TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH-KHCN&QHĐN
BÀI THU HOẠCH MÔN
CÔNG NGHỆ TRI THỨC VÀ ỨNG DỤNG
DỰ ĐOÁN TÍNH CÁCH NGƯỜI
QUA KHUÔN MẶT: KẾT HỢP
GIỮA LÝ THUYẾT HỆ CHUYÊN
GIA VÀ NHÂN TƯỚNG HỌC
MÃ SỐ HỌC VIÊN : CH1301104
HỌ TÊN HỌC VIÊN : HÀ THANH NHẤT
GIẢNG VIÊN : GS.TSKH HOÀNG KIẾM
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10/2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến GS.TSKH HOÀNG KIẾM, người thầy đã
truyền đạt cho em những kiến thức về công nghệ tri thức như:
Biểu diễn và tối ưu hóa cơ sở tri thức.
Các hệ cơ sở tri thức tiêu biểu
Khám phá tri thức với máy học và khai phá dữ liệu
Xin được cảm ơn các anh/chị học cùng khóa đã đóng góp và chia sẻ tài liệu về
môn học, giúp em hoàn thành tốt bài thu hoạch này.
Em xin chân thành cảm ơn
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
MỤC LỤC
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
LỜI NÓI ĐẦU
Xin mở đầu bài thu hoạch bằng một câu hỏi: “Khuôn mặt của bạn nói lên được
điều gì về bạn?”.
Các nhà khoa học cho rằng, sự di truyền và chế độ ăn uống tác động tới cấu
trúc của khuôn mặt hoặc những người cười nhiều sẽ xuất hiện nếp nhăn ở khóe
mắt, còn những người hay buồn rầu sẽ bị lưng còng khi về già. Tuy nhiên, hầu
như chúng ta không biết rằng, tướng mạo bẩm sinh của mỗi người cũng thể hiện
tính và người sử dụng có thể nhờ máy tính để tìm lấy những lời khuyên đặc thù
khi cần. Máy tính thực hiện các thao tác và đưa ra một kết luận cho người hỏi.
Trong bài thu hoạch này, em sẽ trình bày sự kết hợp đặc biệt giữa nhân tướng
học và công nghệ thông tin mà cụ thể là xây dựng hệ chuyên gia về nhận dạng
tính cách qua diện mạo. Trong trường hợp này, máy tính đóng vai trò như một
“thầy bói” am hiểu về thuật coi tướng có thể dự đoán tính cách của một người
dựa vào các bộ phận trên khuôn mặt.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN TƯỚNG HỌC
1.1 Giới thiệu
Từ khi đất nước mở cửa,văn hóa thế giới giao lưu,hội nhập rộng rãi với Việt
Nam. Đặc biệt hơn cả là nền văn hóa cổ Trung Hoa, vốn đã gần gũi từ lâu, một
lần nữa lại được nghiên cứu,tìm hiểu đầy đủ,trong đó nhân tướng học là một bộ
phận đã càng thâm nhập và đi sâu vào cuộc sống,xã hội,con người Việt Nam.
Với mỗi người,khuôn mặt trước hết là sự biểu hiện cá tính và tâm trạng. Đó là
những cảm xúc thông thường như buồn, vui, lo lắng, giận hờn…Nhưng đồng thời
nó cũng thể hiện sức khỏe, nhân cách, địa vị xã hội… của người đó.
Nhìn mặt đoán tính cách vốn là một kinh nghiệm có từ lâu đời,đến nay nó vẫn
được sử dụng như một “môn nghệ thuật” với những kỹ năng và mức độ khác
nhau. Ở phương Đông, “môn nghệ thuật” này được gọi với cái tên quen thuộc là
“nhân tướng học”. Và cho đến nay, nó là một chuyên ngành khoa học được mọi
người công nhận.
Nhân tướng học Á Đông không chỉ dừng chân ở việc đoán tính cách. Khoa này
còn đào sâu cả địa hạt phú quý,bệnh tật,thọ yểu,sinh kế,nghề nghiệp. Mặt khác,
Nhân tướng học còn tìm hiểu qua nét tướng mỗi cá nhân, những chi tiết liên quan
đến những người khác có liên hệ mật thiết với mình: cha mẹ, vợ chồng, anh em,
con cái, bạn bè. Sau cùng, Nhân tướng học Á Đông còn rộng rãi và táo bạo hơn
hẳn khoa tâm lý phương Tây. Từ nội tâm và liên hệ của con người, nhân tướng
học Á Đông tiên đoán luôn vận mạng, dám khẳng định cả sự thành bại, thịnh suy,
xét cả quá khứ lẫn tương lai, chứ không dừng lại ở một giai đoạn nào.
lên sát chỗ chân tóc gọi là thiên thương thượng phủ.
