''Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng TMCP Quân đội - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
PHẦN MỞ ĐẦU
Hoạt động sinh lời của các ngân hàng thương mại chủ yếu từ hoạt động
tín dụng. Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại thu được
trên 70% lợi nhuận. Một ngân hàng thương mại muốn phát triển bền vững thì
cần phải kiểm soát được rủi ro tín dụng hay nói cách khác là phải nâng cao
được chất lượng.
Trong hoạt động của Doanh nghiệp xây lắp thì nhu cầu vốn lưu động
cho sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn. Các ngân hàng thương mại Việt
Nam thường tài trợ vốn lưu động dưới các hình thức khác nhau cho loại hình
doanh nghiệp này thì lên đến 80% tổng chi phí. Như vậy ngân hàng đã trở
thành nhà tài trợ vốn chủ yếu của DNXL
Trong thời gian qua, ngân hàng TMCP Quân đội không ngừng mở rộng
quy mô và hoạt động, phục vụ đông đảo trong đó có các doanh nghiệp xây
lắp. Dư nợ của Doanh nghiệp xây lắp chiếm tỷ trọng lớn (trên 30% tổng dư
nợ), thu được từ việc cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp là không ít, đồng
nghĩa với nớ là rủi ro về tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp là cao, nếu
không có biện pháp quản lý hữu hiệu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng đến chất
lượng tín dụng của toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Quân đội. Trên cơ sở đó,
em đã chọn đề tài :''Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp xây
lắp tại Ngân hàng TMCP Quân đội ''
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
sự ra đời tồn tại và phát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá. Tín
dụng ra đời là một yếu tố khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội.

hàng thương mại hoạt động theo quy luật thị trường nên tín dụng ngân hàng
có những đặc điểm đặc trưng, cụ thể như sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong
những năm 1960 trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho
vay bằng tiền. Xuất phát từ tính đặc thù đó mà nhiều lúc thuật ngữ tín dụng và
cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ những năm 1970 trở lại đây,
cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đã được các ngân hàng hoặc các định
chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là một sản phẩm kinh doanh
của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực ( nhà ở, văn phòng
làm việc, máy móc - thiết bị).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển
giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sỏ để tin rằng người đi vay
sẽ trả đúng han. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong
thực tế một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở
đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm,
chính quan điểm này đã lma ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Cần lưu ý
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
rằng các bậc tiền bối đã bằng từ ''credo'' hoặc ''tín'' để đặt tên cho ''credit'' hoặc
tín dụng không phải là vấn đề ngẫu nhiên.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
cách khác là người đi vay phải trả thêm lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được
nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay
nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (Lãi suất thực = Lãi suất danh
nghĩa - tỷ lệ lạm phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác nhau, nên trong một trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp
hơn lạm phát, ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan

sang kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng
cao tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ của ngân hàng
+ Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục
đích là sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí
nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân
bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn.
- Theo mục đích sử dụng tiền vay: Căn cứ vào tiêu thức này, người ta
chia tín dụng thành 2 loại:
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng cấp cho các
nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông
hàng hoá.
+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá bền chắc
như tủ lạnh, điều hoà, máy giặt
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
- Theo tài sản đảm bảo: Tài sản đảm bảo các khoản tín dụng cho phép
ngân hàng có được nguồn thu nợ thu nợ thứ hai bằng cách bán các tài sản đó
khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc
không đủ.
+ Tín dụng có thể được phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy
tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản. Cầm kết
đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình
đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ
cho ngân hàng.
+ Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách
hàng uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài
chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương
đối nhỏ so với vốn của người đi vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của
Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho

khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Mặc dù không phải
xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để
thu lợi.
Ngân hàng
7
Người bán
Người mua
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
+ Cho thuê tài chính: Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với
thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản
cho thuê cộng lãi(thời hạn khoảng 80% - 90% đời sống kinh tế của tài sản).
Hết hạn,khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
+ Bao thanh toán: Là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho
bên bán hàng thông qua việc mua bán lại các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong
hợp đồng mua bán hàng.
- Theo thành phần kinh tế:
+ Tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh: Là quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm: Tổ sản xuất,
Hợp tác xã, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ cá
thể
+ Tín dụng đối với kinh tế quốc doanh: Là quan hệ tín dụng của ngân
hàng với các DNNN.
- Theo đặc điểm luân chuyển vốn:
+ Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được sử dụng hình thành vốn
lưu động của tổ chức kinh tế, có nghĩa là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu
hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hoá, cho
vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết
khấu kỳ phiếu.
+ Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được hình thành tài sản cố

