Luận văn: Một số biện pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ - Chi nhánh Hà Nội potx - Pdf 15



1

Luận văn
Một số biện pháp hoàn thiện
hoạt động nhập khẩu tại
Công ty Vật tư, vận tải & xếp
dỡ - Chi nhánh Hà Nội 2

Lời nói đầu.

Việt nam đang trong thời kỳ tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Vì vậy, nhu cầu về vật tư kỹ thuật, dây truyền công nghệ là rất
lớn, cần thiết và cấp bách hơn lúc nào hết. Trong khi nền sản xuất trong nước
còn chưa thể đáp ứng đước yêu cầu này thì nhập khẩu là con đường ngắn nhất
và khôn ngoan nhất để hiện đại hoá các trang thiết bị kỹ thuật, đưa nền sản xuất
trong nước mau chóng bắt kịp với các nền sản xuất tiên tiến khác trong khu vực
và trên thế giới, nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt với giá thành hạ,
đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra là,
chúng ta đã đang và sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu như thế
nào để đảm bảo mang lại một hiệu quả kinh tế cao nhất.
Có thể nói, tuy đã tham gia buôn bán trên thị trường quốc tế hơn 10 năm
nay, nhưng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở một số doanh nghiệp
Việt Nam đôi lúc còn bất cập. Đặc biệt là công tác nhập khẩu vật tư, vật liệu

dỡ Hà Nội. Những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động nhập khẩu của
Công ty cùng với những nguyên nhân của nó.
 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu để
thựchiện mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty
Với mục đích làm rõ những nội dung nêu trên, kết cấu của luận văn sẽ được
chia làm 3 chương lớn như sau:
Chương I. Những vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chương II. Phân tích thực trạng hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật
tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội
Chương III. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động nhập
khẩu tại Công ty Vật tư, vận tải & xếp dỡ Hà Nội.
Cuối cùng, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của bản thân
còn nhiều hạn chế, chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định. Vì vậy em rất mong các thầy (cô giáo), các cô (bác) anh (chị) đang làm
việc tại công ty nơi em thực tập giúp đỡ, chỉ bảo để em có thể hoàn thành bài
viết này một cách tốt nhất.

4

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I. VAI TRÒ CỦA NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN:

1. Một số lý thuyết về thương mại quốc tế:

quay của nền kinh tế thế giới và thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan.
Muốn kinh tế phát triển, nước đó phải tham gia vào thương mại quốc tế.
Với ý nghĩa trên, thương mại quốc tế cũng không chỉ giới hạn giữa các
nước có nền kinh tế phát triển tương đương nhau, mà thực chất thương mại quốc
tế có thể được tiến hành với tất cả các nước trên thế giới, thậm chí kể cả những
nước có trình độ phát triển kinh tế hoàn toàn khác biệt. Để giải thích điều này,
nhà kinh tế học người Anh David Ricardo ( 1771-1823 ) đã đem ra và chững
minh lý thuyết về lợi thế tương đối. Lý thuyết này nhấn mạnh vào sự khác nhau
về chi phí sản xuất và coi đó là chìa khoá của phương thức thương mại. Nó
khẳng định một điều: Nếu một nước nào đó tập trung ( chuyên môn hoá ) vào
sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và nhập khẩu các sản phẩm
khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi thế hơn thì chắc chắn sẽ
đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Sở dĩ như vậy là vì mỗi nước đều có sự khác
nhau về vị trí địa lý điều kiện tự nhiên, đất đai, con người nên chi phí sản xuất
cho cùng một loại sản phẩm giữa các nước cũng sẽ khác nhau. Với sản phẩm
này, nước này có thể có chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng với những sản phẩm
khác thì các nước khác lại có ưu thế hơn. Vì vậy, nếu mỗi nước chuyên môn hoá
vào sản xuất những sản phẩm có lợi thế hơn so với các nước khác và nhập khẩu
những mặt hàng kém lợi thế hơn nếu sản xuất ở trong nước mình thì chắc chắn
sẽ giảm được chi phí, tiết kiệm được nguồn lực và do đó cho phép các nước có
thể tăng cường hiệu quả kinh tế theo quy mô, nghĩa là sản xuất được nhiều hàng
hoá hơn với một mức chi phí thấp hơn. như vậy thương mại quốc tế thực sự sẽ
đem lại hiệu quả kinh tế cho tất cả các bên.
Ngày nay thương mại quốc tế chiếm một vị trí rất quan trọng đối với nền
kinh tế thế giới nói chung và đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng.
Thương mại quốc tế thực hiện việc lưu thông hàng hoá giữa các nước khác
nhau, nó bao gồm: Việc mua bán hàng hoá với nước ngoài, xuất nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ, việc gia công hàng hoá cho nước ngoài hoặc thuê nước ngoài gia
công, hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ


 Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
đất nước.
 Đảm bảo thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động ngoại
thương. 7

 Góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng của đất nước
một cách có hiệu quả.

