MỤC LỤC
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 1
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
KẾT LUẬN 54
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
“Hoàn thiện quản lý chất lượng tại công ty TNHH Dầu thực vật Cái Lân”
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Chất lượng sản phẩm:
1.1. 1.Chất lượng sản phẩm và vai trò của chất lượng sản phẩm:
1.1.1.1.Chất lượng sản phẩm:
Khi nêu câu hỏi “ Bạn quan niệm thế nào là chất lượng sản phẩm “, người ta
thường nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau tùy theo đối tượng được hỏi là ai. Các
câu trả lời thường thấy như :
• Đó là những gì họ được thỏa mãn tương đương với số tiền họ chi trả.
• Đó là những gì họ muốn được thỏa mãn nhiều hơn so với số tiền họ chi trả.
• Sản phẩm phải đạt hoặc vượt trình độ của khu vực, hay tương đương hoặc
vượt trình độ thế giới.
Đối với câu hỏi thế nào là một công việc có chất lượng, ta cũng nhận được những câu trả
lời khác nhau như thế.
Một số định nghĩa về chất lượng thường gặp :
(1)”Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”
(European Organization for Quality Control)
(2) “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B. Crosby)
(3)”Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng
thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn” (ISO 8402) ( được hiểu là sản
phẩm theo nghĩa rộng).
1
Trên thực tế, nhu cầu có thể thay đổi theo thời gian, vì thế, cần xem xét định kỳ các yêu
cầu chất lượng để có thể bảo đảm lúc nào sản phẩm của doanh nghiệp làm ra cũng thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.
Các nhu cầu thường được chuyển thành các đặc tính với các tiêu chuẩn nhất định. Nhu
• Nâng cao chất lượng sản phẩm còn là biện pháp hữu hiệu kết hợp các lợi ích của
doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội , và người lao động.
1.1.2.Những đặc điểm cơ bản của chất lượng sản phẩm:
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của chất lượng:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào đó
mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù
trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết
luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược
kinh doanh của mình.
- Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động
nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử
dụng.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính
của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu
này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các
yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng
cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm
nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng.
- Chất lượng không phi chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu
hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
3
1.1.3.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm:
Để sản xuất một sản phẩm có chất lượng , chi phí để đạt được chất lượng đó phải được
quản lý một cách hiệu quả. Những chi phí đó chính là thước đo sự cố gắng về chất lượng.
Sự cân bằng giữa hai nhân tố chất lượng và chi phí là mục tiêu chủ yếu của một ban lãnh
đạo có trách nhiệm.
Theo ISO 8402, chi phi chất lượng là toàn bộ chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo
chất lượng thỏa mãn cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn.
Theo tính chất, mục đích của chi phí, chúng ta có thể phân chia chi phí chất lượng
Người ta thường chia làm 2 loại chậm trễ : Bình thường và bất thường.
Chậm trễ bình thường : chủ yếu xuất hiện trong qui trình sản xuất và ít được nhận
thấy. Ví dụ công nhân phải chờ đợi khi máy hoàn thành một chu kỳ sản xuất, trong khi
thay đổi công cụ hay cơ cấu lại sản phẩm.
Chậm trễ bất thường : nảy sinh đột xuất và thường dễ nhận thấy hơn loại trên. Ví dụ,
đợi ai đó, đợi vì máy hỏng, nguyên vật liệu đến chậm.
Các nguyên nhân của lãng phí thời gian là :
• Hoạch định kém, tổ chức kém.
• Không đào tạo hợp lý
• Thiếu kiểm tra
• Lười biếng
• Thiếu kỹ luật
Nếu có ý thức hơn và hiểu biết hơn về lãng phí kiểu nầy và tổ chức hành động ngay để
thay đổi sẽ giúp chúng ta cải tiến được các kỹ năng giám sát và quản lý. Bằng cách sắp
xếp tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, chúng ta có thể giảm được thời gian chờ đợi.
