1
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan lý thuyết
1.1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của hiệu quả kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm
Từ trước đến nay vẫn tồn tại rất nhiều những quan điểm khác nhau về hiệu quả sản
xuất kinh doanh:
- Theo nhà kinh tế học người Anh Adam Smith thì: Hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Như vậy, hiệu quả đồng nghĩa với
chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Doanh thu có thể tăng do mở rộng sử
dụng các nguồn lực sản xuất có hiệu quả. Quan điểm này không phù hợp với thực tiễn.
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến doanh thu mà còn
phải quan tâm đến chi phí. Khi kinh doanh, nếu đạt được mức doanh thu lớn nhưng chi
phí bỏ ra quá cao, có thể cao hơn doanh thu thì không một doanh nghiệp nào muốn.
Như vậy, không thể coi doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là khi có doanh thu thật cao.
- Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra
là qua điểm của Manfred - Kuhn. Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị
kinh doanh áp dụng.
- Hiệu quả kinh tế thương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội
trong lĩnh vực thương mại thông qua những chỉ tiêu đặc trưng kinh tế- kỹ thuật được,
xác định bằng tỉ lệ so sánh giữa các đại lượng phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực
đưa vào trong kinh doanh thương mại [1, tr.454].
- Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn các phương
án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con người ở mọi lĩnh vực, mọi thời điểm.
Bất kì một quyết định nào cũng cần được một phương án tốt nhất trong điều kiện cho
phép là giải pháp thực hiện có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của
quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể.
được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Xét về mặt đinh lượng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện mối quan hệ
tương quan giữa kết quả thu được và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện được
kết quả theo hướng tăng thu giảm chi. Phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực
chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu
tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp. Xét theo mục đích cuối cùng
Thang Long University Library
3
thì hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với lợi nhuận.
- Về mặt tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh được tính như sau :
H = K- C
H: Là hiệu quả sản xuất kinh doanh
K: Kết quả đạt được
C: Chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào
- Còn so sánh về mặt tương đối thì:
H = K/C
Do đó để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả, thì
kết quả là cơ sở để ta tính hiệu quả và hai đại lượng này tỷ lệ thuận với nhau. Kết quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường là đại lượng có khả năng cân, đo, đong,
đếm được như số sản phẩm tiêu thụ, doanh thu bán hàng, thị phần, lợi nhuận, Như
vậy kết quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu đứng trên
góc độ từng yếu tố riêng lẻ để xem xét, thì hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện trình
độ, khả năng khai thác các yếu tố trong quá trình sản xuất, nó thể hiện ảnh hưởng của
từng yếu tố đó đến kết quả cuối cùng của sản xuất kinh doanh.
Xét về mặt định tính: hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện trình độ, khả năng
tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp. Nếu tổ chức sản xuất tốt và khả năng
quản lý cao thì doanh nghiệp có thể đảm bảo mua được các yếu tố đầu vào đủ về số
lượng, chất lượng tốt, đúng thời gian và giá cả hợp lý. Đồng thời doanh nghiệp có thể
riêng về tài nguyên, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức, quản lý lao động,
quản lý kinh doanh mà Paul Samuelson gọi đó là “hộp đen” kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Bằng khả năng của mình họ cung ứng cho xã hội những sản phẩm với chi phí
cá biệt nhất định và nhà kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hóa của mình với số
lượng nhiều nhất. Tuy nhiên, thị trường hoạt động theo quy luật riêng của nó và mọi
doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường là phải chấp nhận “luật chơi” đó. Một trong
những quy luật thị trường tác động rõ nét nhất đến các chủ thể của nền kinh tế là quy
luật giá trị. Thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí trung bình xã hội cần thiết để sản
xuất ra một đơn vị hàng hóa sản phẩm. Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp
với mức chi phí cá biệt khác nhau trên một mặt bằng trao đổi chung, đó là giá cả thị
trường. Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng đối với mỗi
doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thì chi phí lao động xã hội
đó lại được thể hiện dưới các dạng chi phí khác nhau: giá thành sản xuất, chi phí sản
xuất bản thân mỗi loại chi phí này lại được phân chia một cách tỷ mỷ hơn. Vì vậy, khi
đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại
Thang Long University Library
5
chi phí trên, đồng thời cần thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí hay nói
cách khác là đánh giá hiệu quả của chi phí bộ phận.