2. Nhập khẩu và vai trò của nhập khẩu:

Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:

Nói đến thương mại quốc tế, không thể không nói đến xuất nhập khẩu hàng
hoá dịch vụ vì đây là nội dung quan trọng và cốt lõi. Kinh doanh nhập khẩu là
một bộ phận cấu thành của kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung. Nếu như trong
kinh doanh xuất nhập khẩu, hành vi mua bán là sự trao đổi hàng hoá tiền tệ diễn
ra theo hai chiều thì trong nhập khẩu, sự vận động của hàng hoá tiền tệ chỉ diễn
ra theo một chiều ( Hàng vào - tiền ra ). Tuy vậy, nó là hoạt động kinh doanh
trên phạm vi quốc tế, không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ
thống các qua hệ mua bán phức tạp, có tổ chức với những quy định và luật lệ
rằng buộc kẻ mua người bán nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng
hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế bằng cách thoả mãn ngày càng cao nhu
cầu tiêu dùng của dân cư trong nước, nhất là những loại hàng hoá mà sản xuất
trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.
Nhập khẩu còn tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và
đời sống. Nhập khẩu để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
hiện đại cho sản xuất và các hàng hoá cho tiêu dùng mà trong nước không sản

tế, cũng như đối với các doanh nghiệp đó là:
Nhập khẩu giúp doanh nghiệp có được công nghệ sản xuất hiện đại để tăng
năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như tăng năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Thông qua nhập khẩu, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán
kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài, dẫn đến việc hình thành các liên
doanh, liên kết giữa các chủ thể trong và ngoài nước, từ đó giúp doanh nghiệp
có thêm kinh nghiệm trong công tác quản lý cũng như trong việc hoạch định các
chiến lược kinh doanh.
Nhập khẩu giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và lợi nhuận thông qua việc
đáp ứng các nhu cầu xã hội từ đó tăng nguồn vốn kinh doanh cho doanh nghiệp
cũng như tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho các cán bộ nhân viên của doanh
nghiệp . 9

Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, việc xuất nhập khẩu mang
lại nhiều điều lợi song cũng có nhiều điều bất lợi cho mỗi quốc gia. Bởi vì nó
phải đối đầu với cả một hệ thống kinh tế từ bên ngoài mà các chủ thể bên trong
nước tham gia vào kinh doanh xuất nhập khẩu không dễ dàng gì khống chế
được. Để phát huy được vai trò của mình, hoạt động nhập khẩu phải đảm bảo
một số yêu cầu nhất định và các doanh nghiệp cũng phải thực hiện đúng các
nguyên tắc trong hoạt động nhập khẩu sao cho phù hợp với lợi ích của doanh
nghiệp cũng như lợi ích của toàn xã hội.
Thứ nhất. Nhập khẩu phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong sử
dụng vốn. Là một nước đang phát triển, vốn đầu tư là một trong những nhân tố
quan trọng mà Việt Nam đang còn thiếu, bởi vậy yêu cầu tiết kiệm là một vấn đề
cơ bản của quốc gia cũng như của doanh nghiệp
Thứ hai. Chỉ nhập khẩu những thiết bị tiên tiến, hiện đại tránh nhập khẩu

so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó giúp doanh nghiệp
xác định được nhu cầu cụ thể về :
 Mặt hàng mà thị trường trong nước cần
 Quy cách chủng loại hàng hoá
 Số lượng hàng hoá
 Thời hạn tiêu dùng
 Giá cả thị trường
 Chu kỳ sống của mặt hàng