• Lãng phí khi vận chuyển: Trong thực tế, sự vận chuyển hay di chuyển mọi thứ
một cách không cần thiết, xử lý lập lại các chi tiết sản phẩm cũng là lãng phí do
vận chuyển.
5
• Lãng phí trong quá trình chế tạo: Lãng phí trong quá trình chế tạo nảy sinh từ
chính phương pháp chế tạo và thường tồn tại trong quá trình hoặc trong việc thiết
kế sản phẩm và nó có thể được xóa bỏ hoặc giảm thiểu bằng cách tái thiết kế sản
phẩm, cải tiến qui trình. Ví dụ :
• Thông qua việc cải tiến thiết kế sản phẩm, máy chữ điện tử có ít bộ phận hơn máy
chữ cơ học.
• Hệ thống mã vạch dùng để đẩy mạnh thông tin và máy thu ngân tự động dùng để
xử lý các giao dịch tài chính.
• Lãng phí kho: Hàng tồn kho quá mức sẽ làm nảy sinh các thiệt hại sau :
• Tăng chi phí.
• Hàng hóa bị lỗi thời
Các sản phẩm sau khi đã sửa chữa cũng cần thiết phải kiểm tra lại để đảm bảo rằng
không còn sai sót nào nữa.
e. Thứ phẩm:
Là những sản phẩm còn dùng được nhưng không đạt qui cách và có thể bán với giá
thấp, thuộc chất lượng loại hai
g. Phân tích sai hỏng:
Là những hoạt động cần có để xác định nguyên nhân bên trong gây ra sai hỏng của sản
phẩm
1.1.3.2.Chi phí thẩm định
Những chi phí nầy gắn liền với việc đánh giá các vật liệu đã mua, các quá trình, các sản
phẩm trung gian, các thành phẩm để đảm bảo là phù hợp với các đặc thù kỹ thuật. Công
việc đánh giá bao gồm :
• Kiểm tra và thử tính năng các vật liệu nhập về, quá trình chuẩn bị sản xuất , các
sản phẩm loạt đầu, các quá trình vận hành, các sản phẩm trung gian và các sản
phẩm cuối cùng, bao gồm cả việc đánh giá đặc tính sản phẩm so với các đặc thù
kỹ thuật đã thỏa thuận, kể cả việc kiểm tra lại.
7
• Thẩm tra chất lượng : kiểm nghiệm hệ thống thống chất lượng xem có vận hành
như ý muốn không.
• Thiết bị kiểm tra : kiểm định và bảo dưỡng các thiết bị dùng trong hoạt động kiểm
tra.
• Phân loại người bán : nhận định và đánh giá các cơ sở cung ứng.
1.1.3.3.Chi phí phòng ngừa
Những chi phí nầy gắn liền với việc thiết kế, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý chất
lượng tổng hợp. Chi phí phòng ngừa được đưa vào kế hoạch và phải gánh chịu trước khi
đi vào sản xuất thực sự. Công việc phòng ngừa bao gồm :
• Những yêu cầu đối với sản phẩm : xác định các yêu cầu và sắp xếp thành đặc thù
cho các vật liệu nhập về, các quá trình sản xuất, các sản phẩm trung gian, các sản
phẩm hoàn chỉnh.
mức thỏa mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh
hưởng đến chất lượng sản phẩm.
• Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật :Trong thời đại ngày nay, khi khoa
học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản
phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự
ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất. Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Các hướng
chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là :
• Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế.
• Cải tiến hay đổi mới công nghệ.
• Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới.
• Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế : Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối
bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội như :
• Kế hoạch hóa phát triển kinh tế
• Giá cả
• Chính sách đầu tư
• Tổ chức quản lý về chất lượng
b)Nhóm yếu tố bên trong:
Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có
thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, đó là :
• Men : con người, lực lượng lao động trong doanh nghiêp.
• Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức
sản xuất của doanh nghiệp.
10
• Machines : khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp
• Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư,
nguyên nhiên vật liệu của doanh nghiệp.
Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất.
