Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
“TQ là một nước có truyền thống về thơ. Từ Kinh Thi đến thơ hiện
đại, thơ TQ có hơn 2500 năm lịch sử. Ở mỗi thời đại, thơ đều có những đặc
sắc riêng. Nhưng người TQ cũng như thế giới đều công nhận thơ Đường là
đỉnh cao của thơ TQ và là một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại”
1
.
Thơ Đường là tinh hoa của VHTQ, là một chủ thể có vai trò quan trọng tạo
nên mối quan hệ tương tác giữa dân tộc đã sản sinh ra nó với các dân tộc
khác, trong đó có VN. GS. Trần Đình Sử trong Lý luận và phê bình văn học
có nói rằng: “Đặc sắc của văn học VN như là một nền văn học dân tộc độc
đáo chính là ở cách tiếp nhận, ứng xử của nó đối với tác động ảnh hưởng của
nước ngoài”
2
. Trên thế giới có lẽ hiếm có quan hệ văn chương nào đặc biệt
như quan hệ giữa thơ Đường với thơ Việt. Thơ Đường – chứ không phải
toàn bộ thơ ca TQ – có một ảnh hưởng phong phú, lâu bền và tốt đẹp đối với
thơ Việt, không chỉ ngày xưa mà cả đến ngày nay.
Ở VN, từ đời Lý trở về sau, thơ Đường được ông cha ta tiếp thu rất
nhiều. Nhiều nhà thơ VN đã vận dụng đề tài, thi liệu, tứ thơ, điển cố và ngôn
ngữ trong thơ Đường. Nhiều tập thơ Đường bằng chữ Hán và chữ Nôm đã
xuất hiện ở VN cách đây hàng mấy trăm năm và được phổ biến rộng rãi trong
công chúng. Thơ Đường cũng được đưa vào giảng dạy ở đại học và phổ
thông. Điều đó nói lên giá trị to lớn của thơ Đường và thái độ trân trọng, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại của nhân dân ta. Trong lĩnh vực nghiên cứu, lí
luận phê bình, vấn đề tiếp nhận văn học nói chung và VHNN nói riêng thể
hiện trên các bình diện: Tổng thuật, dịch thuật, giảng dạy trong nhà trường
phổ thông. Xưa nay, chúng ta chỉ mới quan tâm, xem xét những yếu tố ảnh
1
thức thơ Đường trong SGK văn học”... Các bài viết này đã có công đề cập
đến một nội dung quan trọng trong giảng dạy văn học cho HS PT, nhiều bài
đã nêu được những ưu nhược điểm của công tác giảng dạy Đường thi. Tuy
nhiên các bài viết này mới chỉ xem xét vấn đề theo quan điểm của Lí luận
phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn, chưa có một tác phẩm nào tìm hiểu
vấn đề này từ góc độ mỹ học tiếp nhận.
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-2
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
Mới đây, năm 2007, Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mạnh Thị Minh,
lớp K48 NVSP chính quy, do sự hướng dẫn của GV Phạm Ánh Sao đã trực tiếp
bàn về vấn đề: Đường thi trong SGK phổ thông ở VN. Khóa luận này đã có
công rất lớn trong việc hệ thống hóa và chỉ ra những đặc điểm, những đổi thay
trong cách lựa chọn, trình bày và hướng dẫn tìm hiểu Đường thi trong SGK
văn. Đồng thời khóa luận cũng đã lí giải được một đôi điều dẫn đến sự đổi mới
nội dung Đường thi trong mối liên hệ với những tiến bộ của lí luận văn học.
Khóa luận trên đã giải quyết phần nào câu chuyện về giảng dạy Đường thi ở
VN. Tuy nhiên, còn một vấn đề hết sức quan trọng mà do phạm vi đề tài qui
định, khóa luận của sinh viên Mạnh Thị Minh mới chỉ đề cập đến chứ chưa làm
sáng tỏ được, đó là những thay đổi trong cách biên soạn VHTQ trong hai bộ
SGK Văn 10 cải cách ở miền Bắc và miền Nam năm học 1989-90. Do vậy, ở
khóa luận này, chúng tôi không mô tả lại toàn bộ chương trình giảng dạy
VHTQ trong SGK Ngữ văn từ năm 1989-90 cho đến nay mà chỉ đi sâu tìm
hiểu hai bộ SGK Văn 10 cải cách ở miền Bắc và miền Nam năm học 1989-90
để hoàn thiện tiếp công việc tìm hiểu về Đường thi được giảng dạy ở VN mà
tác giả Mạnh Thị Minh còn để ngỏ...
