Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp việt nam vào lào - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hóa và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong và ngoài nước, các quốc gia trên thế giới đã và đang có những chính
sách thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước
đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN).
Việt Nam đã và đang thành công trong thu hút và sử dụng có hiệu quả
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN). Từ năm 1987 đến nay và có thể
nhận thấy xu hướng mới đang trỗi dậy trong vài năm trở lại đây, đó là sự gia
tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) của các doanh nghiệp Việt
Nam.
Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế kém, tiến hành thu hút đầu tư nước
ngoài chậm hơn so với các nước khu vực và thế giới nhưng hơn 20 năm qua
đã đạt được nhiều thành tự trong thu hút và sử dụng vốn ĐTNN, đồng thời, do
nhận thức được vai trò của ĐTRNN nên sớm đã có chính sách khuyến khích
doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN.
Để ĐTRNN thành công thì các doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ về
những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐTRNN, việc phân tích các nhân tố
này sẽ giúp các doanh nghiệp biết được điểm mạnh, điểm yếu và dự báo, đưa
ra biện pháp phòng ngừa được những rủi ro đối với doanh nghiệp. Dưới đây
là một góc nhìn về các nhân tố quốc gia và quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động
ĐTRNN của Việt Nam từ năm 2005 đến nay.
CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM VÀO LÀO
Hợp tác đầu tư giữa Việt Nam và Lào đã chính thức khởi động từ tháng
8/2003, với quyết tâm bổ sung và phát huy sức mạnh của mỗi nước, hỗ trợ
nhau cùng phát triển và coi đó như là một động lực quan trọng thúc đẩy hợp
tác kinh tế giữa hai nước. Tính đến cuối năm 2009, Việt Nam có 207 dự án
được chính phủ Lào cấp phép với tổng vốn đầu tư khoảng 2,1 tỷ USD. Lào là
quốc gia thu hút nhiều nhất các nhà đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong
tổng số hơn 30 đối tác đã có đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam (DNVN).

Canada đã đầu tư nhiều năm với công ty than đá từ Quảng Ninh, Công ty
Vinacoalmin. Đây cũng là một bài học cần được nghiên cứu và giải quyết
thỏa đáng giữa các đối tác Việt Nam để giảm bớt sự cạnh tranh trong thị
trường Lào.
Hoạt động đầu tư của Việt Nam vào Lào hiện đang sôi động. Đáng chú
ý là các Tập đoàn, Tổng Công ty, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang
triển khai nhiều dự án với quy mô lớn và mang lại những lợi ích thiết thực
cho nhân dân hai nước.
Theo thông tin chưa đầy đủ, hiện có khoảng 80 doanh nghiệp Việt Nam
đang hoạt động tại Lào dưới các hình thức công ty liên doanh, văn phòng đại
diện, cửa hàng, siêu thị... với số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD.
Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trong hầu hết các ngành và lĩnh vực
kinh tế của Lào như nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, viễn thông,
thuỷ điện, chế biến gỗ, khai khoáng, thương mại, khách sạn-nhà hàng, ngân
hàng...
Đi tiên phong là Chương trình hợp tác phát triển đồn điền cao su giữa
Tổng cục Cao su Việt Nam với Bộ Nông Lâm Nghiệp Lào. Đây là một
chương trình hợp tác có kết quả cụ thể dựa trên phương châm “tài nguyên đất
và công nhân Lào, vốn và kỹ thuật của phía Việt Nam”.
Tổng Công ty Cao su Việt Lào không dừng ở 10.000 hecta, mục tiêu
trong thời gian tới sẽ hoàn thành chỉ tiêu 20.000 hecta, với kinh phí vừa phải,
mỗi hecta trồng cao su từ ngày khởi công cho đến ngày thu hoạch lứa mủ đầu
tiên, không vượt quá 3.500 USD.
Không chỉ có Tổng Công ty Cao su Việt Lào mà trên vùng đất cao
nguyên Boloven gồm bốn tỉnh Champassak, Xêkon, Salavan, Attapeu đã và
đang mọc lên nhiều đồn điền cao su với diện tích trên 70.000 km2 là những
công trình hợp tác với các tỉnh khác của Việt Nam như tỉnh Đắk Lắk, Bình
Dương, Đồng Nai...
Một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cũng đã bị cuốn hút vào vòng
hợp tác phát triển kinh tế với Lào. Công ty TNHH Quán Quân ở Chợ Lớn đã