1.2.Quản lý chất lượng sản phẩm ở doanh nghiệp:
1.2.1. Khái niệm và vai trò của quản lý chất lượng:
chất lượng, hạ giá thành.
• Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với
qui mô và phạm vi ngày càng lớn. Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các
nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách hàng, tạo ra
lợi thế cạnh tranh.
• Tình hình trên đã khiến cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở
thành yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chất lượng đã trở
thành một “ngôn ngữ” phổ biến. Để thu hút khách hàng, các doanh nghiệp, tổ chức ( gọi
chung là tổ chức) cần đưa chất lượng vào nội dung quản lý. Sự hòa nhập của chất lượng
vào mọi yếu tố của tổ chức từ hoạt động quản lý đến tác nghiệp sẽ là điều phổ biến và tất
yếu đối với bất kỳ một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển.
• Chất lượng không tự sinh ra, không phải là một kết quả ngẫu nhiên mà là
kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Đó là kết
12
quả của một quá trình. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách
đúng đắn các yếu tố này.
• Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2000, “ Quản lý chất lượng là các hoạt động
có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”. Việc định hướng và
kiểm soát về chất lượng bao gồm lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng,
hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng.
• Quản lý chất lượng ngày nay không chỉ được áp dụng trong ngành công
nghiệp, mà còn trong các ngành dịch vụ, kế cả dịch vụ hành chính công, trong mọi loại
hình công ty, từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế
hay không. Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và
để đạt được mục tiêu chất lượng.
1.2.2. Đặc điểm và yêu cầu của quản lý CLSP:
• Chất lượng định hướng bởi khách hàng: Chất lượng định hướng bởi khách
hàng là một yếu tố chiến lược, dẫn tới khả năng chiếm lĩnh thị trường, duy trì và thu hút
khách hàng. Nó đòi hỏi phải luôn nhạy cảm đối với những khách hàng mới, những yêu
cầu thị trường và đánh giá những yếu tố dẫn tới sự thoả mãn khách hàng. Nó cũng đòi hỏi
quá trình gia tăng giá trị.
Trong một tổ chức, đầu vào của quá trình này là đầu ra của quá trình trước đó, và toàn bộ
quá trình trong tổ chức tạo thành hệ thống mạng lưới của quá trình. Quản lý hoạt động
của một tổ chức thực chất là quản lý các quá trình và các mối quan hệ giữa chúng. Quản
lý tốt mạng lưới quá trình này cùng với sự đảm bảo đầu vào nhận được từ bên cung cấp,
sẽ đảm bảo chất lượng đầu ra để thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
• Tính hệ thống: Tổ chức không thể giải quyết bài toán chất lượng theo từng
yếu tố tác động đến chất lượng một cách riêng lẻ mà phải xem xét toàn bộ các yếu tố tác
động đến chất lượng một cách hệ thống và đồng bộ, phối hợp hài hoà các yếu tố này.
Phương pháp hệ thống của quản lý là cách huy động, phối hợp toàn bộ nguồn lực để
14
phục vụ mục tiêu chung của tổ chức.Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các
qúa trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả cho tổ chức.
• Cải tiến liên tục: Chất lượng định hướng bởi khách hàng, mà nhu cầu
mong muốn của khách hàng là luôn luôn biến đổi theo xu hướng muốn thoả mãn ngày
càng cao các các yêu cầu của mình, bởi vậy chất lượng cũng luôn cần có sự đổi mới.
Muốn có sự đổi mới và nâng cao chất lượng thì phải thực hiện cải tiến liên tục, không
ngừng.
Cải tiến là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi tổ chức. Muốn có
được khả năng cạnh tranh với mức độ chất lượng cao nhất tổ chức phải liên tục cải tiến.
Sự cải tiến đó có thể là từng bước nhỏ hoặc nhảy vọt. Cải tiến đó có thể là cải tiến
phương pháp quản lý, cải tiến, đổi mới các quá trình, các thiết bị, công nghệ, nguồn lực,
kể cả cách sắp xếp bố trí lại cơ cấu tổ chức quản lý. Tuy nhiên trong cải tiến cần phải tính
kỹ và mang tính chắc chắn, bám chắc vào mục tiêu của tổ chức.
