PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng
góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn
nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu
tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những
phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Bắc
Ninh là một trong những tỉnh có nhiều làng nghề nhất ở nước ta. Hiện
nay, toàn tỉnh có 62 làng nghề, trong đó có 30 làng nghề truyền thống và
32 làng nghề mới với những sản phẩm nổi tiếng như sắt thép (Đa Hội,
Châu Khê, Từ Sơn), giấy (Phong Khê, Phú Lâm), nấu rượu (Đại Lâm,
Tam Đa), đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ)
Hàng năm, các làng nghề đã đóng góp rất lớn vào ngân sách Nhà
nước, tạo việc làm tại chỗ cho gần 35 nghìn lao động và thu hút hàng
nghìn lao động nông thôn ở các vùng phụ cận. Việc khôi phục các làng
nghề cũ, xây dựng các làng nghề mới, hình thành các cụm công nghiệp
theo ngành nghề xuất phát từ nhu cầu cuộc sống; là mục tiêu, động lực
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông
nghiệp, phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ về công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
pg. 1
1
Theo thống kê, Bắc Ninh chiếm 18% số làng nghề và trên 30% số
làng nghề truyền thống của cả nước. Làng nghề Bắc Ninh đóng góp quan
trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương những năm qua. Tính từ năm
1997 đến nay giá trị sản xuất của khu vực làng nghề TTCN chiếm 75 -
80% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và trên 30% giá trị
sản xuất công nghiệp của tỉnh, cải thiện đời sống nhân dân, nhiều hộ giàu
có nhờ phát triển nghề truyền thống.(Sở Công Thương Bắc Ninh 2008)
[6].
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại làng nghề đúc đồng Đại
Bái.
- Xác định mức độ ô nhiễm nguồn nước tại làng nghề
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường nước làng nghề tới
sức khỏe người dân.
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiếu ô nhiễm môi trường nước tại
làng nghề đúc đồng Đại Bái.
pg. 3
3
1.4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập
- Tạo cho sinh viên cơ hội nâng cao kiến thức, tiếp cận với thực
tiễn, vận dụng lý thuyết đã học vào thực tế, rèn luyện kỹ năng tổng hợp
và phân tích số liệu
- Quá trình thực hiện đề tài, sinh viên được đóng vai trò như một
cán bộ tập sự, làm bước đệm chuẩn bị cho công việc trong tương lai.
* Ý nghĩa trong quản lý môi trường.
- Nâng cao công tác quản lý môi trường làng nghề tại địa phương.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài nghiên cứu vấn đề môi trường nước, một vấn đề bức xúc
của người dân địa phương.
- Các số liệu thu thập, tổng hợp, phân tích được phải chính xác có
thể sử dụng làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện
thực tế của địa phương.
- Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân trong các làng
nghề nói chung và người dân tại làng nghề đúc đồng Đại Bái nói riêng.
pg. 4
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm
trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn
cứ để quản lý và bảo vệ môi trường .(Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt
Nam, 2005) [4]
* Khái niệm bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành
sạch xẽ, phòng ngừa hạn chế các tác động xấu tới môi trường, ứng phó sự
cố môi trường , khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi
trường , khai thác sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ đa dạng sinh học.(Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam, 2005)[4]
* Khái niệm ô nhiễm môi trường nước
pg. 6
6
S ụ nhim mụi trng nc l s thay i thnh phn v tớnh cht
ca nc gõy nh hng n hot ng sng bỡnh thng ca con ngi v
sinh vt.
Theo hin chng Chõu u ễ nhim mụi trng nc l s bin
i ch yu do con ngi gõy ra i vi cht lng nc lm ụ nhim
nc v gõy nguy hi cho vic s dng, cho nụng nghip, cho cụng
nghip, nuụi cỏ, ngh ngi, gii trớ, cho ng vt nuụi cng nh cỏc loi
hoang dó.
* Khỏi nim v nc ngm
Nc ngm l mt dng nc di t, tớch tr trong cỏc lp t ỏ
trm tớch b ri nh cn, sn, cỏt bt kt, trong cỏc khe nt, hang caxt di
b mt trỏi t, cú th khai thỏc cho cỏc hot ng sng ca con ngi
* Khỏi nim nc thi
Nc thi l cht lng c thi ra sau quỏ trỡnh s dng ca con
ngi v ó b thay i tớnh cht ban u ca chỳng.
* Mt s khỏi nim v lng ngh.
Khái niệm làng nghề đợc hiểu theo nhiều cách thức khác nhau. Các
8
* Tiêu chí công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống.
Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của
BNN&PTNT hướng dẫn một số nội dung của Nghị Định số 66/2006/NĐ-
CP ngày 07/07/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn,
một tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền
thống như sau:
Tiêu chí công nhận làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến
thời điểm đề nghị công nhận;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất
một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này.
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn của tiêu chí công nhận làng
nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy
định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền
thống.
pg. 9
9
2.2. Cơ sở pháp lý
- Luật BVMT do Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam thông qua mgày 29/11/2005.
- Luật Tài nguyên nước do Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005.
- Luật Quy Chuẩn và Quy chuẩn kĩ Thuật do Quốc Hội Nước Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 29/6/2006.
- QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi
trường
- QCVN 14:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia nước
thải sinh hoạt.
- QCVN 24:2009/BTNMT Quy chuẩn Quốc gia về chất lượng
nước thải công nghiệp.
2.3. Cơ sở lý luận
Nước là khởi nguồn của sự sống của vi sinh vật trên Trái Đất,
không có nước thì không có sự sống. Tài nguyên nước là tài nguyên quan
pg. 11
11
trọng hàng đầu phục vụ cho con người nhưng cùng với đó nước cũng kéo
theo những mối nguy hiểm hàng đầu với các thảm họa tự nhiên như lũ
lụt, bão, hạn hán…
Vấn đề tài nguyên nước là vấn đề không chỉ của một quốc gia vì
nước không chỉ chảy trong phạm vi một quốc gia mà là vấn đề liên quốc
gia hay thế giới. Bảo vệ tài nguyên nước là vấn đề liên quan tới chính trị,
ngoại giao và nhân văn. Vì vậy các quốc gia phải có cách cư xử đúng
mực trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước vì quyền lợi chung.
Hện nay trên phạm vi toàn cầu con người đã sử dụng 8% trong
tổng số nước ngọt được khai thác cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp,
63% cho nông nghiệp. Ở Việt Nam theo chiến lược cấp nước đến năm
2010, để phục vụ cho nông nghiệp cần khoảng 80 triệu m3, cho sinh hoạt
cần 6-8 triệu m
3
và 15 triệu m3 cho công nghiệp. Tổng số nước cần từ 90
đến 105 triệu m
3
chiếm khoảng 30% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ
Việt Nam.(Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh, 2010)[9]
pg. 13
13
chế tác đá, gốm mà đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi như: khoan, mài
đá,…
Thời Đông Sơn: từ gần 3000 năm đến 258 trước Công nguyên,
người Việt Đông Sơn đã phát minh ra công thức đồng thau, đồng thanh,
và một số sản phẩm độc đáo của nghề đúc đồng đương thời.
Thời kỳ Bắc thuộc: tuy bị cấm đoán, một số yếu tố kỹ thuật vẫn
tiếp tục vươn lên và kinh nghiệm sản xuất của người Hán vẫn được du
nhập vào Việt Nam như nghề làm gốm, rèn sắt,…Khi Ngô Quyền chiến
thắng quân Nam Hán, nghề của Việt Nam mới dần dần được khôi phục
và phát triển.
Thời kỳ độc lập tự chủ (thế kỷ XI-XIV) dưới triều đại nhà Lý và
nhà Trần, nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển cả về chất
lượng và chủng loại như nghề gốm, chạm khắc gỗ và đá, giấy dó, làng
kim hoàn….
Thời hậu Lê và thời Mạc (thế kỷ XV-XVIII) làng nghề thủ công
tiếp tục ra đời và sản xuất ổn định.
Thời cận đại (từ 1858 trở về trước), thủ công nghiệp và làng nghề
truyền thống ở nông thôn tiếp tục phát triển. Nghề thủ công có vai trò hết
sức quan trọng, thường được gắn với tên làng tên xã của nông thôn Việt
Nam như gốm Thổ Hà, gạch Bát Tràng, tranh dân gian Đông Hồ,…Sự
phát triển của làng nghề truyền thống thời kỳ này khá phong phú và đa
pg. 14
14
dạng, thể hiện sự phân công lao động và chuyên môn hoá theo nghề ngày
càng cao.
Thời Pháp thuộc (1945-1958): chính quyền Pháp ở Đông Dương
đóng vai trò chủ đạo trong việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt
Nam. Chúng cũng đã tiến hành điều tra, khảo sát, đầu tư phát triển các
ở đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là miền Trung
(chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%).
Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ làng nghề theo khu vực ở Việt Nam
pg. 16
16
Theo ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt
Nam đã có tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8% năm, tính
theo giá trị đầu ra. Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề
rất phong phú và đa dạng với hàng trăm loại nghề khác nhau.