thị trường''. Theo hiệp hội tiêu chuẩn hoá Pháp (TC NCF-104) thì ''Chất lượng
là năng lực của một sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của người
sử dụng. Chất lượng sản phẩm được hiểu là toàn bộ tính năng của sản phẩm
phù hợp với những điều kiện quy định và nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của
9
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
xã hội. Nâng câo chất lượng sản phẩm là một trong những nhiệm vụ quan
trọng nhất của các doanh nghiệp. Vấn đề chất lượng sản phẩm có ý nghĩa kinh
tế quốc dân to lớn. Đặc biệt hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt
động chứa đựng nhiều rủi ro thì vấn đề chất lượng lại càng cần thiết được đặt
ra.
Như vậy ta có thể hiểu: '' Chất lượng tín dụng là vốn vay của ngân
hàng được khách hàng sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra
một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả cả gốc và lãi vay ngân hàng đúng hạn,
vừa trang trải các chi phí và có lợi nhuậ ''.
Qua khái niệm về chất lượng tín dụng có thể thấy, khi xem xét chất
lượng tín dụng cần được xem xét dưới 3 giác độ chính: Nền kinh tế, người đi
vay, người cho vay.
Thứ nhất, dưới giác độ nền kinh tế thì chất lượng tín dụng được nâng
cao phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và Ngân hàng
có hiệu quả, thu được lợi nhuận góp phần tăng trưởng kinh tế, khai thác tối ưu
các nguồn lực, tăng thu nhập, giải quyết công việc làm ăn, tăng sản phảm cho
xã hội, nâng cao mức sống dân cư, khai thác hiệu quả những khả năng tiềm ẩn
của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt
mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, thu hút tối đa
nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho phát triển kinh tế.
Thứ hai, dưới giác độ là người đi vay (khách hàng) thì khoản tín dụng
có chất lượng là phải phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng, với lãi
suất và kỳ hạn vay vốn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tiện, thu hút được
khách hàng nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc và quy định của tín

cấm hoặc hạn chế tài trợ đối với một số đối tượng nhất định.
11
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Người đứng tên vay cho một tập thể phải được sự uỷ quyền của cả tập
thể.
Cá nhân vay phải là người đã đến tuổi thành niên. Người vay phải được
sự uỷ quyền của cả tập thể.
Cá nhân vay phải là người đã đến tuổi thành niên. Người đi vay phải
ghi rõ vay để làm gì. Ngân hàng được quyền chấm dứt quan hệ tín dụng và
thu hồi nợ nếu phát hiện người đi vay sử dụng vốn sai mục đích đã đăng ký
ban đầu mà không được phép của ngân hàng.
Ngân hàng tiến hành phân loại khách hàng truyền thống và quan trọng,
khách hàng khác. Loại khách hàng truyền thống và quan trọng thường được
hưởng chính sách ưu đãi của ngân hàng thương mại. Đây là nội dung có liên
quan đến chính sách marketing nên thường được các ngân hàng cân nhắc và
đưa ra cho khách hàng biết.
+ Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng: Ngân hàng cam kết tài trợ
cho khách hàng (cho vay, bảo lãnh, hoặc cho thuê…) với món tiền hoặc hạn
mức nhất định. Số lượng tài trợ có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời
gian khác nhau và dưới các hình thức tiền tệ khác nhau. Ngân hàng có thể tài
trợ tối đa bằng nhu cầu của khách và phù hợp các điều luật ( hoặc các qui
định) dựa trên các tính toán của ngân hàng về rủi ro và sinh lời. Nhìn chung
ngân hàng rất quan tâm tới vốn sở hữu của khách hàng và ít muốn tài trợ
trong trường hợp các khoản nợ lớn hơn vốn chủ sở hữu. Ngoài các giới hạn
do luật quy định, mỗi ngân hàng còn có quy định riêng về qui mô và các giới
hạn. Ví dụ qui mô cho vay tối đa của giám đốc khu vực hoặc chi nhánh; quy
mô cho vay dựa trên giá trị vật đảm bảo; qui mô tối đa phải đảm bảo kết hợp
tính sinh lời với mức rủi ro có thể chấp nhận của mỗi khoản vay. Chính sách
này còn được qui định cho từng thời kỳ trong năm, có tính đến quy mô và
tính chất của nguồn vốn của ngân hàng.

Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
trong 6 tháng, 9 tháng, 2 năm, 15 năm…tuỳ theo chu kì sản xuất kinh doanh
sau khi đã thoả thuận với khách hàng. Cũng có trường hợp thời hạn không xác
định không xác định cụ thể trước mà tuỳ theo mức luân chuyển của vật tư
hàng hoá là đối tượng cho vay của ngân hàng. Đối với phần lớn các khoản tài
trợ trung và dài hạn, thời hạn tín dụng có thể được chia thành thời gian đầu tư
(thời gian ngân hàng giải ngân theo tiến độ xây dựng), thời gian ân hạn (thời
gian chưa phải trả gốc), thời gian trả nợ. Ví dụ, cho vay trong 6 năm, giải
ngân trong 2 năm, thu nợ bắt đầu từ năm thứ 4, như vậy thời gian ân hạn là 1
năm. Một số khoản tài trợ các thời gian trên có thể đan xen với nhau. Nhiều
khoản tài trợ, ngân hàng chia nhỏ thời gian trả nợ thành năm, thu nợ 2 lần vào
cuối mỗi năm, vậy kì hạn nợ thứ nhất là 1 năm, kì hạn nợ thứ hai là 1 năm.
Các giới hạn về thời gian luôn được các nhà quản lý ngân hàng chú ý
bởi vì kì hạn liên quan đến thanh khoản và rủi ro ngân hàng cũng như chu kì
kinh doanh của người vay. Trong chính sách tín dụng, ngân hàng cần xác định
rõ, ngân hàng sẵn sàng cung ứng tín dụng với thời gian như thế nào?. Bài toán
về thời gian phải giải quyết cho ngân hàng vay quyết định và thời hạn tài trợ
(xuất phát từ yêu cầu của người vay do đặc điểm luân chuyển vốn và qui mô
thu nhập quyết định). Từ đó ngân hàng xác định kì hạn cụ thể đảm bảo cân
bằng kì hạn trung bình. Ngân hàng thường dựa trên kì hạn của nguồn để quyết
định chính sách kì hạn cho vay nếu khả năng tìm kiếm nguồn và chuyển hoán
kì hạn nguồn của ngân hàng không cao. Việc chuyển hoán kì hạn nguồn sẽ
tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất bởi vì nó tạo ra khe hở lãi suất
(nguồn nhạy cảm lớn hơn tài sản nhạy cảm). Nếu ngân hàng có khả năng
chuyển hoán nguồn và huy động nguồn trung và dài hạn tốt, chinh sách thời
hạn tín dụng và kì hạn nợ nghiêng về đáp ứng kì hạn của người vay.
+ Các khoản đảm bảo: Ngân hàng dựa trên uy tín của khách hàng.
Trong trường hợp khách hàng truyền thống, có uy tín, ngân hàng cho vay
14
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân

+ Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán: Ngân hàng có thể giải
ngân một lần hoặc nhiều lần tuỳ đối tượng. Để tiện tài trợ được sử dụng đúng
mục đích, ngân hàng thường giải ngân gắn liền với một số điều kiện nhất định
như các chứng từ nhập hàng, hoặc biên bản nghiệm thu công trình từng phần
của bên A, hoặc món nợ trước đã trả… Ví dụ, hợp đồng kí cho vay 300 triệu
trong thời gian 9 tháng để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Điều kiện giải
ngân là hàng nhập về đến đâu cho vay đến đó (kèm chứng từ), hoặc trả xong
khoản vay đợt trước mới cấp tiền đợt sau. Điều kiện giải ngân cho phép ngân
hàng thực hiện kiểm soát trong khi cho vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Điều kiện thanh toán bao gồm thanh toán tiền gốc và lãi. Ngân hàng có
thể yêu cầu thanh toán cả gốc và lãi một lần khi đáo hạn (thường áp dụng
trong cho vay ngắn hạn). Các khoản cho vay trung và dài hạn thường được
yều cầu trả gốc và lãi thành nhiều kì, trả vào các đầu năm hoặc giữa năm, gốc
và lãi được tính riêng hoặc tính chung thành khoản trả đều (niên kim hàng
năm). Nhìn chung việc hoàn trả đều lấy từ các khoản thu trong tương lai.
Ngân hàng cần có chính sách chi tiết về các khoản thu, nguồn thu, phương
thức thanh toán.
+ Chính sách đối với các tài sản có vấn đề: Các tài sản có vấn đề bao
gồm các khoản nợ xấu (đã quá hạn, hoặc khó đòi, hoặc không đòi được) và
các tài sản có biểu hiện đáng ngờ. Chính sách đồi với các tài sản có vấn đề
gồm qui định mức rủi ro, các yếu tố cấu thành khoản tín dụng có vấn đề, các
mức độ ''xấu'' của khoản nợ, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai
thác. Do hoạt động của ngân hàng luôn gắn với rủi ro, mức rủi ro có thể chấp
nhận được cần được hoạch định cho từng nhóm khách hàng, từng ngành hoặc
vùng. Đây là điều kiện để ngân hàng xây dựng chính sách cho vay cá biệt.
16
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Chính sách giải quyết nợ xấu liên quan đến nhiều bên: Khách hàng, ngân
hàng, cán bộ ngân hàng, toà án, chính quyền địa phương…Nhiều ngân hàng
thành lập bộ phận chuyên trách giải quyết các tài sản có vấn đề.

Chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tín dụng: trình độ chuyên
môn nghiệp vụ vững vàng để giải đáp mọi thắc mắc cho khách hàng về khoản
vay. Ngân hàng phải thực sự là người bạn đồng hành của khách hàng, sẵn
sàng giúp đỡ, tư vấn tài chính, cung cấp thông tin cho khách hàng giúp đỡ
khách hàng kinh doanh có hiệu quả đồng thời ngân hàng cũng tránh được rủi
ro, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của mình. Khi khách hàng đến giao dịch,
cán bộ tín dụng phải có thái độ tiếp đón lịch sự, phục vụ nhiệt tình, chu đáo;
thủ tục đơn giản, thuận tiện; phục vụ nhanh nhất cho khách hàng trong thời
gian qui định.
♦ Các chỉ tiêu định lượng:
Về cơ bản, chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với DNXL được đánh
giá qua các chỉ tiêu sau:
 Nhóm chỉ tiêu dư nợ cho vay:
Nhóm chỉ tiêu này cho biết khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho các các
DNXL của ngân hàng. Một ngân hàng uy tín tốt, chiến lược huy động, cạnh
tranh marketing tốt thì mới thu hút được nhiều khách hàng vay vốn và đáp
ứng tốt nhu cầu của họ.
- Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNXL
Dư nợ cho vay DNXL
Tỷ trọng dư nợ cho vay cho DNXL= × 100
Tổng dư nợ
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNXL thể hiện trong tổng dư nợ cho
vay của ngân hàng thì dư nợ cho DNXL vay chiếm bao nhiêu %. Tỷ trọng
càng cao chứng tỏ quy mô cho vay đối với DNXL của ngân hàng càng lớn.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay đối với DNXL
Tốc độ tăng trưởng dư nợ Dư nợ cho vay DNXL kỳ này
= × 100
cho vay đối với DNXL Dư nợ cho vay DNXL kỳ trước