• Quyết định dựa trên sự kiện: Mọi quyết định và hành động của hệ thống
quản lý chất lượng muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu
và thông tin một cách chính xác. Không quyết định dựa trên việc suy diễn.Việc đánh giá
phải bắt nguồn từ chiến lược của tổ chức, các quá trình quan trọng, các yếu tố đầu vào,
đầu ra cuả các quá trình đó.
• Phát triển quan hệ hợp tác: Các tổ chức cần tạo dựng mối quan hệ hợp tác
chất lượng trở thành ý thức tự giác của mỗi người trong hoạt động vì mục tiêu phát triển
tổ chức. Một tổ chức quản lý chất lượng tốt chính là phát huy được vai trò của lãnh đạo
và huy động được sự tham gia của mọi thành viên trong tổ chức. Mỗi thành viên đều
được sự quan tâm của lãnh đạo, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần. Họ thấy
tự hào khi là thành viên trong tổ chức. Họ sống và làm việc vì “màu cờ sắc áo” của tổ
chức. Thông qua hoạt động quản lý chất lượng tốt sẽ cho ra những sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ thoả mãn khách hàng và các bên quan tâm. Điều đó chính là tổ chức luôn có trách
16
nhiệm với xã hội, cộng đồng. Đó cũng là cơ sở nền tảng, cốt lõi cho sự trường tồn của
một tổ chức.
1.2.3. Những phương pháp được sử dụng trong quản lý chất lượng:
1.2.3.1.Bằng thống kê: (SQC)
SQC là việc áp dụng phương pháp thống kê để thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu
một cách đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát, cải tiến quá trình
hoạt động của một đơn vị, một tổ chức bằng cách giảm tính biến động của nó.
Kiểm soát chất lượng là thiết yếu vì không có một quá trình hoạt động nào có thể cho
ra những sản phẩm giống hệt nhau. Sự biến động này do nhiều nguyên nhân khác nhau:
• Loại thứ nhất: Do biến đổi ngẫu nhiên vốn có của quá trình, chúng phụ thuộc
máy móc, thiết bị, công nghệ và cách đo. Biến đổi do những nguyên nhân này
là điều tự nhiên, bình thường, không cần phải điều chỉnh, sửa sai.
• Loại thứ hai: Do những nguyên nhân không ngẫu nhiên, những nguyên nhân
đặc biệt, bất thường mà nhà quản trị có thể nhận dạng và cần phải tìm ra để
sửa chữa nhằm ngăn ngừa những sai sót tiếp tục phát sinh. Nguyên nhân loại
này có thể do thiết bị điều chỉnh không đúng, nguyên vật liệu có sai sót, máy
móc bị hư, công nhân thao tác không đúng
Việc áp dụng SQC giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề như:
• Tập hợp số liệu dễ dàng.
• Xác định được vấn đề.
• Phỏng đoán và nhận biết các nguyên nhân.
• Loại bỏ nguyên nhân
về chất lượng ngay từ đầu. Sử dụng các kỹ thuật thống kê, các kỹ năng của quản lý để
kiểm tra, giám sát các yếu tố ảnh hưởng tới sự xuất hiện các khuyết tật ngay trong hệ
thống sản xuất từ khâu nghiên cứu, thiết kế, cung ứng và các dịch vụ khác liên quan đến
quá trình hình thành nên chất lượng.
Áp dụng TQM không những nâng cao được chất lượng sản phẩm mà còn cải thiện hiệu
quả hoạt động của toàn bộ hệ thống nhờ vào nguyên tắc luôn làm đúng việc đúng ngay
lần đầu.
Theo ISO 9000, Quản lý chất lượng đồng bộ là cách quản lý một tổ chức tập trung
vào chất lượng, dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên của nó, nhằm đạt được
sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành
viên của tổ chức đó và cho xã hội.