1.2. Tính cấp thiết của đề tài:
Như khóa luận của Mạnh Thị Minh đã đề cập đến: Một trong những
biểu hiện của CCGD chính là nỗ lực đổi mới chương trình học, đổi mới
phương pháp dạy học. Cải tiến SGK nhằm giải quyết một vấn đề trung tâm
giáo dục nhân cách cho HS. Dưới góc độ là người giảng dạy, GV cần phải
nắm được ý đồ lựa chọn của người biên soạn sách. Tại sao tác giả này lại
được đưa vào chương trình mà không phải tác giả khác, tại sao tác phẩm này
được học ở phổ thông trung học chứ không phải phổ thông cơ sở? Cụ thể ở
đề tài này, chúng ta cần phải tìm hiểu tại sao năm học 1989-90, những tác
giả, tác phẩm được chọn giảng ở hai bộ SGK ở hai miền lại có sự khác
nhau? Có sự khác nhau như thế nào về đối tượng tiếp nhận ở thời kỳ này?
Đây tưởng như chỉ là công việc của nhà biên soạn sách nhưng lại cũng chính
là một nhiệm vụ hết sức cần thiết của người GV bởi nếu không nắm được ý
đồ, mục đích của người biên soạn GV rất dễ lạc hướng trong giảng dạy.
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-4
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
Bên cạnh đó, người GV cũng cần phải nhận thức đầy đủ tác dụng của
Đường thi trong vai trò định hướng và giáo dục nhân cách cho HS. Trước
hết, thơ Đường có khả năng cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về một
thời đại huy hoàng trong lịch sử thơ ca nhân loại; bồi dưỡng cho HS tình yêu
thiên nhiên, niềm tin vào cuộc sống; giáo dục cho HS biết sống gắn bó với
nhân dân, biết chia sẻ đồng cảm với những số phận đau khổ; đồng thời rèn
luyện năng lực tư duy sáng tạo cho HS. Mục đích đưa Đường thi vào chương
trình SGK phổ thông không chỉ đơn thuần làm phong phú thêm nội dung
VHNN mà chủ yếu là nhằm mục đích giáo dục nhân cách toàn diện cho HS.
Chính vì vậy, công việc cải cách SGK là công việc đòi hỏi các nhà cải cách
giáo dục phải tốn nhiều thời gian và công sức nhất. Gần đây, trong bối cảnh
nền giáo dục nước nhà có nhiều đổi mới, chương trình và SGK liên tục được
chỉnh sửa, bổ sung và cũng có khá nhiều ý kiến xung quanh câu chuyện này.
Năm học 1989-90 là giai đoạn bước ngoặt trong công tác cải cách giáo
dục ở nước ta. Chương trình VHTQ được đưa vào giảng dạy trong SGK Văn
10 năm học này có sự khác biệt ở miền Bắc với miền Nam và lại càng có sự
khác biệt so với SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000. GV cần nắm vững được sự
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: tác phẩm Đường thi trong SGK Văn 10 cải
cách năm học 1989-90 và nội dung hướng dẫn tìm hiểu tác phẩm.
- Khách thể nghiên cứu: Chương trình SGK Văn 10 cải cách ở miền
Bắc và miền Nam năm học 1989-90 phần thơ cổ TQ: thơ Đường.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
Để trình bày đề tài này một cách khoa học, hệ thống và logic, phương
pháp chủ yếu mà chúng tôi lựa chọn là mô tả, thống kê, phân tích, so sánh
các tư liệu thu thập được về nội dung thơ Đường trong ba bộ SGK mà chúng
tôi đã kể đến ở phần phạm vi tư liệu nghiên cứu. Sau khi thống kê xử lí số
liệu, chúng tôi đi vào phần chính là lí giải sự khác biệt của ba bộ SGK này
trên cơ sở lý thuyết về mỹ học tiếp nhận.