1.2 Nghiên cứu thị trường quốc tế :

Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới có rất nhiều ý nghĩa trong việc
phát triển và nâng cao hiệu quả các quan hệ kinh tế, đặc biệt là trong công tác
nhập khẩu hàng hoá của mỗi doanh nghiệp. Mỗi loại hàng hoá nào đó sẽ có rất
nhiều nước khác nhau cùng sản xuất, kinh doanh nhiều loại sản phẩm, mà kết
quả kinh doanh lại phụ thuộc vào từng đối tác cụ thể. Vì vậy, việc nghiên cứu thị
trường quốc tế bao gồm các vấn đề sau :
 Nghiên cứu môi trường kinh doanh
 Điều kiện về chính trị và pháp luật
 Điều kiện về kinh tế, sự phát triển của nền kinh tế, của nội thương và
ngoại thương…
 Điều kiện về vị trí địa lý, yếu tố này cho phép doanh nghiệp giảm các chi
phí vận tải, bảo hiểm… 11
 Điều kiện về con người, tâm lý và tập quán thương mại của mỗi quốc
gia
 Điều kiện về kỹ thuật công nghệ
Các điều kiện trên là những nhân tố không thể kiểm soát được đối với các

phẩm ( kể cả lượng sản phẩm dự trữ ), xu hướng biến động trong từng thời điểm,
từng vùng và từng lĩnh vực sản xuất tiêu dùng. Cùng với việc nắm bắt nhu cầu là
việc nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường ( bao gồm việc xem xét các đặc
điểm, tính chất, khả năng sản xuất hàng thay thế, khả năng lựa chọn mua bán )
và tính chất thời vụ của sản xuất, tiêu dùng loại hàng hoá đó trên thị trường thế
giới. Từ đó có các biện pháp thích hợp cho từng giai đoạn, đảm bảo cho việc
nhập khẩu có hiệu quả.
Dung lượng thị trường không ổn định, nó chịu tác động của nhiều nhân tố
khác nhau trong những giai đoạn nhất định, đó là: Các nhân tố làm cho dung
lượng thị trường biến động có tính chất chu kỳ như sự vận động của nền kinh tế,
tính thời vụ của sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hoá. Các nhân tố ảnh
hưởng lâu dài như tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các biện pháp, chính sách của
Nhà nước, thị hiếu tập quán người tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế.
Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với dung lượng thị trường như hiện tượng
đầu cơ, các yếu tố tự nhiên: thiên tai, lũ lụt, hạn hán…, các yếu tố về chính trị xã
hội như đình công, biểu tình…
Nghiên cứu giá cả hàng hoá nhập khẩu: Xu hướng biến động giá cả hàng
hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp. trong cùng một thời gian, giá cả hàng
hoá có thể biến động theo những hướng trái ngược nhau với những mức độ
nhiều ít khác nhau. Thêm vào đó là việc nắm bắt tình hình xu hướng biến động
của giá cả thị trường thế giới là hết sức khó khăn, đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp Việt Nam.
Giá cả tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần phải luôn luôn theo dõi sự biến động của
giá cả, đồng thời phải có các biện pháp để tính toán, xác định một cách chính
xác và khoa học mức giá để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để có thể dự
đoán được xu thế biến động của giá cả mỗi loại hàng hoá có trên thị trường, cần
phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự đoán tình hình thị trường hàng hoá đó
cũng như các nhân tố tác động đến giá cả như: nhân tố chu kỳ, nhân tố lạm phát,
nhân tố cung cầu, nhân tố thời vụ, nhân tố xã hội…

Nó còn phụ thuộc vào khả năng tài chính cũng như trình độ của các cán bộ, nhân
viên nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu thị trường, cần phải kết hợp cả hai phương
pháp trên để hạn chế những thiếu sót và phát huy được những điểm mạnh của 14
mỗi phương pháp, từ đó mới nâng cao được hiệu quả của công tác nghiên cứu
thị trường .

2. Lựa chọn phương thức giao dịch:

Trong hoạt động nhập khẩu có một số phương thức giao dịch sau:

Giao dịch thông thường: Là phương thức giao dịch mà người mua và người
bán trực tiếp quan hệ với nhau bằng cách gặp mặt trực tiếp hoặc qua thư từ điện
tín để bàn bạc và thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch.
Giao dịch qua trung gian: Là phương thức giao dịch mà mọi quan hệ giữa
người mua và người bán về việc quy định các điều kiện mua bán phải thông qua
một người thứ ba, gọi là người trung gian.
Buôn bán đối lưu: Là phương thức giao dịch xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với
nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị
tương đương.
Đấu giá quốc tế: Là phương thức bán hàng đặc biệt được tổ chức công khai
ở một nơi xác định, tại đó những người mua tự do cạnh tranh trả giá. Và cuối
cùng hàng hoá sẽ được bán cho người nào trả giá cao nhất.
Ngoài những phương thức giao dịch trên, trong thực tế vẫn còn một số hình
thức giao dịch khác như : giao dịch tại sở giao dịch, giao dịch tại triển lãm hàng
hoá, hay giao dịch tại các hội chợ…