Hiệu quả tƣơng đối và hiệu quả tuyệt đối
- Hiệu quả tương đối: Được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối
với nhau, hay chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các thời kì kinh
doanh.
- Hiệu quả tuyệt đối: Lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án kinh doanh
cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra.
1.1.1.3. Vai trò của hiệu quả kinh doanh
Là một chỉ tiêu tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nhau, vai trò của hiệu quả kinh doanh
cũng có ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh.
Đối với doanh nghiệp: Hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh là điều kiện quan
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở căn bản đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh
doanh.
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố cơ bản tạo nên thành công cho doanh
nghiệp trong quá trình hoạt động.
Như chúng ta đã biết, trong thực tế mọi nguồn lực đưa vào sản xuất kinh doanh đều có
giới hạn. Không có nguồn lực nào là vô tận, tất cả đều là hữu hạn. Chính vì thế, nếu
chúng ta sử dụng nguồn nhân lực một cách lãng phí, không tiết kiệm thì chúng sẽ
nhanh chóng trở nên cạn kiệt và biến mất. Trong khi đó, dân số thế giới ngày càng
tăng làm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn và không có giới hạn. Do vậy, nguồn
lực, của cải đã khan hiếm nay lại càng khan hiếm hơn. Trong điều kiện đó việc nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề hàng đầu đối với bất kì hoạt động sản
xuất kinh doanh nào. Mọi doanh nghiệp khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh
đều phải cân nhắc các phương án kinh doanh, xem phương án nào có hiệu quả hơn vì
nguồn nhân lực của doanh nghiệp như vốn, lao động. Kĩ thuật đưa vào sản xuất kinh
doanh đều có giới hạn, nếu không tiết kiệm đầu vào doanh nghiệp chắc chắn sẽ dẫn tới
thua lỗ, phá sản. Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp
phải chấp nhận cạnh tranh với nhau và những ngành nghề nào, thị trường nào càng có
mức lợi nhuận cao thì cạnh tranh càng gay gắt, quyết liệt hơn.
Sản xuất kinh doanh có hiệu quả - điều kiện sống còn của các doanh
nghiệp
Trong cơ chế thị trường các chủ thể thường cạnh tranh với nhau rất gay gắt để
đảm bảo cho sự sinh tồn của mình, vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn luôn
Thang Long University Library
7
linh hoạt để tìm hướng đi riêng cho mình. Có những doanh nghiệp đi lên bằng việc tìm
mọi cách triệt hạ các đối thủ, trốn lậu thuế, làm ăn phi pháp Những doanh nghiệp
này thường chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, bởi vì xét trên phương diện đạo đức họ đã
8
xuất: Trình độ lợi dụng các nguồn lực càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra
kết quả trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn tốc độ
tăng chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào. Như vậy, thông qua xem xét hiệu quả sản
xuất kinh doanh, các nhà quản trị có thể kiểm soát được công việc kinh doanh của
doanh nghiệp mình bằng việc so sánh, đánh giá, phân tích kinh tế nhằm tìm ra các giải
pháp tối ưu, đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn để đạt được mục tiêu bao trùm
cuối cùng là lợi nhuận.
Tóm lại, qua tất cả các vấn đề trên cho thấy rằng sản xuất kinh doanh có hiệu
quả là cần thiết, là mục tiêu kinh tế tổng hợp cần đạt được trong mỗi kỳ kinh doanh
của bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3.1. Nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong thể hiện tiềm lực của doanh nghiệp. Cơ hội, chiến lược kinh
doanh, hiệu quả kinh doanh đều có sự phụ thuộc chặt chẽ bởi chúng. Các yếu tố này
không phải là bất biến mà có thể mạnh lên hay yếu đi ở từng thời điểm, có thể thay đổi
toàn bọ hay bộ phận.