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-6
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
4. Phạm vi nghiên cứu và tư liệu:
Do phạm vi của đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu chương trình
VHTQ (thơ Đường) trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách ở miền Bắc và miền
Nam năm học 1989-90 trong đó có sự so sánh với SGK Ngữ văn chỉnh lí
hợp nhất năm 2000 nên phạm vi tư liệu mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu
chỉ giới hạn trong ba bộ SGK:
- SGK Văn 10 cải cách ở miền Bắc năm học 1989-90 do GS. Nguyễn
Đăng Mạnh chủ biên.
- SGK Văn 10 cải cách ở miền Nam năm học 1989-90 do GS. Nguyễn
Lộc chủ biên.
- SGK Ngữ Văn 10 chỉnh lí hợp nhất năm 2000 do Nguyễn Hải Hà và
Lương Duy Trung chủ biên.
5. Đóng góp của đề tài:
- Như đã nói ở trên, đề tài này không nhằm mục đích hệ thống hóa lại
Ngoài ra, cuối khóa luận còn có Tài liệu tham khảo và Phụ lục.
7. Quy cách trình bày khóa luận:
Khóa luận của chúng tôi được trình bày theo quy cách Trường Đại học
KHXH & NV Hà Nội qui định cho KLTN.
Sau trích dẫn tư liệu đều có ngoặc vuông ghi lần lượt: Số thứ tự tài
liệu (theo danh mục tài liệu tham khảo xếp ở phía cuối khóa luận), trang thứ
bao nhiêu của tài liệu đó.
Phần tài liệu tham khảo bao gồm: SGK và Sách giáo viên; Sách
nghiên cứu; Luận văn và luận án; Báo, tạp chí. Các tài liệu này sắp xếp theo
thứ tự a, b, c tên tác giả.
Chú thích trực tiếp ở chân trang dành riêng cho việc giải thích từ ngữ,
khái niệm ... xuất hiện trong trang viết đó.
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-8
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
SO SÁNH VIỆC TUYỂN CHỌN THƠ ĐƯỜNG
TRONG HAI BỘ SGK VĂN 10 CẢI CÁCH
Ở MIỀN BẮC VÀ MIỀN NAM NĂM 1989-90
Theo Phùng Văn Tửu trong Cảm thụ và giảng dạy VHNN [46], giai
đoạn từ 1956 đến 1979, kể cả sau đợt chỉnh lí SGK năm 1979, SGK môn
Văn vốn không giới thiệu thơ Đường trong chương trình PT. Từ năm 1989
đến 1990 bắt đầu tiến hành đợt cải cách chương trình THPT với quy mô
rộng, trong đó có môn văn học nói chung và bộ phận VHNN nói riêng. Trên
cơ sở chương trình thống nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép triển khai
song song hai bộ SGK Văn 10 do hai tập thể các nhà khoa học của trường
Đại học sư phạm Hà Nội và Hội nghiên cứu văn học TP HCM biên soạn.
Trong khuôn khổ các tác giả, tác phẩm do chương trình ấn định, Bộ cho
phép hai bộ sách có thể chọn những đoạn trích giảng khác nhau. Đến năm
6 Tỳ bà hành Bạch Cư Dị
• SGK miền Nam năm 1990:
STT Tác phẩm Tác giả
1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch
2 Tảo phát Bạch Đế thành (Đọc thêm) Lý Bạch
3 Đăng cao Đỗ Phủ
4 Hoàng Hạc lâu (Đọc thêm) Thôi Hiệu
5 Tỳ bà hành Bạch Cư Dị
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-10
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
• SGK chỉnh lí năm 2000:
STT Tác phẩm Tác giả
1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch
2 Tảo phát Bạch Đế thành (Đọc thêm) Lý Bạch
3 Thu hứng Đỗ Phủ
4 Đăng cao (Đọc thêm) Đỗ Phủ
5 Hoàng Hạc lâu Thôi Hiệu
6 Tỳ bà hành Bạch Cư Dị
Qua ba bảng thống kê các tác giả, tác phẩm trên chúng ta thấy:
- Về các tác giả được chọn giảng, ở ba bộ SGK trên đều giới thiệu và
đưa vào giảng dạy 4 tác giả lớn tiêu biểu cho Đường thi đó là: Lý Bạch, Đỗ
Phủ, Thôi Hiệu và Bạch Cư Dị. Tuy nhiên, các tác phẩm được chọn giảng và
cách phân bố các tác phẩm này lại có sự khác nhau.