hàng, giá cả…
Phát giá: Đây là vấn đề chào hàng nếu do người bán tiến hành và là vấn đề
phát giá nếu do người mua tiến hành.
Đặt hàng: được coi là lời ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua
được dưa ra dưới hình thức đặt hàng. Trong thực tế người ta chỉ đặt hàng với các
khách hàng có quan hệ thường xuyên và trong đặt hàng nêu cụ thể về hàng hoá
và tất cả các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng.
Hoàn giá: là bước mặc cả để hai bên có thể xích lại gần nhau khi đơn đặt
hàng chưa được thực sự làm cho các bên hài lòng. Khi có hoàn giá đơn chào
hàng trước đó không còn giá trị.
Chấp nhận: thể hiện sự đồng ý tất cả các điều kiện của chào hàng ( hoặc đặt
hàng ) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó có thể coi hợp đồng đã được thiết lập. 16
Xác nhận: là sự khẳng định những điều khoản thoả thuận để phân biệt với
những điều kiện mua bán ban đầu bằng văn bản.

3.3 Tổ chức ký kết hợp đồng nhập khẩu:

Sau khi đàm phán thành công thì dẫn đến việc ký kết hợp đồng kinh doanh
xuất nhập khẩu. Hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là sự thoả thuận bằng
văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên có quốc tịch khác nhau theo đó một bên
được gọi là người bán ( người xuấtkhẩu ), phải có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở
hữu của bên kia ( người nhập khẩu ) một lượng tài sản nhất định gọi là hàng hoá.
Còn bên nhập khẩu phải có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán cho bên xuất
khẩu.

Thông thường một hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu bao gồm các
điều khoản chính sau:
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

Sơ đồ 1: Các bước thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

Chuẩn
bị thủ
tục
kinh
doanh
xuất
nhập
khẩu Mở
L/C

Đôn
đốc
bên
bán
giao
hàng Nhận
hàng
hoá Làm
thủ tục
hải
quan 18

4.1 Chuẩn bị thủ tục kinh doanh xuất nhập khẩu:

Theo nghị định 57/CP ra ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định các
doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu không cần phải xin phép ( trừ
các hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện ) mà thực
hiện đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu với Hải quan tỉnh, thành phố.
Trong đó đăng ký mã số hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu trong phạm vi
đăng ký kinh doanh. Nghị định cũng quy định chi tiết danh mục các mặt hàng
cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc kinh doanh có điều kiện. Như vậy đối với những
hàng hoá thông thường, khi tiến hành nhập khẩu, doanh nghiệp không phải xin
giấy phép.
Đối với những hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch, để nhập khẩu doanh

cũng chứa nhiều rủi ro và tổn thất. Do đó bảo hiểm hàng hoá trên đường biển là
loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương.
Người mua sẽ phải mua bảo hiểm nếu nhập khẩu theo nhóm F. Khi mua
bảo hiểm người nhập khẩu sẽ phải ký hợp đồng với công ty bảo hiểm trong đó
xác định điều kiện mà hợp đồng nhập khẩu quy định.

4.5 Làm thủ tục hải quan:

Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để nhập khẩu hay xuấtkhẩu
đều phải làm thủ tục hải quan. Việc làm thủ tục hải quan bao gồm các bước chủ
yếu sau:
 Khai báo hải quan ( làm thủ tục về mặt giấy tờ tại các cơ quan địa
phương )
 Kê khai hàng hoá tại kho hàng: doanh nghiệp sẽ phải đưa hàng hoá đến
nơi để kiểm tra ( thường là các cảng đầu mối ), tại đó nhân viên hải quan sẽ
tiến hành đối chiếu hàng hoá kê khai trên giấy tờ so với thực tế.
 Thực hiện quyết định xử lý với cơ quan hải quan: sau khi kiểm tra hàng
hoá và giấy tờ cơ quan hải quan sẽ dưa ra các quyết định như cho hàng hoá
qua biên giới, cho hàng hoá qua biên giới một cách có điều kiện 20

4.6 Nhận hàng:

Theo nghị định 200/CP ra ngày 31/12/1993 của Chính phủ, mọi việc giao
nhận hàng hoá nhập khẩu đều phải uỷ thác cho cơ quan vận tải ( Ga, cảng, sân
bay ). Nhà nhập khẩu phải xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch nhận hàng
nhập khẩu, phải cung cấp đầy đủ tài liệu cần thiết cho việc nhận hàng, thanh
toán cho cơ quan vận tải Khi hàng về, cảng sẽ báo cáo cho chủ hàng biết và

bộ chứng từ đi nhận hàng.
Nếu hợp đồng nhập khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng phương thức
nhờ thu thì sau khi nhận chứng từ ở ngân hàng ngoại thương, nhà nhập khẩu
được kiểm tra bộ chứng từ trong một thời gian nhất định. Nếu trong thời gian
này, nhà nhập khẩu không có lý do chính đáng để từ chối thanh toán thì ngân
hàng xem như yêu cầu đòi tiền là hợp lý. Qua thời hạn quy định cho việc kiểm
tra chứng từ, mọi tranh chấp giữa bên mua và bên bán về thanh toán tiền hàng sẽ
được trực tiếp giải quyết giữa các bên hoặc qua cơ quan trọng tài.