- Nhân tố vốn: Đây là nhân tố phản nánh tổng hợp sức mạnh của doanh nghiệp thông
qua chất lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào quá trình kinh doanh,
khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả nguồn vốn cũng như khả năng quản lý nguồn
vốn kinh doanh. Vốn là yếu tố ảnh hưởng lớn nếu không muốn nói là quyết định đến
quy mô của doanh nghiệp và quy mô có thể khai thác được. Nó phản ánh sự phát triển,
hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
- Nhân tố con người: Trong tất cả các lĩnh vực, yếu tố con người luôn nắm vai trò quan
trọng và góp phần tạo ra sự khác biệt. Hoạt động sẩn xuất kinh doanh cũng coi con
người là nhân tố hàng đầu để đảm bảo thành công. Dù máy móc, công nghệ có hiện
đại, phát triển đến đâu thì cũng phải phù hợp với trình độ, kỹ thuật của con người.
Trong quá trình lao động, con người sáng tạo ra các thiết bị, công nghệ mới phục vụ
cho hoạt động của mình nhằm nâng cao năng suất lao động.
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ: Trình độ kỹ thuật, công nghệ cho phép doanh nghiệp
1.1.3.2. Nhân tố bên ngoài
Mỗi một chủ thể hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối của môi trường
bao quanh nó. Đó là tổng hợp các yếu tố có tác động gián tiếp hay trực tiếp có tác
động qua lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này ảnh hưởng tới xu hướng, trạng thái
hành động của chủ thể. Các nhân tố này luôn biến đổi, vì vậy làm cho hiệu quả kinh
doanh trở nên phức tạp. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh, các nhà quản trị cần phỉa
nắm bắt và phân tích được ảnh hưởng của từng nhân tó tác động trong từng thời kì
kinh doanh cụ thể.
10
- Đối thủ cạnh tranh: Bao gồm cả đối thủ cạnh tranh trực tiếp (cùng hoạt động sản xuất
kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đồng nhất) và đối thủ cạnh tranh gián tiếp
(các đối thủ mà chưa thực hiện kinh doanh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt
động). Nếu đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Lúc này, để cạnh tranh, doanh nghiệp chỉ có cách
đẩy mạnh việc “ thay đổi mình”: hạ giá thành, nâng cao chất lượng để tăng lượng tiêu
thụ, tăng vòng quay vốn,…
- Thị trường: Thị trường bao gồm cả thị trường đầu ra và thị trường đầu vào. Đối với
thị trường đầu vào - cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất… tác động trực tiếp
đến giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp phải kiểm soát để có nguồn cung ứng liên tục,
kịp thời và chất lượng đảm bảo cho hoạt động sản xuất được liên tục. Với thị trường
đầu ra, quyết định đến doanh thu của doanh nghiệp. Trên cơ sở tiếp nhận các hàng hóa,
dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, thị trường đầu ra quyết định tốc độ tiêu thụ tạo ra
vòng quay vốn nhanh hay chậm, tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Tập quán dân cư và mức thu nhập bình quân: đây là yếu tố tác động đến số lượng,
mẫu mã, chất lượng… của hàng hóa. Doanh nghiệp phải nghiên cứu những yếu tố này
để sản xuất cho phù hợp với sức mua, thói quen mua sắm và mức thu nhập của người
dân.
- Môi trường chính trị - luật pháp: Các yếu tố này chi phối mạnh mẽ đến hoạt động sản
xuất kinh doanh. Sự ổn định về chính trị tạo ra môi trường thuận lợi, tạo tiền đề cho
Cơ sở phân tích
- Bảng cân đối kế toán: Là báo cáo tài chính tổng hợp dùng để phản ánh tổng quát toàn
bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo
được lập. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán, có thể biết được toàn bộ tài sản hiện có của
của doanh nghiệp, cơ cấu vốn cũng như cơ cấu tài sản.
- Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả trong một kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá định lƣợng
1.2.1.1. Chỉ tiêu tổng quát
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách chính xác và dùng để so sánh
giữa các doanh nghiệp với nhau cũng như trong chính doanh nghiệp qua từng thời kì
để xem doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không.