Việc phân loại nhóm ngành như trên dựa trên các yếu tố tương
đồng về công nghệ sản xuất, nguyên vật liệu, sản phẩm và thị trường tiêu
thụ của các làng nghề. Ta thấy, đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) là vùng
tập trung nhiều làng nghề nhất, tiếp theo là Bắc Trung Bộ, Nam Trung
Bộ.
2.4.3. Phân loại làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo
một số dạng như sau:
- Theo làng nghề truyền thống và theo làng nghề mới
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
- Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm
- Theo mức độ sử dụng nguyên nhiên liệu
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo
mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận
vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại
hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề,
pg. 17
17
mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy
* Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá:
Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng
cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng. Lao động gần như
hoạt động thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí
hóa thấp, ít thay đổi. Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu về xây dựng
nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng
phát triển nhanh và tràn lan ở các vùng nông thôn. Nghề khai thác đá
cũng phát triển ở những làng gần các núi đá vôi được phép khai thác,
cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất sản phẩm thủ công mỹ
nghệ và vật liệu xây dựng.
pg. 19
19
* Làng nghề tái chế phế liệu:
Chủ yếu các làng nghề mới hình thành, số lượng ít nhưng lại phát
triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa,
vải đã qua sử dụng). Ngoài ra, các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim
loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp
vào loại hình làng nghề này. Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc, công
nghệ sản xuất đã từng bước được cơ khí hóa.
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ thủy tinh mỹ nghệ; chạm
khắc đá, mạ bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài,
làm nón, dệt chiếu, thêu ren. Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷ trọng lớn
về số lượng (gần 40% tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sản
phẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân
tộc. Quy trình sản xuất gần như không thay đổi, lao động thủ công, nhưng
đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỉ mỉ và sáng tạo.
* Các nhóm ngành khác:
pg. 20
20
thiết bị cũ chắp vá, thiếu đồng bộ. Trình độ tay nghề không đồng đều
trong các loại hình sản xuất, thiếu công nhân lành nghề được đào tạo
toàn diện, thiếu nghệ nhân. Truyền nghề qua kinh nghiệm và tự học hỏi.
Chính sự yếu kém này đã hạn chế năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu
quả sản xuất do đó đã làm giảm khả năng cạnh tranh.
- Cơ sở hạ tầng tại các làng nghề: Chính tính phân tán, tự phát, quy
mô nhỏ sẽ hạn chế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường xá trạm
điện cấp thoát nước…) cà đặc biệt khó khăn trong việc quản lý chất thải
(xử lý, thu gom…) để giảm thiểu ô nhiễm, caiir thiện môi trường. Tuy
nhiên cùng với sự phát triển của nông thôn Việt Nam, đa số các làng nghề
tập trung ở đồng bằng đều đã có “điện, đường, trường, trạm” tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, giao thông và thông tin.
- Vấn đề xã hội tại các làng nghề: Phát triển sản xuất tại các làng
nghề đã mang lại lợi ích không chỉ về kinh tế mà còn là mối quan hệ tình
làng nghĩa xóm tốt lên do tao công ăn việc làm cho bà con láng giềng.
Mọi người gắn bó với nhau hơn. Nhiều phong tục truyền thống được
pg. 22
22
phục hồi như hội làng, giỗ tổ của nghề… đóng góp xây dựng nhà tình
nghĩa, nghĩa trang, trường học. Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều tiêu cực
như cờ bạc, rượu chè hay cạnh tranh mối hàng trong sản xuất.
2.4.5. Hiện trạng mơi trường làng nghề Việt Nam
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô
nhiễm và làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp
tới sức khỏe người dân và ngày càng trở thành vấn đề bức xúc. Ô
nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau:
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán
trong phạm vi một khu vực (thôn, làng, xã, ). Do quy mô sản xuất
nhỏ, phân tán, đan xen với khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô
nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát.
xuất làng nghề cho thấy, hàm lượng bụi đều vượt TCVN từ 3-8
lần, hàm lượng SO
2
có nơi vượt đến 6,5 lần.(Bộ TN&MT 2008)[1]
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và
giết mổ: ô nhiễm không khí đặc trưng do sự phân huỷ các chất hữu
cơ không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất
hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO
2
, NO
2
,
pg. 24
24
H
2
S, NH
3
, CH
4
và các khí ô nhiễm gây mùi tanh thối khó chòu, nhất
là ở các cơ sở chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm.
Các làng nghề ươm tơ, dệt vải và thuộc da: ô nhiễm không
khí cục bộ. Tại các làng nghề này, khu vực sản xuất của làng nghề
dệt nhuộm thường bò ô nhiễm bởi các thông số như bụi, SO
2
, NO
2,
môi trường vi khí hậu ở các làng nghề dệt thường bò ô nhiễm bởi