hoàn thành sản xuất kinh doanh của mình. Nhưng thực tế không diễn ra suôn
sẻ như vậy, có nhiều doanh nghiệp không trả được nợ và lãi cho ngân hàng
khi nợ đã đến hạn trả. Trong trường hợp này, ngân hàng thương mại không
thu hồi vốn và lãi. Đây người ta gọi là nợ quá hạn. Như vậy, nợ quá hạn được
hiểu một cách tổng quát là: Đó là một khoản nợ mà người đi vay (doanh
nghiệp) đến hạn phải trả cho ngân hàng thương mại cả vốn và lãi theo cam
kết, nhưng doanh nghiệp không trả được cho ngân hàng, nợ quá hạn có tác
động xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng như hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.
Nợ quá hạn được phân chia như sau:
- Nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay người đi vay
là doanh nghiệp phải thế chấp tài sản cho ngân hàng, theo pháp luật, ngân
hàng có quyền phát mãi tài sản để thu nợ, do vậy nợ quá hạn này tuy chưa thu
được nhưng ngân hàng thương mại có khả năng thu hồi.
- Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay, ngân
hàng không yêu cầu người vay thế chấp tài sản. Loại nợ này, con nợ là doanh
20
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
nghiệp vay vốn vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh nếu tình hình tài chính
của doanh nghiệp tốt thì cũng có khả năng thu nợ.
-Nợ quá hạn là nợ khó đòi: Loại nợ này xảy ra và tồn đọng ở những
doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất khinh doanh và tình
hình tài chính yếu kém, biểu hiện sản xuất kinh doanh bị lỗ, nợ phải trả tăng,
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoàn toàn. Thời hạn nợ tồn đọng khá
lâu, có thể kéo dài trên một năm, 2 - 3 năm hoặc lâu hơn nữa và rất khó giải
quyết.
Nguyên nhân dẫn tới nợ quá hạn:
- Doanh nghiệp vay vốn gặp những rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của mình như: Thiên tai, chiến tranh, khủng bố…do vậy việc sử dụng vốn vay
và vốn của doanh nghiệp không đạt hiệu quả, mất hoàn toàn về vốn của cả

 Nhóm chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay
Lợi nhuận hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu và quan trọng
của ngân hàng. Chỉ tiêu này giúp chúng ta so sánh được thu nhập từ hoạt động
cho vay DNXL của ngân hàng trong tổng thu nhập. Ta có công thức tính như
sau:
Thu nhập từ hoạt động cho vay DNXL
Tỷ trọng thu nhập = × 100
Tổng thu nhập của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm bao nhiêu phần, đồng thời
nó phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào kết quả hoạt động
kinh doanh chung của ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ thu nhập từ hoạt
động tín dụng mang lại càng lớn và nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
22
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng đối với
DNXL
Chất lượng tín dụng là một phạm trù kinh tế rộng, phức tạp, vừa trừu
tượng, vừa mang tính cụ thể. Do đó đòi hỏi chúng ta phải xem xét một cách
tổng hợp, sâu sắc thì mới có thể đánh giá đúng được chất lượng tín dụng. Chất
lượng tín dụng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan, nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Việc phân chia này
chỉ có tương đối, còn trong thực tế thì chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng
tổng hoà của các nhân tố. Chính vì thế, chúng ta sẽ xem xét một số nhân tố
ảnh hưởng chủ yếu nhất đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
♦ Nhóm các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị, xã
hội
 Môi trường kinh tế:
Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập ngôi nhà chung của tổ
chức thương mại thế giới (WTO). Khi vào WTO, không chỉ ngành ngân hàng

đến ngân hàng là vô cùng to lớn. Một sự thay đổi trong hệ thống chính trị hay
nếu có bạo động có thể làm cho các ngân hàng mất phần lớn hoặc toàn bộ các
khoản tín dụng của mình, điều này tất yếu sẽ đẩy ngân hàng tới bờ vực phá
sản
 Môi trường pháp lý:
Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước. Không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp
yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh tế sẽ
không thể diễn ra một cách thuận lợi được. Với vai trò đảm bảo cho việc
chuyển nền kinh tế thị trường văn minh, pháp luật có nhiệm vụ tạo lập một
24
Chuyên đề tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
môi trường pháp lý để giải quyết các vấn đề khiếu nại khi có tranh chấp xảy
ra. Vì thế nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động
ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng. Chỉ có trong điều kiện
các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm
chỉnh thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai, và chất lượng tín
dụng mới được đảm bảo.
♦ Nhóm nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Những nhân tố thuộc về phía ngân hàng được hiểu là những nhân tố
thuộc về nội tại của từng ngân hàng, do chủ quan của ngân hàng. Nó ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh nói chung và ảnh hưởng chất lượng
tín dụng của từng ngân hàng.
 Chiến lược phát triển của ngân hàng:
Chiến lược phát triển của ngân hàng là một trong các yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của chính bản thân ngân hàng. Một chiến
lược phát triển đúng đắn và phù hợp sẽ đảm bảo ngân hàng phát triển.
Ngược lại, một chiến lược không phù hợp sẽ làm chậm quá trình phát triển
của ngân hàng, thậm chí dẫn đến khó khăn trong hoạt động hoặc thu lỗ, phá
sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status