- Khả năng sinh lời so với doanh thu (ROS): Tỉ số này đo lường khả năng sinh lời so
với doanh thu. Phản ánh một đồng doanh thu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỉ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành và có xu hướng ngược
với vòng quay tài sản. Cả nhà quản lý và nhà đầu tư đều nghiên cứu kỹ về xu hướng tỷ
12
lệ lợi nhận trên doanh thu. Nếu tỷ lệ càng tăng, chứng tỏ khách hang chấp nhận mua
giá cao, hoạc cấp quản lý kiểm soát chi phí tốt, hoặc cả hai. Trái lại, tỷ lệ lợi nhuận
trên doanh thu giảm có thể báo hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát của cấp quản lý,
hoặc công ty đó đang phải chiết khấu để bán sản phẩm hay dịch vụ của mình. Khuyến
khích các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phi nhưng để đảm bảo có hiệu quả
thì tốc độ tăng doanh thu phải lớn hơn tốc độ tăng chi p
Khả năng sinh lời so với doanh thu =
- Khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Phản ánh một đồng tài sản mà doanh
nghiệp huy động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. ROA phụ
thuộc vào mùa vụ và ngành nghề kinh doanh. ROA liên quan đến lợi nhuận ròng và
vốn đầu tư trong tất cả các nguồn tài chính nằm trong tay cấp quản lý. Công cụ này tỏ
hiệu quả và ngược lại.
1.2.1.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH
- Sức sản xuất của TSNH:
Sức sản xuất của TSNH =
Sức sản xuất vốn lưu động cho biết một đồng TSNH đưa vào sử dụng sản xuất kinh
doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
- Sức sinh lợi của TSNH:
Sức sinh lợi của TSNH =
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSNH được đưa vào sản xuất tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận thuần.
- Tốc độ luân chuyển của TSNH:
+ Số vòng quay TSNH:
Số vòng quay TSNH =
Chỉ tiêu này cho biết TSNH quay được bao nhiêu vòng trong kỳ, nếu số vòng quay cao
và tăng thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn NH tăng và ngược lại. Một tên gọi khác
thường gọi hơn của chỉ tiêu này là hệ số luân chuyển.
14
+ Thời gian của một vòng luân chuyển:
Thời gian của một vòng luân chuyển =
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để quay một vòng của tSNH. Thời gian của một
vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn và rút ngắn chu kỳ kinh
doanh, vốn quay vòng có hiệu quả hơn.
+ Hệ số đảm nhiệm TSNH:
Hệ số đảm nhiệm TSNH =
Chỉ tiêu này cho biết, để có một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng TSNH. Hệ số
này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng cao thì số vốn tiết kiệm được càng
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực thanh toán tổng thể của doanh nghiệp trong kỳ kinh
doanh. Nó cho biết một đồng vay nợ thì có bao nhiêu đồng đảm bảo.
+ Nếu khả năng thanh toán >1: Đây là một điều tốt, tuy nhiên nếu lớn hơn 1 quá nhiều
thì lại cho thấy doanh nghiệp chưa tận dụng được tối đa khả năng chiếm dụng vốn.
+ Nếu khả năng thanh toan <1: tổng tài sản hiện có không đủ để thanh toán các khoản
nợ. Nếu cứ tiếp tục <1 và khoảng cách ngày càng lớn thì cho tín hiệu không tốt, doanh
nghiệp có thể đang trên đà phá sản do vốn CSH bị mất toàn bộ.
- Khả năng thanh toán (Hn): Đây là chỉ tiêu phản ánh năng lực thanh toán của doanh
nghiệp không không dựa vào việc bán các lợi vật tư hàng hóa. Tùy theo mức độ của
việc thanh toán nợ, hệ số này có thể được xác định bằng 2 cách:
Khả năng thanh toán =
Khả năng thanh toán =
+ Nếu Hn > 1: Tình hình thanh toán nợ không tốt do tiền và các khoản tương đương
tiền nhiều, vòng quay vốn chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
+ Nếu Hn < 1: tình hình thanh toán nợ có nhiều khó khan.
+ Nếu Hn = 1: Được cho là tỷ lệ hợp lý vì nó cho thấy doanh nghiệp vừa đảm bảo
được việc trả nợ vừa tận dụng được cơ hội do chiếm dụng vốn đem lại.