• Cặp xương lưỡng quyền thuộc khu vực trung đình gọi là quyền cốt trung
phủ.
• Hai phần hai bên mang tai tiếp giáp với lưỡng quyền và chạy dài xuống
phía dưới gọi là tai cốt hạ phủ.
Tứ Đậu: cũng vẫn là cái lối mượn thiên nhiên để ví vào con người cho dễ
hiểu nên người Tàu, trong lĩnh vực diện tướng học đã địa lý hóa bốn bộ
phận: tai, miệng, mắt, mũi thành ra Giang, Hà, Hoài, Tế.
Ngũ Quan: là năm bộ phận trọng yếu trên khuôn mặt
• Hai lông mày gọi là bảo thọ quan.
• Cặp mặt gọi giám sát quan.
• Hai tai gọi là thám thính quan.
• Mũi gọi là thẩm biện quan.
• Miệng gọi là xuất nạp quan.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Quan sát Tam Đình, Ngũ Nhạc, Lục Phủ , ta biết được một cách khái quát sự
phối trí của khuôn mặt có cân xứng thích đáng hay không. Tứ Đậu, Ngũ Quan sẽ
giúp ta biết rõ từng nét tương đồng trong khung cảnh chung của khuôn mặt.
1.3 Cá tính thể hiện trên khuôn mặt
Thuật tìm hiểu tính cách qua khuôn mặt về cơ bản dựa trên kích thước, hình
dạng, vị trí, tính chất, và màu sắc của một số cơ quan thể hiện trên khuôn mặt.
Một trong những dấu hiệu quan trọng nhất trong thuật tìm hiểu cá tính biểu
hiện trên khuôn mặt là khuôn mặt có cân đối hay không. Khuôn mặt của một
người càng mất cân đối, thì người ấy càng có nhiều khả năng bị rối loạn tâm lý,
trong cuộc sống gặp nhiều khó khăn, khổ sở và nhiều thất vọng.
Cũng như bộ não được chia thành hai phần với các chức năng khác nhau, các
bên của khuôn mặt cũng phản ánh nhiều đặc điểm khác nhau. Ở hầu hết mọi
người, bên trái của khuôn mặt biểu thị cá tính và tính khí, trong khi bên phải mô
tả cảm xúc, địa vị xã hội và kinh tế, các mối quan hệ giữa cá nhân với người
khác.
không thể nhận biết toàn bộ khả năng tiềm ẩn của bản thân.
1.4.3 Trán cao, hẹp
Người có trán như thế này thường thờ ơ,dửng dưng,không biết thương xót
người khác mặc dù họ rất thông minh.
Nhiều nhà khoa học có loại trán này.
1.4.4 Trán thấp, hẹp :
Đây là dấu hiệu biểu thị thái độ vô trách nhiệm, cẩu thả, không thành thật,
trong nhiều trường hợp còn có hành động tội ác.
1.5 Bộ phận thứ hai: Mắt
Người ta thường phân biệt mắt thành ba bộ phận chính yếu: đồng tử, tròng đen
và lòng trắng.
Nhà tướng học Kiến Nông cư sĩ đã kiến giải của các y sư Trung Hoa cổ đại và
Nhật Bản hiện đại cho rằng:
Tròng mắt đen là tròng mắt của các sắc dân thuộc về các chủng tộc phương
Bắc đại lục Á Châu.
Toàn mắt đen mà kỳ thực là màu nâu sậm thuộc về các chủng tộc gốc Nam
đại lục.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
So sánh ưu điểm tổng quát giữa hai màu nâu sậm và đen tuyền của tròng mắt,
Kiến Nông cư sĩ nhận thấy rằng, màu nâu có nhiều ưu điểm về phẩm tính hơn đại
khái như:
Can đảm nhưng khai phóng.
Hành động nhanh nhẹn hơn, tư tưởng mẫn tuệ hơn.
Có nhiều nghệ thuật tính hơn như thi ca, triết lý, hùng biện.