- Về các tác phẩm được chọn giảng: chúng ta thấy ở ba bộ SGK trên,
các tác phẩm được chọn giảng của Lý Bạch, Thôi Hiệu và Bạch Cư Dị là
như nhau và không có sự thay đổi khi chỉnh lí. Điều này chứng tỏ giá trị và
mức độ phù hợp của các tác phẩm này đối với HS, chỉ có các tác phẩm của
Đỗ Phủ là có sự khác biệt giữa hai bộ SGK miền Bắc và miền Nam.
+ SGK miền Bắc: chọn giảng 2 tác phẩm là Thu hứng và Nguyệt dạ
- Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu: SGK miền Bắc năm 1990: giảng chính;
SGK miền Nam năm 1990: đọc thêm; SGK năm 2000: giảng chính.
Chúng ta có thể lí giải hiện tượng này là do các nhà biên soạn sách ở
miền Nam nhận thấy bài thơ này khó về nghệ thuật, quá sức đối với HS nên
chỉ xếp nó vào bài đọc thêm để HS tham khảo. Còn theo ý của các nhà biên
soạn sách miền Bắc thì đây là một tác phẩm đặc sắc tiêu biểu cho nội dung
và nghệ thuật của thơ Đường nên đã đưa nó vào phần giảng chính. Đến năm
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-12
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
2000, sau quá trình thử nghiệm ở miền Bắc và miền Nam, các nhà soạn sách
xác định được mức độ phù hợp của tác phẩm này đối với HS nên đã quyết
định chọn giảng chính tác phẩm này.
- Đăng cao – Đỗ Phủ: SGK miền Nam năm 1990: giảng chính; SGK
năm 2000: đọc thêm
Về tác phẩm này, chúng ta thấy ở bộ SGK miền Bắc năm 1990 không
được đưa vào giảng dạy, còn ở bộ SGK miền Nam lại được đưa vào giảng
chính, đó là do ý đồ của người biên soạn sách. Năm 2000, hai tác phẩm được
chọn giảng của Đỗ Phủ là hai tác phẩm được chọn ra từ hai bộ SGK cải cách
năm 1989-90 trong đó bài Thu hứng được giảng chính và Đăng cao là bài
đọc thêm. Điều này cũng là do mức độ phù hợp của các tác phẩm này đối
với quá trình tiếp nhận của HS.
1.3. Tình hình thể loại – bản dịch:
Bảng 3: Bảng thống kê thể loại của các tác phẩm thơ Đường trong
chương trình (cả 2 bộ SGK)
STT Tác phẩm nguyên tác Tác giả
nguyên tác
Thể loại
1 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng
hình thể loại và bản dịch như sau:
- Về thể loại: Qua bảng thống kê thể loại của các tác phẩm thơ Đường
trên chúng ta thấy có hai thể loại tiêu biểu đó là: cổ thể và cận thể. Trong đó
cổ thể chiếm tỉ lệ không đáng kể, chỉ có 1/7 bài (chiếm 14,3%). Còn lại 85,7
% là thơ cận thể bao gồm các thể loại: thất ngôn tuyệt cú, thất ngôn luật thi.
Như vậy chúng ta thấy cận thể là một trong những thành tựu nổi bật của
nghệ thuật sáng tác thơ Đường, được nhiều nhà thơ sử dụng để sáng tác.
Chúng ta cũng nhận thấy trong các thể cận thể thì thể loại tuyệt cú được sử
dụng tương đối nhiều. Đây là thể thơ ngắn nhất TQ phù hợp với thị hiếu và
nhu cầu của con người hiện đại. Không những thể, vì là thể thơ ngắn nhất, ít
câu chữ nhất nhưng vẫn phải truyền tải đến cho người đọc những nội dung
sâu sắc nên có thể nói thể loại này là sự đúc kết và thăng hoa cảm xúc và kĩ
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-14
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
thuật của người nghệ sĩ. Qua đây chúng ta có thể nói rằng, thơ Đường đã đạt
được những thành tựu tốt đẹp về phương diện nghệ thuật. Các nhà thơ
Đường đã mạnh dạn sáng tạo nhiều thể thơ mới lạ đem đến cho thơ ca những
phong cách nghệ thuật độc đáo mà hàng nghìn năm trước chưa hề có.