- Hệ số thanh toán lãi vay:
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định. Nguồn để trả nợ là lợi nhuận sau khi trừ
đi các chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng. So sánh giữa nguồn trả nợ
16
vay và số lãi va phải trả để xem mứ độ sẵn sàng trả nợ vay của doanh nghiệp là như
thế nào.
Hệ số thanh toán lãi vay =
Chỉ tiêu cho thấy khả năng đảm bảo vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hiệu
quả của việc sử dụng vốn.
- Các chỉ tiêu hoạt động:
+ Số quay vòng khoản phải thu:
Toàn Cƣơng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Ngày 15/01/2006: Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng và Thương mại Toàn Cương
được ra đời và chính thức đi vào hoạt động với số vốn điều lệ ban đầu là
50.000.000.000đ (Năm mươi tỷ đồng) theo quyết định của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Bắc Giang. Thời điểm này, Công ty hoạt động theo phương pháp tự quản lý, tự bỏ vốn
hạch toán độc lập, luôn đáp ứng đủ yêu cầu mà Nhà nước đề ra đối với loại hình Công
ty cổ phần, Công ty mới ra đời nhưng đã biết nắm bắt thị trường, triển khai những
chiến lược kinh tế, theo các phương án kinh doanh phù hợp như đào tạo công nhân
lành nghề, tuyển dụng các cán bộ nhân viên có nghiệp vụ vững vàng, có ý thức chấp
hành kỷ luật cao, năng động sáng tạo trong công việc, luôn chịu khó học hỏi, tiếp thu
khoa học kỹ thuật mới, áp dụng thực tế vào công việc. Vì vậy, Công ty đã từng bước
hoà nhập vào thị trường, chủ động được trong việc kinh doanh, tiếp cận khách hàng,
chất lượng tốt tạo uy tín đối với khách hàng.
Giai đoạn từ cuối năm 2010 cho đến nay: Với những khó khăn sớm nhận được,
Ban lãnh đạo Công ty đã huy động mọi nguồn lực và năng lực của mình, đề ra các
chiến lược kinh doanh, đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, trang bị thêm nhiều máu
móc, phương tiện vận tải, thiết bị hiện đại, cải thiện điều kiện lao động cho công nhân,
phát huy tính tự chủ dáng tạo của cán bộ nhân viên, mở rộng thị trường, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành và đã có những thành công nhất định. Trải qua những giai đoạn
khó khăn, Công ty luôn có sự vận động để phù hợp với xu hướng phát triển chung.
Quan trọng nhất là công ty đã nâng vốn điều lệ từ 50.000.000.000đ (Năm mươi tỷ
đồng) lên thành 60.000.000.000đ (Sáu mươi tỷ đồng) trong năm 2012 để tiếp tục và
đầu tư cho sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường. 18
toàn, tiến độ thi công các công trình của toàn công ty. Tham gia nghiên cứu tính toán
các công trình đấu thầu, khảo sát, thiết kế, tính khối lượng sửa chữa nâng cấp các công
Giám đốc
Phó giám đốc
phụ trách kinh
tế
Phó giám đốc phụ
trách kế hoạch
tiếp thị
Phó giám đốc
phụ trách dự án
Phó giám đốc kĩ
thuật
Phòng
kĩ thuật thi
công cơ điện
Phòng kế
toán tài
chính
Phòng
dự án, đấu
thầu
Phòng
hành
chính
Phòng
kế hoạch Các đội xây dựng, sản xuất và xây lắp
hợp nhưng chất lượng tay nghề cao, đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất kinh doanh khắt khe
của công ty. Các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật đều có trình độ đại học, cao đẳng.
Lực lượng lao động có trình độ Đại học luôn đạt tỷ lệ cao điều này là do sản phẩm của
Công ty là sản phẩm chất xám, yêu cầu về trí tuệ cao, lực lượng lao động có trình độ
Cao đẳng và Trung cấp là lực lượng lao động phổ thông như lễ tân, lái xe, bảo vệ.
