chức tín dụng tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng giấy tờ có
giá cho Ngân hàng Nhà nước).
Một đặc biệt nữa là trong mối quan hệ này có thể Ngân hàng Nhà nước đi mua lại chính giấy tờ có
giá do mình phát hành từ bên nhận chiết khấu là chủ thể có quyền hoạt động ngân hàng và quyền phát
hành giấy tờ có giá. Tuy nhiên trong trường hợp này giấy tờ có giá vẫn phải đảm bảo các tiêu chuẩn như
đã nêu ở phần trên, và trách nhiệm bồi thường vật chất khi có vi phạm xảy ra vẫn được đảm bảo. Đối
tượng chiết khấu trong hợp đồng này bao gồm: “Điều 5. Các giấy tờ có giá được chiết khấu
1. Các giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu bao gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc,
tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy
định trong từng thời kỳ.
2. Các loại giấy tờ có giá nêu tại khoản 1 của điều này được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu khi có đủ các
điều kiện sau:
a. Trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá: Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có
giá là 91 ngày;
b. Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn: Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng
Nhà nước chiết khấu;
c. Các giấy tờ có giá được phát hành bằng đồng Việt Nam (VNĐ) và có thể chuyển nhượng được.” Về mức
chiết khấu, các chi phí chiết khấu se được tính theo qui định tại Điều 6 Quy chế chiết khấu ban hành kèm
theo Quyết định số898/2003/QĐ-NHNN.
*) Đối với hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá giữa Tổ chức tín dụng với khách hàng.