TQM đã được nhiều công ty áp dụng và đã trở thành ngôn ngữ chung trong lĩnh vực
quản lý chất lượng. TQM đã được coi như là một trong những công cụ quan trọng giúp
các nhà sản xuất vượt qua được các hàng rào kỹ thuật trong Thương mại thế giới
(Technical Barrieres to International Trade-TBT). Aïp dụng TQM là một trong những
điều kiện cần thiết trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, hưởng ứng cuộc vận động lớn về Thập niên
chất lượng 1996-2005, tiến tới sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao mang nhản hiệu
sản xuất tại Việt Nam, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã có khuyến cáo
rằng:” Để hòa nhập với hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống Tiêu chuẩn hóa khu vực
ASEAN, ở Việt Nam cần thiết phải đưa mô hình quản lý TQM vào áp dụng trong các
doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng và vượt qua hàng rào TBT.” Tổng cục cũng đã
thành lập Ban chuyên ngành quản lý chất lượng đồng bộ (Ban TQM-VN) theo quyết định
số 115/TĐC-QĐ ngày 20-4-1996, nhằm tạo động lực thúc đẩy việc triển khai áp dụng
TQM ở Việt Nam.
19
Sau hội nghị chất lượng toàn quốc lần thứ nhất tháng 8/95 và lần thứ 2 năm 1997,
phong trào TQM đã bắt đầu được khởi động. Nhà nước đã công bố Giải thưởng chất
lượng hàng năm để khuyến khích các hoạt động quản lý và nâng cao chất lượng. Cơ sở để
đánh giá giải thưởng nầy chủ yếu dựa vào các yêu cầu của một hệ thống chất lượng theo
đạo về chất lượng, nghiên cứu thị trường, thiết kế và triển khai sản phẩm, cung ứng, kiểm
soát thị trường, bao gói, phân phối, dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm
soát tài liệu, đào tạo
1.2.3.5.ISO 14000
-Ủy ban kỹ thuật 207 (TC 207) do Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) thành lập để
xây dựng các tiêu chuẩn ISO 14000. Tương tự như Tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000, tiêu
chuẩn về hệ thống quản lý môi trường tập trung vào hệ thống quản lý hơn là các hoạt
động kỹ thuật. Do đó, tiêu chuẩn ISO 14000 có thể được cấu trúc tương tự như tiêu chuẩn
ISO 9000. Ủy ban Kỹ thuật 207 và 176 (Ban kỹ thuật xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000) đã
cùng làm việc và sử dụng các bài học từ quá trình xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn ISO
9000 và xây dựng tiêu chuẩn ISO 14000 dựa trên nền tảng tiêu chuẩn này.
• ISO muốn tìm kiếm tiêu chuẩn mới tương tự về cơ cấu và triết lý để những nơi áp
dụng tiêu chuẩn ISO 9000 có thể xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của mình song
song với tiêu chuẩn ISO 14000. Đây là ý tưởng rất phù hợp trong tương lai, vì có thể sử
dụng kết hợp hai tiêu chuẩn này với tiêu chuẩn An toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Bộ tiêu
chuẩn ISO 14000 bao gồm các tiêu chuẩn liên quan với Hệ thống quản lý môi trường
(như ISO 14001 và 14004) và những tiêu chuẩn liên quan với các công cụ quản lý môi
trường (các tiêu chuẩn khác của bộ tiêu chuẩn ISO 14000). Tiêu chuẩn ISO 14000 có thể
áp dụng cho các công ty, khu vực hành chính hay tư nhân.
• Mục đích tổng thể của tiêu chuẩn quốc tế này là hỗ trợ trong việc bảo vệ môi
trường và kiểm soát ô nhiễm đáp ứng với yêu cầu của kinh tế, xã hội.