20
Bảng 2.1: Lực lƣợng lao động theo trình độ chuyên môn
ĐVT: Người
Nội dung
Năm 2012
Năm 2013
Số lƣợng
%
Số lƣợng
%
Đại học
59
38,3
63
39,6
Cao đẳng và Trung cấp
95
61,7
96
60,4
Tổng cộng
154
100
159
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch 2013/2012
2012
2013
Tuyệt đối
Tƣơng
đối
(%)
1. Tổng doanh
thu
21.290.012.141
23.266.674.921
1.976.662.780
9,28
2. Tổng chi phí
1.281.337.125
3.116.143.929
354.806.804
27,69
Chi phí bán hàng
0
0
0
0
Chi phí quản lý
700.092.439
2.343.646.278
1.643.553.839
234,7
50.683.392
15.728.762
(34.954.630)
(68,96)
(Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán)
Tổng doanh thu
Theo bảng số liệu trên, nhận thấy liên tục trong 2 năm, tổng doanh thu có mức
tăng đáng kể. Năm 2012 là 1.976.662.780 tương ứng với 9,28%. Tổng doanh thu tăng
cho thấy, một lượng bán hàng của doanh nghiệp tăng và hai giá cả bán hàng hóa dịch
vụ tăng. Hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây cho thấy rõ ràng
có hiệu quả tuy nhiên chỉ dựa vào mức tăng của tổng doanh thu thì chưa thể kết luận
so với những năm trước đây, công ty có thực sự có hoạt động hiệu quả hơn hay không.
22
Đơn vị tính: Đồng
0
5000000000
10000000000
15000000000
20000000000
25000000000
2010 2011 2012 2013
Tổng doanh thu
Biểu đồ 2.1: Tổng doanh thu năm 2012, 2013 của công ty
Doanh thu thuần
Tại công ty không phát sinh các khoản giảm trừ (hàng bị trả lại, thuế TTĐB,
3500000000
2010 2011 2012 2013
Tổng chi phí
Biểu đồ 2.2: Tổng chi phí năm 2012, 2013 của công ty
Quan sát bảng số liệu, có thể nhận thấy tổng chi phí của năm 2013 đã có sự thay
đổi tích cực so với năm 2012 (giảm 354.806.804 đồng tương đương 27,69%). Các loại
TSCĐ phục vụ cho việc bán hàng đến do đã khấu hao hết giá trị. Công ty làm ăn có
lãi, việc chi trả các chi phí lãi vay được thanh toán đúng hạn. Ngoài ra, nguyên nhân
các chi phí giảm do chính sách cắt giảm chi tiêu trong thời kỳ khó khăn, lạm phát cao
của công ty.
Lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán
Bảng 2.3: Lợi nhuận gộp
Chỉ tiêu
Năm 2012
Năm 2013
Doanh thu thuần
21.290.012.141
23.266.674.921
Giá vốn hàng bán
19.959.292.241
20.135.295.690
Lợi nhuận gộp
1.330.719.900
3.131.379.231
Chênh lệch
-
1.800.677.331
(135,3 %)
Bảng 2.5: Lợi nhuận thuần
(Đơn vị: Đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2012
Năm 2013
Lợi nhuận gộp
1.330.719.900
3.131.379.231
Chi phí bán hàng + Chi phí
QLDN
700.092.439
2.343.646.278
Lợi nhuận thuần
630.627.461
787.732.953
Chênh lệch
157.105.492
(24,9%)
(Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán - Tính toán của tác giả)
Doanh thu cũng như giá vốn tăng nhưng giá hàng bán lại không tăng hoặc tăng
không đáng kể nên lợi nhuận thuần giảm. Năm 2012, lợi nhuận thuần là 1.330.719.900
đồng, năm 2013 tăng lên 3.131.379.231 (tức là tăng lên 1.800.677.331 tương đương
135,3%). Điều này cũng cho thấy sự cạnh tranh trên thị trường cũng ngày một khó
khăn hơn do lĩnh vực xây dựng ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia hơn, thị
phần của công ty bị chia nhỏ công việc cần là đưa ra mức giá cả cạnh tranh để giữ
Thang Long University Library
25
vững và gia tăng thị phần. Việc gia nhập tổ chức Kinh tế thế giới WTO, thị trường