Tìm hiểu những ảnh hưởng từ hoạt động khai thác lộ thiên các mỏ năng lượng(than ), các khoáng sản kim loại và mỏ vật liệu xây dựng tác động tới môi trường và giải pháp khắc phục - Pdf 35

Bài tập lớn

Đề bài: Tìm hiểu những ảnh hưởng từ hoạt động
khai thác lộ thiên các mỏ năng lượng(than...), các
khoáng sản kim loại và mỏ vật liệu xây dựng tác
động tới môi trường và giải pháp khắc phục.

Sinh viên :NGUYỄN THỌ THÀNH
Lớp

:DH3KD

MSV

:DH00300768


Phụ lục

Chương 1: Mở đầu.
Chương 2: Những ảnh hưởng tới môi trường do khai
thác mỏ lộ thiên.
2.1.Những ảnh hưởng khai thác liên quan đến.
2.2 .Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác các mỏ năng
lượng( than...) tới môi trường.
2.3. Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác các khoáng sản kim
loại tới môi trường.
2.4. Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác các mỏ vật liệu xây
dựng.

Chương 3:Giải pháp khắc phục.



mỏ.Việc mở khai trường và đổ đất đá thải của khai thác lộ thiên đã
trực tiếp và gián tiếp làm biến dạng một cách đáng kể địa mạo và cảnh
quan khu vực.
2.1.1.Chiếm dụng nhiều diện tích đát trồng trọt và cây xanh.
Diện tích đất canh tac và thảm thực vật mà các mỏ lộ thiên chiếm
dụng để mở khai trường và đổ đất đá thải khá lớn.Việc chiếm dụng đất
trồng trọt chủ yếu là do các mỏ than bùn,một số mỏ than nâu, các mỏ
bauxit và một số khác là do các mỏ quặng sa khoáng.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân
làm giảm độ che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vậtbị suy
giảm. Hoạt động khai thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động
vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do các điều kiện sinh sống ở
rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấuđi. Một số loài thực vật bị giảm
sốlượng, độngvật phải di cư sang nơi khác.

Ruộng bị san ủi để khai thác
vàng
( Lương sơn- Hoà Bình)
Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng kể diện tích đất nông, lâm
nghiệp và ảnh hưởng đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm
nghiệp để làm khai trường


2.1.2 Ô nhiễm không khí, nước, biến đổi chế độ thủy văn.
Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải
với khối lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước.
Nước mỏ thấm ra xung quanh làm bẩn đất đai và nước ngầm.Phần
lớn nước bị ô nhiễm bản là do các hợp chất clorua và các ion SO4^2+.

học là làm đục nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt
và một số khoáng vật nặng.
VD :Với dụ án khai thác và tuyển quặng vàng thì người ta phải dùng
đến thuốc tuyển chứa Hg, ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng như
asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể rửa lũa hoà tan vào
nước. Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng vàng là
nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông
nghiệp. Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn
sét, một số kim loại nặng và hợp chất độc như Hg, As, Pb v.v... mà
nguyên nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ
bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển quặng

Bụi từ quặng chì do xí nghiệp
chì -kẽm Chợ Điền ( Bắc Kạn)
khai thác

Bể nước sạch của các cô giáo
Trường tiểu học Bản Thi., huyện
Chợ Đồn - Bắc Kạn là một vũng
nước trong hốc đá đen quặng
chì, bùn và rác.

Nước mỏ thường gây ra các bệnh ngoài ra như ghẻ, lở và ngứa,
nấm ngoài ra...Đặc biệt thường gây rqa một số bệnh đường ruột.
Nguyên nhân chính là do các muối kim loại nặng hòa tan trong nước


gây cản trở hoạt động lên men cũng như các quá trình sinh hóa khác
trong cơ thể.
-Sự suy giảm môi trường không khí ở các mỏ lộ thiên xảy ra chủ