- Về bản dịch: Chúng ta chủ yếu học thơ Đường qua bản dịch thơ, vì
vậy việc tìm hiểu bản dịch có ý nghĩa rất quan trọng. Dịch thuật là truyền
thống lâu đời của dân tộc ta, công việc này tiến hành từ khi chữ Nôm xuất
hiện và còn kéo dài cho đến ngày nay. Lịch sử dịch thơ Đường bằng chữ
Quốc ngữ bắt đầu bằng những bản dịch trên báo và tạp chí đầu thế kỷ XX,
sau đó là trong những tuyển tập thơ Đường và cả trong các bộ văn học sử
phần văn học đời Đường. Dịch thuật là một công việc rất khó, không chỉ đòi
hỏi người dịch phải hiểu được nguyên lý dịch thuật, nắm rõ văn bản tác
phẩm mà còn phải thấm được vào hồn mình cái hồn của nó, có nghĩa là phải
yêu nó. Nếu không làm được những điều ấy thì bản dịch nếu không vụng về
về hình thức, câu từ thì cũng làm nhạt đi cái hay, cái sâu sắc của nội dung
VHTQ. VHTQ đưa vào trích giảng ở PTTH lúc đó gồm một số thần thoại,
truyền thuyết cổ đại. Về Kinh thi - một tập thơ cổ điển của TQ ra đời cách đây
hơn 2500 năm – có trích giảng hai bài thơ ca dân gian phản ánh tinh thần đấu
tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân TQ thời cổ là bài Phạt đàn (Chặt gỗ
đàn) và bài Thạc thử (Con chuột xù). Tác phẩm Sử ký của Tư Mã Thiên được
trích giảng hai đoạn: đoạn Bữa tiệc hồng môn (trích trong Cao tổ bản kỷ) và
Liêm Pha và Lạn Tương Như (trích trong Liêm Pha và Lạn Tương Như liệt
truyện)... Về thơ Đường có bài Thạch Hào lại (Tên lại ở Thạch Hào) của Đỗ
Phủ. Văn học hiện đại TQ chủ yếu là học các truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn
như AQ chính truyện và Cố hương dạy ở chương trình văn cuối cấp PTTH. Tuy
không nhiều nhưng văn thơ TQ đưa vào trích giảng ở nhà trường PT lúc đó có
tác dụng tốt để lại ấn tượng sâu sắc cho HS, nhất là giúp các em liên hệ so sánh
với thơ văn VN học trong chương trình. Ví dụ học hai bài thơ dân gian trong
Kinh thi là Phạt đàn và Thạc thử HS có thể hiểu thêm phần ca dao chống đế
quốc, phong kiến của VN. Học AQ chính truyện của Lỗ Tấn, các em có thể liên
hệ so sánh với truyện Chí Phèo (Nam Cao)...
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-16
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
Trong chương trình cải cách môn Văn ở miền Bắc và miền Nam năm
học 1989-90, phần VHTQ rất được chú ý. Thơ, văn TQ đưa vào trích giảng
ở nhà trường PT chọn lựa có hệ thống và đầy đủ hơn. Ở PTCS, các em được
học một số bài thơ tiêu biểu của Lý Bạch và Đỗ Phủ. Về Đỗ Phủ, các em học
bài thơ về chủ nghĩa hiện thực và nhân đạo của ông. Đó là bài Thạch Hào lại
(Tên lại ở Thạch Hào) và bài Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài ca gió thu
tốc nhà). Hai bài thơ bài thơ này chẳng những có giá trị về nội dung mà còn
có giá trị về nghệ thuật. Về thơ lãng mạn của Lý Bạch, HS học ba bài đó là
bài Hành lộ nan (Đường đi khó) và hai bài thơ tả cảnh thiên nhiên Vọng Lư
Sơn bộc bố (Ngắm thác núi Lư), Tĩnh dạ tư (Suy nghĩ trong đêm thanh tĩnh).