4.9 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại:

Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu thấy phát hiện hàng nhập khẩu bị
tổn thất, đổ vỡ, mất mát, không đúng với yêu cầu trong hợp đồng về thời gian
giao hàng, chất lượng nhà nhập khẩu cần lập ngay hồ sơ khiếu nại để khỏi bỏ
lỡ thời hạn khiếu nại.
Tuỳ từng trường hợp mà đối tượng bị khiếu nại có thể là người bán, người
vận tải hoặc công ty bảo hiểm. Hồ sơ khiếu nại gồm có đơn khiếu nại và các
bằng chứng về việc tổn thất. Việc khiếu nại nếu không được giải quyết thoả
đáng, hai bên có thể kiện nhau ở hội đồng trọng tài ( nếu có thoả thuận trong
hợp đồng ) hoặc ở toà án.
Ngoài các bước nói trên, việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hoá là
thiết bị toàn bộ cần có thêm các bước cung cấp thiết bị, xây lắp công trình và
chạy thử đưa vào sản xuất.
Thực hiện hợp đồng nhập khẩu là khâu cuối cùng của hoạt động ngoại
thương do nó phản ánh tổng hợp toàn bộ quá trình kinh doanh. Nếu nhà nhập
khẩu thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng nhập khẩu thì sẽ đề cao uy tín của doanh 22
nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quan hệ với khách hàng, thể

 Ci: chi phí cho một loại hàng hoá
 n: số loại hàng hoá

5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu: 23

Lợi nhuận (LN) :
LN = Tổng doanh thu – Chi phí

Lợi nhuận là kết quả so sánh giữa tổng doanh thu so với tổng chi phí. Đây
là chỉ tiêu quan trọng phản ánh doanh nghiệp làm ăn có lãi hay không.

Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu (T):

Tổng thu
T =
Tổng chi

Tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là số bản tệ có thể thu được khi bỏ ra một
đồng ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu tỷ suất này cao hơn tỷ giá hối đoái giữa đồng
Việt Nam và đồng ngoại tệ thì việc nhập khẩu của doanh nghiệp là có hiệu quả,
còn ngược lại thì hoạt động nhập khẩu bị thua lỗ.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (Mv):

Lợi nhuận ròng
Mv =
Doanh số bán

doanh nghiệp có thể lựa chọn, mỗi hình thức nhập khẩu đều có những ưu điểm
và nhược điểm riêng, bởi vậy doanh nghiệp cần phải tùy từng trường hợp mà áp
dụng hình thức nhập khẩu nào để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất. Sau
đây là một số hình thức nhập khẩu cơ bản và mang tính phổ biến nhất:
1.1 Nhập khẩu tự doanh:

Nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu mà trong đó doanh nghiệp thực
hiện toàn cbộ quá trình nhập khẩu từ nghiên cứu thị trường để mua hàng hoá
đến việc bán hàng hoá và thu được doanh thu từ vốn của mình. Doanh nghiệp
cần phải nghiên cứu thị trường trong nước và nước ngoài, tính toán đầy đủ chi
phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có lãi đồng thời phải tuân thủ đầy đủ các
chính sách, luật pháp của quốc gia cũng như các luật và thông lệ buôn bán quốc
tế.
Đặc điểm: 25
Trong hoạt động nhập khẩu tự doanh thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải
chịu trách nhiệm hoàn toàn về vốn, về mua bán. Do đó, doanh nghiệp phải xem
xét kỹ lưỡng từ bước nghiên cứu thị trường cho đếnkhi hạch toán kinh doanh và
có lãi.
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch xuất nhập
khẩu và tiền bán hàng nhập khẩu sẽ được tính vào doanh thu và phải chịu thuế
doanh thu.
Thông thường doanh nghiệp chỉ lập một hợp đồng ngoại với bên nước
ngoài còn sau khi đã nhập khẩu hàng về mà các doanh nghiệp khác có nhu cầu
thì sẽ tiến hành lập một hợp đồng nội để bán hàng cho người mua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status