Vì vậy những tác động nổi bật của khai thác than lộ thiên đến môi
trường là:
+ Làm biến dạng địa hình, địa mạo và cảnh quan khu vực.
+Bồi lấp sông suối và làm thay đổi chế độ thủy văn khu vực.
+ Làm ô nhiễm nặng tới môi trường không khí bởi bụi mỏ.
- Làm thay đổi địa hình
+ Địa hình sau dưới mực nước biển : tạo nên các moong sâu, với diện
tích và chiều sâu ngày càng gia tăng.
+ Thay đôi đường bờ biển :Mùa mưa lũ bùn đất và than cám cùng các
chất thải rắn khác từ nhiều bãi thải và các mỏ theo các sông ngòi,
mương thoát nước đổ ra biển vùi lấp bồi lắng và gây ra ô nhiễm hải
dương.
2.2.2..Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác mỏ.
- Trong quá trình khai thác thì môi trường không khí bị ô nhiễm
nghiêm trọng do bụi không chỉ ở những khu vực khai thác mà cả ở các
khu vực dân cư, trong các làng mạc và các khu đô thị. Bụi bao phủ lên
khắp các làng mái nhà, ruộng vườn, trên cá thảm xây xanh dọc theo
đường vận chuyển than. Bụi tích tụ trên lá cây làm giảm khả năng
quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây xanh do có các độc tố
chứa trong bụi... Bụi gây tác hại đến các công trình và vật liệu, máy
móc vì bụi có chứa các chất hoá học, khi bám vào bề mặt của vật liệu
sẽ gây ra các phản ứng hoá học, làm hư hỏng các công trình máy móc
thiết bị. Bụi gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng, gây ra bệnh
bụi phổi và các bệnh đường hô hấp.
-Nguồn sinh bụi chủ yếu là do các khâu khoan nổ mìn, khai thác
gương lò chợ, sàng tuyển tại các nhà máy tuyển than, bốc rót than tại
các bến cảng, bụi từ cá bãi thải mỏ lộ thiên cao hàng trăm mét, dài
hàng chục km theo dọc bờ biển từ vịnh Hạ Long đến Bái Tử Long do
gió cuốn theo, bụi do vận chuyển than và đất đá bằng ôtô từ khu vực
khai thác qua các khu dân cư đến nhà máy tuyển, kho chứa hoặc đến

2.3. Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác các khoáng sản
kim loại tới môi trường.
Các mỏ khoáng sản là nguồn cung cấp lượng lớn các nguyên tố và
khoáng vật độc hại vào môi trường tự nhiên.Tùy theo loại hình
khoáng sản khác nhau mà lưu ý tập trung đánh giá ảnh hưởng của các


nhóm nguyên tố và nhóm khoáng vật độc hại khác nhau. Dưới đây là
một số mỏ phổ biến và các yếu tố có thể gây bẩn môi trường tự nhiên:
Các mỏ thuộc nhóm siderophil: ở khía cạnh địa hóa môi trường, các
mỏ sắt ít độc hại hơn vì chúng chứa ít sulphur và các nguyên tố độc
hại, nhưng về quy mô thì khá lớn. Tương tự các mỏ mangan cũng
chứa ít các tạp chất độc hại.
Oxit mangan và oxit sắt là những khoáng vật chính đi kèm với
quặng thâm nhập vào môi trường với lượng lớn và làm ô nhiễm môi
trường đất và nước. Bụi có chứa các oxit mangan và oxit sắt là nguyên
nhân gây ra các bệnh về phổi và làm tăng khả năng mắc bệnh ung thư
khi tiếp xúc lâu với chúng. Sự thâm nhập thường xuyên vào phổi các
hạt bụi thạch anh gây nên bệnh nghề nghiệp đặc trưng - bệnh nhiễm
bụi silic (silicoz).
Trên các mỏ khai thác crom thường chứa nhiều kim loại độc hại đi
kèm và có cả crizotilasbet. Trong các loại mỏ thuộc nhóm này thì
nguy hiểm nhất là mỏ đồng - nickel, vì xung quanh mỏ thường hình
thành vùng sinh địa hóa của Ni, Co, Cu, Se với bán kính đến hàng
chục km. Các mỏ cobal như cobal arsenit, arsenit nickel - cobal là các
chất lưu giữ các nguyên tố độc hại và có thể là nguồn gây bẩn phức
hợp đối với môi trường tự nhiên.
Các mỏ thuộc nhóm chalcophil: trên thực tế tất cả các mỏ thuộc
nhóm này đều nguy hiểm đối với môi trường. Các mỏ đồng pophyr là
mỏ có trữ lượng Cu lớn nhất, và đi kèm trong chúng là các nguyên tố

dị thường nguồn kỹ thuật trong khu vực triển khai các công trình thăm
dò chủ yếu la tỏa theo các dòng nước, gây nguy hiểm đồi với các sinh
vật sinh sống dưới nước. Bề mặt của thổ nhưỡng trong khư vực bãi
thải sẽ bị nhiễm bẩn và cây cối sẽ hấ thụ Pb, Sn và các nguyên tố kim
loại khác.