xây dựng thuỷ điện. Thuỷ điện lớn nhất Việt Nam ký được là Luang Prabang
1.410 MW tương đương với 8,5% tổng công suất tiềm năng sông Mekong.
Về thăm dò khoáng sản, Lào mới khảo sát 60% tổng diện tích tự nhiên
đã có 500 điểm có khả năng khoáng sản trong đó phát hiện 232 điểm quặng
gồm than, sắt, thiếc, vàng, đồng, chì, kẽm, muối mỏ, thạch cao, sét, đá quý...
Đến tháng 7/2008, Lào đã cấp 20/30 mỏ cho Việt Nam.
Việt Nam và Lào đã ký kết nhiều hiệp định quan trọng tạo điều kiện
pháp lý cho thúc đẩy đầu tư của Việt Nam vào Lào và ngược lại như hiệp
định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định quá cảnh, hiệp định hợp tác
lao động, hiệp định tránh đánh thuế trùng... Tuy nhiên, thị trường này cũng có
nhiều thách thức đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải làm ăn bài bản, chuyên
nghiệp, giữ đúng cam kết đã ký với Chính phủ Lào, tôn trọng luật pháp và
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của doanh nghiệp. Tiềm năng ở Lào còn nhiều
nhưng doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ chú trọng đến thủy điện, khai khoáng
và trồng cao su. Các doanh nghiệp đi sau nên tham khảo kinh nghiệm của các
đơn vị đi trước và tìm hiểu kỹ về tập quán, văn hóa... của Lào để tránh rủi ro.
CHƯƠNG 2
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO LÀO
A. Nhân tố quốc gia
I. Đối với nước đi đầu tư
1. Khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN
Luật Đầu tư năm 2005
Luật Đầu tư năm 2005 quy định: Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Việt Nam ở nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Nhà
nước tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư được tiếp cận các nguồn vốn tín
dụng trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh
tế; bảo lãnh vay vốn đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài trong các lĩnh vực
đặc biệt khuyến khích đầu tư. Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức

Như vậy, chúng ta thấy rõ tư tưởng của các quy định của pháp luật về
quyền lợi và nghĩa vụ đầu tư ra nước ngoài là rõ ràng và thể hiện thế chủ
động.
Nghị định của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài
Nghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định đầu tư ra nước ngoài của doanh
nghiệp Việt Nam, theo đó là Thông tư số 05/2001/TT-BKH của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt
Nam và Thông tư số 01/2001/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn
quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Có thể nói đây là
những văn bản quy phạm pháp luật cơ bản hình thành cơ sở pháp lý cần thiết
cho các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài.
Tuy nhiên, trải qua thực tế đã bộc lộ rõ nhiều quy định còn thiếu cụ thể
do chưa lường hết được các vấn đề mới nảy sinh, vì vậy nhiều điểm còn thiếu
đồng bộ, chưa nhất quán. Đặc biệt là có nhiều điều khoản của văn bản không
phù hợp với thực tế. Trong khi đó, không ít quy định can thiệp quá sâu vào
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đến khi Luật Đầu
tư ban hành năm 2005 với các quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh
nghiệp Việt Nam đã khắc phục được những hạn chế nêu trên.
Với quan điểm tích cực tiếp thu và sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện tốt
nhất cho các nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài, ngày 9 tháng 8 năm 2006 Chính
phủ ban hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Đây là văn bản hướng dẫn cụ thể chi tiết Luật Đầu tư. Trong đó
nói rõ: Các nhà đầu tư tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà đầu tư) gồm: Công ty
trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư
nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp;
Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước chưa đăng ký
lại theo Luật Doanh nghiệp; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư; Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã, Liên hiệp

luật pháp tạo ra điều kiện thuận lợi và khuyến khích các doanh nghiệp Việt
Nam ra nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status