Ở PTTH, HS lại được học ba nhà thơ lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch
chữ Hán, tuy nhiên cách đánh máy văn bản lại có sự khác nhau: một bên là
viết hoa in đậm và một bên là viết thường và in đậm. Cách trình bày tiêu đề
tác phẩm không chỉ khác nhau trong cùng một thời điểm biên soạn SGK
năm 1990 mà so với các bộ SGK trước và sau nó, chúng tôi đã khảo sát và
cũng nhận ra sự khác biệt. Có rất nhiều cách trình bày tiêu đề tác phẩm:
ngoài cách mà hai bộ SGK Văn 10 ở miền Bắc và miền Nam năm 1990 đã
sử dụng, còn có nhiều cách trình bày tiêu đề tác phẩm khác mà các bộ SGK
Văn 10 sau này đã sử dụng. Ví dụ:
- Dùng tiêu đề chữ Hán là chính và tiêu đề tiếng Việt là phụ như bộ
SGK Văn 10 chỉnh lí hợp nhất năm 2000 (Tiêu đề chữ Hán viết hoa, in đậm;
tiêu đề tiếng Việt viết thường, in nghiêng và đặt trong dấu ngoặc đơn ở phía
dưới tiêu đề phiên âm chữ Hán, có chú thích ở những từ ngữ cần làm rõ).
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-18
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
2.2. Cách giới thiệu văn bản:
* Giống nhau:
- Qua khảo sát chúng tôi thấy về cách giới thiệu văn bản tác phẩm, cả
hai bộ SGK ở miền Bắc và miền Nam đều giới thiệu cả phần phiên âm, dịch
nghĩa (hay dịch văn xuôi) và dịch thơ (trừ tác phẩm Tỳ bà hành do quá dài).
- So với các bộ SGK sau này, đây vẫn là cách trình bày chủ yếu mà
những người biên soạn sách lựa chọn sử dụng. Đây là một công việc có ý
nghĩa quan trọng và thể hiện ý thức của người biên soạn bởi chúng ta đang
học về thơ cổ TQ. Ngoài việc hiểu được bản dịch nghĩa, dịch thơ, người học,
người đọc còn phải rèn luyện năng lực tư duy thông qua việc tiếp cận với
nguyên tác của tác phẩm. Chúng ta phải có sự đối chiếu và đánh giá các bản
dịch so với nguyên tác; cao hơn, chúng ta còn có thể có những cách dịch
khác theo tầm nhận thức của chúng ta. Vì vậy, theo chúng tôi đây là một
cách giới thiệu văn bản mang tính truyền thống, phù hợp và cần được các
nhà biên soạn lưu giữ.
như văn học cổ TQ, chúng ta không thể xem xét tác phẩm đó như một chỉnh
thể độc lập mà nhất thiết phải đặt nó trong các mối quan hệ. Bài khái quát
thơ Đường giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thời đại, lịch sử văn hóa
xã hội TQ; giới thiệu cho chúng ta những đặc điểm chung về nội dung và
hình thức của thơ Đường cũng như mối quan hệ giữa thơ Đường với VN (bổ
sung trong cuốn SGK chỉnh lí năm 2000). Những tri thức này sẽ giúp chúng
ta có những sự liên hệ nhất định khi tiếp nhận văn bản tác phẩm.
- Về trình tự cấu trúc bài học được sắp xếp như sau:
+ SGK Văn 10 ở miền Bắc năm 1990: Tên tác phẩm, tên tác giả, văn bản tác
phẩm (gồm phần phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ), chú giải, hướng dẫn học bài.
+ SGK Văn 10 ở miền Nam năm 1990: Tên tác phẩm, tên tác giả, tiểu
dẫn, văn bản tác phẩm (gồm phần phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ), chú
thích, hướng dẫn học tập.
(SGK năm 2000: Tên tác giả, tiểu dẫn, tên tác phẩm, văn bản tác
phẩm, chú thích, hướng dẫn học bài).
- Về cách thức trình bày dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-20
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
+ SGK Văn 10 ở miền Bắc năm 1990: chỉ in tên người dịch, không in
xuất xứ bản dịch.
Ví dụ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng: Ngô
Tất Tố dịch; Tảo phát Bạch Đế thành: Tương Như dịch; Thu hứng: Nguyễn
Công Trứ dịch; Nguyệt dạ: Tản Đà dịch; Hoàng Hạc lâu: Tản Đà dịch (bản
1), Khương Hữu Dụng dịch (bản 2); Tỳ bà hành (không ghi tên người dịch)
+ SGK Văn 10 ở miền Nam năm 1990: in tên người dịch và in cả xuất
xứ của bản dịch.
Ví dụ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng: Ngô
Tất Tố dịch (Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội – 1987); Đăng cao:
Nam Trân dịch (Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội – 1987); Tỳ bà
khoa miền Nam năm 1989-90 chúng ta lại thấy người biên soạn sắp xếp
trình tự bài học theo vai trò của bài học đó trong nội dung chương trình
nghĩa là học hết những bài học chính sẽ chuyển sang những bài đọc thêm
cũng của chính tác giả đó.