2.4. Ảnh hưởng từ hoạt động khai thác các mỏ vật liệu xây
dựng.
-Khai thác vật liệu xây dựng bằng phương pháp looj thiên chiếm
100% sản lượng các mỏ trong toàn quốc bao gồm đá xây dựng, đá
dùng cho công nghiệp xi măng, cát sỏi lòng sông phục vụ cho giao
thông , cầu đường...


Hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang tác động xấu đến môi
trường xung quanh như: tác động đến cảnh quan và hình thái môi
trường, tích tụ và phát tán chất thải, làm ảnh hưởng đến việc sử dụng
nguồn nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ…
Những hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt khai thác than, titan,
bauxite đang phá vỡ cân bằng hệ sinh thái, gây ô nhiễm nặng nề với
môi trường, trở thành vấn đề cấp bách với cộng đồng. Ví dụ như :
-Ô nhiễm do chất thải rắn :Qúa trình khai thác và chế biến đá sẽ sản
sinh ra một lượng chất thải rắn, cặn lắng sẽ làm gây ô nhiễm do lắng
đọng, bồi đắp gây sơ cứng đất trồng...
-Ô nhiễm do khai thác đát sét, cát : Chủ yếu gây ô nhiễm do bụi, chất
thải rắn và cặn lơ lửng.Với một nhà máy xi măng dùng sản lượng 2tr
tấn đá/ năm thì cần có 30 ngàn tấn silic và 200 ngàn tán sét, như vậy
lượng bụi sẽ phát tàn vào môi trường là rất lớn. Đặc biệt các hạt set
nhỏ rất khó lắng đọng , quẵng đường lắng rất dài, độ đục sau thời gian
hầu như không giảm và gây ô nhiễm trên một vùng diện rộng, ảnh

+Kiểm soát chặt chẽ việc đổ thải, đổ đúng nơi quy định.
+Nước thải từ mỏ cần được dẫn vào hồ lắng rõ ràng tránh để chảy
tràn, lung tung dẫn đến ô nhiêm trên diện rộng nhất là đối với những
mỏ kim loại.
+Hạn chế dầu mỡ từ các thiết bị máy móc tránh để lan ra khu vực...
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sạch,
thân thiện với môi trường trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng
sản; phát triển các công nghệ xử lý và tái chế, tái sử dụng chất thải; có
chương trình triển khai và nhân rộng mô hình sản xuất sạch hơn cho
cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chế biến khoáng sản và
phục hồi môi trường...
-Hạn chế ảnh hưởng từ khói bụi, nổ mìn :
+Nghiên cứu áp dụng những thiết bị máy móc làm giảm thiểu tiếng
ồn.
+Trong công tác vận tải, xuc bốc thì cần tiến hành bê tông hóa mặt
đường, có thể che kín các thùng xe bằng bạt hay lưới.
+Tránh các rò rit, rơi vãi nguyên liệu vật tư sản phẩm trong quá
trình vận chuyển.


+Tiến hành phun nước thường xuyên trên các tuyến đường trọng
điểm nhất là đường ra bãi đổ thải.
+ Ạp dụng hình thức vận tải bằng băng truyền.
+ Đầu tư thiết bị, các bộ lọc vào động cơ xe để khử các khí độc.
+Đối với nổ mìn thì cần tưới nước khu vực cần thi công trước.
+Tránh nổ một lượng lớn thuốc nổ mà cần chia nhỏ ra để giảm thiểu
bụi cũng như bảo vệ an toàn cho người lao động.
-Giải pháp bảo vệ sức khỏe con người :
+ Sử dụng các thiết bị thông gió nơi làm việc( chế biến, làm giàu
quặng...)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status