1.5.1 Mắt to
Nam giới có cặp mắt to áp đảo, dễ nhận thấy thường là những người đầy cảm
xúc, thích nghệ thuật, và tinh thần chiến đấu cao. Họ thường có khuynh hướng
cấp tiến trong cả tư tưởng lẫn hành động và quan tâm đến các dự án có tính đột
phá.
Nữ giới có cặp mắt to thường có khuynh hướng nhạy cảm, có khiếu nghệ thuật.
khăn trong việc xác lập, duy trì các mối quan hệ gắn bó, cũng như trong cảm xúc
và biểu hiện tình yêu.
1.6.3 Mũi dài, to, cao
Người có mũi dài, to, cao nổi tiếng là cố chấp và nhất mực làm theo ý mình,
thường đạt mục đích thông qua sự dọa dẫm.
1.6.4 Mũi khoằm
Họ là những người có cá tính tốt, có tài năng, và tham vọng cao.
Tuy nhiên dù như vậy họ vẫn thường phải đối mặt với nhiều trở ngại nghiêm
trọng, vấn đề khó khăn.
1.7 Bộ phận thứ tư: Miệng
Miệng vừa là cơ quan thâu nạp thực phẩm từ bên ngoài vào để nuôi cơ thể lại
vừa là quan sát ra mệnh lệnh để sai khiến người khác hoặc truyền đạt ý tưởng của
mình.
1.7.1 Miệng rộng
Người có miệng rộng thường sống cởi mở, chan hòa, có nghị lực, tham vọng,
thân mật, thoải mái.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
1.7.2 Miệng nhỏ
Miệng nhỏ thường đi kèm với sự yếu đuối, nhút nhát, lệ thuộc, đa cảm và một
số đặc điểm không mong muốn khác.
Người có miệng nhỏ, môi mỏng thường có khuynh hướng tự xem mình là trung
tâm, và nhẫn tâm đối với người khác.
1.7.3 Miệng trề
Miệng trề là miệng nhìn nghiêng nó nhô ra khỏi đường thẳng giữa mũi và cằm.
Đây là dấu hiệu cho thấy sự cố chấp và trí năng kém, cũng như biểu thị cá nhân
đó luôn khăng khăng giữ ý kiến riêng của mình. Và họ đặc biệt thích nói nhiều.
1.7.4 Miệng lồi, môi dầy
Người có môi dầy, miệng cong xuống phía dưới ở khóe miệng thường thích
tranh luận, luôn phàn nàn và không sẵn sàng nghe theo lời khuyên của người
khác.
làm.
Trán bằng, rộng nhưng thiếu chiều cao; lông mày thưa, nhỏ, ít; đuôi mắt hướng
xuống; nhân trung ngắn, lợi răng lộ; tai dài, dái tai rủ xuống; cằm có nhiều thịt:
tính ưa nhàn tản, không chịu khổ sở, thọ mệnh không dài.
Đầu cân xứng, tròn trịa; trán cao; mắt lớn, ánh mắt lanh lẹ, sáng sủa; mũi to,
ngay ngắn; lưỡng quyền cao; tai mỏng, lớn và dài: ý chí kiên cường, có khí
phách, can đảm.
Đỉnh đầu bằng phẳng; trán cao, lông mày nhỏ, thanh tú và dài quá mắt; hai mắt
trong sáng; mũi thẳng; miệng nhỏ, môi hồng; mang tai vừa phải, và thẳng xuôi;
cằm đầy đặn, không khuyết hãm: tính tình từ thiện, sáng suốt, làm việc gì cũng
có kế hoạch lâu dài và dứt khoát, rất trường thọ.
Trán hãm (hoặc gồ cao, hoặc lõm, hoặc gồ chỗ này lõm chỗ khác, bên cao bên
thấp); đuôi mắt rủ xuống, ánh mắt có thần; miệng vuông; mũi thẳng, lưỡng quyền
cao; cằm tròn đầy: không có nhiều khả năng phú túc.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Đầu thấp nhỏ; trán bằng phẳng; mắt có thần, đuôi mày rủ gần mắt, khi cười
thường xệ, khó biết là cười vui hay khinh thị; tai nhỏ, mỏng: tính tình cô độc, đa
phần đều vất vả, khổ sở, đoản thọ.
Trán cao, rộng; mắt tròn, nhỏ; lông mày ít, thưa; mũi nhỏ ngay ngắn; miệng
nhỏ nhưng dáng đẹp; cằm hẹp; tai mỏng và cuốn ở phần trên: giỏi về mưu trí,
làm việc trí óc thành công hơn bằng bắp cơ, dễ rung cảm.