Như vậy, tuy cùng giảng dạy một nội dung Đường thi nhưng ngay
trong năm 1989-90, hai bộ SGK ở miền Bắc và miền Nam đã có sự khác
nhau về một số phương diện hình thức. Đặt trong mối quan hệ so sánh với
bộ SGK chỉnh lí hợp nhất năm 2000 chúng ta càng thấy rõ những sự khác
biệt và thay đổi của hai bộ SGK này: không chỉ khác nhau về kênh chữ,
kênh hình mà còn trong cách thức trình bày nội dung bài học Đường thi
trong SGK. Những phương diện hình thức nãy sẽ cho chúng ta một cái
nhìn toàn diện hơn về nội dung được soạn giảng trong những bộ SGK này
cũng như giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về quan niệm của đội ngũ
những người biên soạn SGK.
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-22
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
2.5. Cấu trúc chi tiết nội dung bài học Đường thi:
2.5.1. Bài khái quát về thơ Đường:
* SGK miền Bắc năm 1990:
- Bài khái quát về thơ Đường: có thể tóm lược cách trình bày và nội
dung các mục lớn như sau:
GIỚI THIỆU CHUNG
Thơ Đường là một thành tựu hết sức rực rỡ và độc đáo, không chỉ của
nền thơ ca cổ điển TQ mà của cả nền thơ ca nhân loại. Hiện còn 48000 bài
của trên 2300 tác giả.
I. NGUYÊN NHÂN PHÁT TRIỂN
- Về lịch sử xã hội: Sự thịnh hành của đời Đường (618 – 907) tạo có
sở vật chất thuận lợi cho sự phát triển của văn hóa, văn học và thơ ca. Sự
biến An Lộc Sơn – Sử Tử Minh làm cho đất nước TQ rối ren. Đây chính là
Đường luật gồm ba dạng chính: bát cú (tám câu, có thể là “thất ngôn”
hoặc “ngũ ngôn”), tuyệt cú (bốn câu) và bài luật (trường luật)
b) Luật thơ:
- Sự phối hợp các thanh bằng và trắc hết sức hài hòa
- Cấu trúc bài thơ hết sức chặt chẽ
c) Ngôn ngữ thơ: chữ dùng ở thơ Đường thường đơn giản nhưng rất
tinh luyện. Số chữ được dùng rất ít nên làm thơ Đường không thể sử dụng
chữ tùy tiện
d) Tứ thơ: Tứ trong thơ Đường rất phong phú và đa dạng. Cùng với
các đặc điểm trên, đặc điểm này làm cho thơ Đường, đặc biệt là những bài
bát cú và tuyệt cú, mang tính chất hàm súc nổi bật.
* SGK miền Nam năm 1990:
- Bài khái quát về thơ Đường: được trình bày như sau:
GIỚI THIỆU CHUNG
Thơ Đường là một thành tựu xuất sắc của nền thơ cổ Trung Hoa, đồng
thời cũng là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử văn học thế giới. Trong
vòng 3 thế kỉ, thơ ca đời Đường đã để lại cho lịch sử tên tuổi của 2300 nhà
Khóa luận tốt nghiệp - Lớp NVSP K50 - ĐH KHXH & NV Hà Nội
-24
Phạm Thị Phương Thơ Đường trong hai bộ SGK Văn 10 cải cách...
thơ với khoảng 48000 bài thơ. Nhưng sự phát triển rực rỡ của thơ Đường đặt
trong bối cảnh lịch sử xã hội của nó là một điều hoàn toàn có thể hiểu được
1. Hoàn cảnh xã hội đời Đường
- Nhà Đường lập nước (618 – 907)
- Kinh tế, xã hội phồn vinh, cục diện chính trị ổn định
- Giữa thế kỉ III, tình hình xã hội đời Đường có nhiều thay đổi. Sau sự
biến An Lộc Sơn, Sử Tử Minh khiến cho nhà Đường trở nên suy thoái.
2. Nguyên nhân phát triển của thơ Đường
- Kinh tế phồn vinh, xã hội thái bình ở đầu đời Đường đã chuẩn bị cơ
sở vật chất cho sự phát triển của thơ ca.