• Mục đích cơ bản của ISO 14000 là hỗ trợ các tổ chức trong việc phòng tránh các
ảnh hưởng môi trường phát sinh từ hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức. Hơn
nữa, tổ chức thực hiện ISO 14000 có thể đảm bảo rằng các hoạt động môi trường của
mình đáp ứng và sẽ tiếp tục đáp ứng với các yêu cầu luật pháp. ISO 14000 cố gắng đạt
21
được mục đích này bằng cách cung cấp cho các tổ chức “các yếu tố của một HTQLMT
có hiệu quả”. ISO 14000 không thiết lập hay bắt buộc theo các yêu cầu về hoạt động môi
trường một cách cụ thể. Các chức năng này thuộc tổ chức và các đơn vị phụ trách về pháp
luật trong phạm vi hoạt động của tổ chức.
• Quản lý quá trình : trong đó các quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ , các
quá trình kinh doanh và các quá trình hỗ trợ .
• Kết quả kinh doanh : trong đó kết quả về tập trung vào khách hàng ; kết quả về
thị trường và tài chính ; kết qủa về nguồn nhân lực ; kết quả về hiệu quả của doanh
nghiệp .
Chương II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH DẦU THỰC VẬT CÁI LÂN
2.1. Tổng quan về công ty TNHH Dầu THỰC VẬT CÁI LÂN:
2.1.1.Sự ra đời :
Công ty TNHH Dầu thực vật Cái Lân (CALOFIC) được thành lập năm 1996, là công
ty liên doanh giữa Tổng công ty Công Nghiệp Dầu thực vật Việt Nam (VOCARIMEX)
23
với số vốn góp là 32%, trực thuộc Bộ Công thương và Tập đoàn Wilmar với số vốn góp
là 68%, Singapore.
• Tổng Công ty Công Nghiệp Dầu Thực Vật Việt Nam – VOCARIMEX: là
một doanh nghiệp Nhà nước độc lập trực thuộc Bộ Công Nghiệp, được thành lập tại
quyết định số 4799/QĐ - BCT ngày 28-09-2009 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Nhẹ
(Bộ Công Nghiệp) nay là Bộ Công Thương.Tiền thân của Công ty là Công Ty Dầu Thực
Vật Miền Nam thuộc Bộ Lương thực và Thực phẩm được thành lập năm 1976.
Hiện nay, Công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con theo Quyết định số
175/2004/QĐ-BCN ngày 23-12-2004 của Bộ Công nghiệp về việc tổ chức lại Công ty
Dầu thực vật Hương liệu Mỹ phẩm Việt Nam. Bốn công ty con bao gồm Công ty cổ phần
dầu thực vật Tường An; Công ty cổ phần dầu thực vật Tân Bình; Công ty cổ phần Trích
ly dầu thực vật (VOE), Công ty cổ phần Thương mại dầu thực vật (VOT)) và bốn công ty
liên kết là Công ty dầu ăn Golden Hope Nhà Bè, Công ty dầu thực vật Cái Lân, Công ty
Liên doanh Mỹ phẩm LG Vina và Công ty cổ phần bao bì dầu thực vật.
Ngoài ra, VOCARIMEXcòn là thành viên chính thức của Hiệp Hội Dừa Châu Á - Thái
Bình Dương (gọi tắt là APCC ).
• Tập đoàn Wilmar:Tập đoàn Wilmar International, được thành lập năm 1991 với
tư cách là một công ty mua bán dầu cọ, là tập đoàn hàng đầu châu Á về kinh doanh nông
*Những tiêu chuẩn công ty áp dụng nhằm đạt được những yêu cầu của cao nhất của sản
phẩm:
• Công ty đạt chuẩn về quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 và đang
thực hiện quy trình sản xuất theo yêu cầu chứng chỉ HACCP, để tiến tới mở rộng hoạt
động xuất khẩu sang các thị trường Australia, EU
• Đã thực hiện công bố tiêu chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa
của Chủ tịch nước số 04L/CTN tại Cục Quản Lý Chất Lượng – Vệ Sinh An Toàn
Thực Phẩm, Bộ Y Tế đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và thương hiệu trong nước và ngoài
nước.
• Hệ thống quản lý chất lượng và công tác xây dựng chiến lược chất lượng . Đã xây
dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, sẽ áp dụng tiêu chuẩn
25