Trán rộng, bằng phẳng, phía sau đầu nảy nở rất rõ; mày hướng lên; mũi thon,
ngay ngắn; khóe miệng xuống; lưỡng quyền và cằm bằng phẳng; tai dày, nhỏ:
thông tuệ nhưng kiêu ngạo, bi quan.
Đầu nhỏ; trán ngắn; lông mày nhỏ, ngắn; ánh mắt luôn nghi kỵ; mũi lệch; hai
chân mày gần như giao nhau; cằm ngắn; mang tai hẹp:tâm tính bất chính, tính nết
hung hiểm.
Đầu và trán bằng phẳng; lông mày ít nhưng xanh tươi; mắt nhỏ; mũi cao; môi
dày, tươi thắm; cằm thon, bằng: khó phú túc.
1.10 Đặt vấn đề
+
Qua sơ đồ trên ta có thể thấy: Một chương trình ứng dụng được xây dựng dựa
trên cơ sở tri thức và mô tơ suy diễn. Trong đó cơ sở tri thức được lấy từ nguồn
tri thức. Có hai loại là xin ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực đó, cũng có thể
lấy theo cách thứ hai đó là tổng hợp từ các tài liệu chuyên môn. Còn mô tơ suy
diễn phụ thuộc vào ngườidùng do người dùng đưa ra.
2.2 Đặc trưng và ưu điểm của hệ chuyên gia
2.2.1 Đặc trưng của hệ chuyên gia
4 đặc trưng cơ bản:
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Hiệu quả cao: Khả năng trả lời với mức độ tinh thông bằng hoặc cao hơn so
với chuyên gia (người) trong cùng lĩnh vực.
Thời gian trả lời thỏa đáng: Thời gian trả lời hợp lý, bằng hoặc nhanh hơn
so với chuyên gia (người) để đi đến cùng một quyết định.
Độ tin cậy cao: Không thể xảy ra sự cố hoặc giảm sút độ tin cậy khi sử
dụng.
Dễ hiểu: Hệ chuyên gia giải thích các bước suy luận một cách dễ hiểu và
nhất quán.
2.2.2 Ưu điểm của hệ chuyên gia
Phổ cập: Là sản phẩm chuyên gia, được phát triển không ngừng với hiệu
quả sử dụng không thể phủ nhận.
Giảm giá thành.
Giảm rủi ro: Giúp con người tránh được rủi ro trong các môi trường nguy
hiểm.
Tính thường trực: Bất kể lúc nào cũng có thể khai thác sử dụng. Trong khi
con người có thể mệt mỏi, nghỉ ngơi hay vắng mặt.
Đa lĩnh vực: Chuyên gia về nhiều lĩnh vực khác nhau và được khai thác
đồng thời bất kể thời gian sử dụng.
Độ tin cậy.
Khả năng giảng giải: Câu trả lời với mức độ tinh thông được giảng giải rõ
Điều khiển
Điều khiển một quá trình, đòi hỏi diễn giải, chẩn
đoán, kiểm tra, lập kế hoạch, dự đoán và chữa trị
2.4 Cấu trúc của hệ chuyên gia
Bộ nhớ làm việc
Cơ sở tri thức
Mô tơ suy diễn
Suy diễn
Điều khiển
Giao diện người, máy
Người sử dụng
Bộ thu nạp tri thức
Bộ
giải thích
Chuyên gia con người
Giao diện người, máy: Thực hiện giao tiếp giữa hệ chuyên gia và người sử
dụng. Nhận các thông tin từ người dùng (các câu hỏi, các yêu cầu về lĩnh vực) và
đưa ra các lời khuyên, các câu trả lời, các giải thích về lĩnh vực đó.
Bộ giải thích: Giải thích các hoạt động của hệ khi có yêu cầu của người sử
dụng.
Bộ thu nạp tri thức: Làm nhiệm vụ thu nhận tri thức từ chuyên gia con người,
từ kỹ sư tri thức và cả người sử dụng thông qua các câu hỏi và yêu cầu của họ,
sau đó lưu trữ vào cơ sở tri thức.
Cơ sở tri thức: Lưu trữ, biểu diễn các tri thức trong lĩnh vực mà hệ đảm nhận,
làm cơ sở cho các hoạt động của hệ. Cơ sở tri thức bao gồm các sự kiện và các
luật.
Mô tơ suy diễn: Làm nhiệm vụ sử lý và điều khiển các tri thức được biểu diễn
trong cơ sở tri thức nhằm đáp ứng các câu hỏi, các yêu cầu của người sử dụng.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Để thực hiện được các công việc của các thành phần trên, trong cấu trúc hệ
liên hệ cơ bản này có thể mô tả và biểu diễn được hầu hết mọi vấn đề mà chúng
ta quan tâm.
Tính chủ động:
Như chúng ta đã thấy, dữ liệu có vai trò bị động vì nó phụ thuộc vào sự khai
thác của chương trình cụ thể.
Trong xã hội loài người khi hoạt động bất kỳ ở đâu và ở trong lĩnh vực nào
thì con người bao giờ cũng bị điều khiển bằng chính tri thức (vốn hiểu biết)
của mình. Nhờ có tri thức mà con người đã hình thành mục tiêu và các hành
vi để thực hiện mục tiêu đó. Quá trình này luôn đi kèm với sự bổ sung tri
thức và khắc phục sự mâu thuẫn giữa các tri thức để đi đến hoàn thiện dần
cơ sở tri thức trong mỗi người.
Đối với các tri thức biểu diễn trong máy cũng vậy, chúng chủ động hướng
người sử dụng biết khai thác tri thức. Đó chính là quá trình kích hoạt tri
thức được thể hiện trong các hệ chuyên gia được xây dựng trên các cơ sở tri
thức biểu diễn ở mức cao có khả năng tiếp nhận, tinh chế, tự hoàn thiện
ngay trong quá trình hoạt động của hệ. Tính chủ động của tri thức còn thể
hiện sinh động thông qua các ngôn ngữ lập trình trí tuệ nhân tạo như Lisp,
Prolog…ở đó không còn có sự phân biệt rõ ràng giữa dữ liệu và thủ tục.
2.6.2 Phân loại tri thức
Tri thức tồn tại dưới 2 dạng cơ bản: tri thức định lượng và tri thức định tính.
Tri thức định lượng thường gắn với các loại kinh nghiệm khác nhau. Ở đây
chúng ta xét về tri thức định tính.
Tri thức định tính được chia thành 3 loại: tri thức mô tả, tri thức thủ tục và tri
thức điều khiển.
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
2.6.2.1 Tri thức mô tả :
Cho những thông tin về một sự kiện, hiện tượng hay quá trình mà không đưa ra
thông tin về cấu trúc bên trong cũng như phương pháp sử dụng bên trong của tri
thức đó.
Ngoài ra các tri thức mô tả còn cho phép miêu tả các mối liên hệ, các ràng buộc
phần lõi trong các cơ cấu trí thức. Nguồn các cơ cấu trí thức này thường phát sinh
từ các tài liệu chuyên môn các nguyên lý chung của khoa học.
Tuy vậy, có những tri thức lại phụ thuộc vào yếu tố lịch sử,thông qua các tham
số thời gian và không gian có thể xuất hiện tường minh hoặc không tường minh
trong các phát biểu. Chính yếu tố đó, mà quá trình suy diễn trong các cơ sở tri
thức được phụ thuộc không gian, thời gian có thể giao hoán hay không giao hoán
bộ phận, đơn điệu hay không đơn điệu.
2.6.3.2 Tri thức bất định, tri thức không đầy đủ
Trong nhiều trường hợp các tri thức có thể đúng hoặc sai. Tuy vậy trong thực tế
ta gặp phải các phát biểu không phải lúc nào cũng xác định được chúng đúng hay
sai. Các tri thức không chính xác là các mệnh đề phát biểu mà giá trị chân lý của
chúng không thể chỉ ra một cách chính xác, tương ứng với thang đo quy ước.
Cũng có thể xuất hiện các tri thức không đầy đủ trong các phát biểu, các mô tả.
Nói chung, các tri thức bất định, không chính xác và không đầy đủ xuất hiện là
do trong các phát biểu, người ta sử dụng các yếu tố ngôn ngữ không rõ ràng, như:
có thể, có lẽ, khoảng, nói chung…Một trong những cách tiếp cận để xử lý các
loại tri thức trên là sử dụng cách tiếp cận lý thuyết mờ. Các lý thuyết lập luận xấp
xỉ đã và đang được quan tâm, nghiên cứu rất nhiều.
2.6.4 Các phương pháp biểu diễn tri thức
2.6.4.1 Biểu diễn tri thức nhờ logic
Dựa vào các khái niệm cơ bản về logic mệnh đề và logic vị từ, với một số bài
toán, các trạng thái được mô tả qua các biểu thức logic. Khi đó bài toán được
phát biểu lại dưới dạng:
Chứng minh: Từ GT1∧GT2∧ …∧ GTmsuy ra một trong các kết luận: KL1 ,
…,KLn.Trong đó:GTi, KLjlà các biểu thức logic(mệnh đề hoặc vị từ).
Tìm phép gán θcho các biến tự do sao cho từ GT1 ∧ GT2 ∧ … ∧ GTm suy
ra một trong các kết luận KL1 ,…, KLn.
Cơ sở tri thức bằng logic mệnh đề:
Cơ sở tri thức gồm 2 phần:Các sự kiện, các luật.
Các sự kiện được cho bởi các luật đặc biệt dạng :
i
(x,y,z,…) là
các vị từ phụ thuộc vào các hạng thức x, y, z,…
Các luật có dạng p
∧∧
1
p
n
→
q(.).
Logic vị từ cho phép biểu diễn hầu hết các khái niệm và các phát biểu định
lý, định luật trong các bộ môn khoa học. Cách biểu diễn này khá trực quan
và ưu điểm căn bản của nó là có một cơ sở lý thuyết vững chắc cho những
thủ tục suy diễn nhằm tìm kiếm và sản sinh ra những tri thức mới, dựa trên
các sự kiện và các luật đã cho.
Logic vị từ và logic mệnh đề có các ưu điểm sau :
• Là ngôn ngữ biểu diễn kiểu mô tả.
• Có khả năng suy diễn đối với các cơ chế quen thuộc : Pronens & Tollens.
• Khá trực quan với người sử dụng.
• Khá gần gũi về cú pháp với các lệnh lập trình logic, chẳng hạn như
PROLOG.
• Có thể dùng để mô tả cấu trúc mô hình và xử lý động mô hình.
• Có thể kiểm tra tính mâu thuẫn trong cơ sở tri thức.
• Tính mô đun cao. Do vậy, các tri thức có thể thêm bớt sửa đổi khá độc lập
với nhau và các cơ chế suy diễn.
Một số điểm yếu của logic :
• Mức độ hình thức hóa cao, dẫn tới khó hiểu ngữ nghĩa của các vị từ khi
xét chương trình.
• Năng xuất xử lý thấp. Một trong những khó khăn cơ bản của quá trình suy
diễn là cơ chế hợp và suy diễn vét cạn.
Điều kiện m
Thì Kết luận 1
…….
Kết luận n
Công nghệ tri thức và ứng dụng GVHD: GS.TSKH Hoàng Kiếm
Trong đó các điều kiện và các kết luận có thể có dạng khá thoải mái. Trường
hợp mỗi điều kiện i, mỗi kết luận j là vị từ hay mệnh đề thì ta có thể suy diễn
logic thông thường.
Ưu điểm
• Cách biểu diễn khá đơn giản và trực quan.
• Có thể suy diễn theo chiến lược khác nhau : suy diễn tiến, suy diễn lùi, và
suy diễn hỗn hợp.
• Khá gần gũi về cú pháp.
• Có thể kiểm tra tính mâu thuẫn giữa các luật.
• Tính mô đun cao, có nghĩa là việc thêm, sửa đổi hoặc loại bỏ các luật hoàn
toàn không có ảnh hưởng tới các luật khác và cơ chế suy diễn.
Nhược điểm
• Năng xuất xử lý thấp.
• Không sử dụng được các cấu trúc dữ liệu.
2.6.4.4 Biểu diễn tri thức bằng FRAME
Phương pháp biểu diễn tri thức bằng FRAME có tất cả các tính chất vốn
có của một ngôn ngữ biểu diễn tri thức. Nghĩa là nó có thể biểu diễn tri thức ở
góc độ giao diện người-máy, góc độ mô tả mô hình, điều khiển hệ thống. Đồng
thời nó cũng là một cơ sở cho một phương pháp xử lý thông tin mới – hướng đối
tượng. Nếu phương pháp nhờ logic và mạng ngữ nghĩa dùng để biểu diễn tri thức
mô tả và phương pháp luật sản xuất dùng để biểu diễn tri thức thủ tục thì các
FRAME là kết hợp của cả 2 dạng biểu diễn: mô tả và thủ tục.
FRAME tận dụng được các ưu điểm của luật sản xuất, vị từ, cũng như mạng
ngữ nghĩa.
Cấu trúc của FRAME :