Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ không chỉ dùng
các loại bom đạn gây thương vong, mà còn dùng cả vũ khí hóa học nhằm triệt hạ
nguồn sinh sống của nhân dân Việt Nam và ngăn chặn bước tiến của quân giải
phóng miền Nam Việt Nam. Trong vòng 10 năm – từ 1961 đến 1971, những “cơn
mưa chất độc” không ngừng trút xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam nhằm
phát quang trên diện rộng rừng núi, đồng ruộng, tàn phá mùa màng, triệt nguồn
nước sinh hoạt, hủy hoại môi sinh.
1. Dioxin hay chất độc màu da cam là gì?
Chất độc màu da cam, tên tiếng Anh là Agent Orange - Tác nhân da cam,
là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa
Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Chất này đã được
dùng giữa những năm 1961 và 1970 và nhiều người cho rằng đã làm tổn thương
sức khỏe của những người Việt Nam và lính Mỹ có tiếp xúc với chất này, cũng
như con cháu họ.
Chất độc màu da cam là một chất hỗn hợp đồng đều của hai chất diệt cỏ
2,4-D (2,4-dichlorophenoxyacetic acid) và 2,4,5-T(2,4,5 trichlorophenoxyacetic
acid). Các chất này đã được chế ra vào thập niên 1940 để khống chế các loại cây
có lá to. Được ra mắt vào năm 1947, cả hai chất diệt cỏ này đã được thịnh hành
trong nền nông nghiệp vào giữa thập niên 1950.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của
chất độc (màu) da cam là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận dân
tộc giải phóng không còn nơi trốn tránh. Nó là một chất lỏng trong, tên của nó
được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phi dùng để vận chuyển
nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được
dùng trong thời kỳ này: chất màu xanh (Agent Blue, cacodylic acid), chất màu
trắng (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), chất màu tím (Agent
Purple), và chất màu hồng (Agent Pink).
Đến năm 1971, chất độc màu da cam không còn được dùng để làm rụng lá
nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa
Kỳ và nhiều quốc gia khác.
2. Tác hại của chất độc màu da cam đối với cơ thể người và
phép (theo WHO 2002 thì mức phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi
người là 1-10pg đương lượng độc (TEQ)/ngày).
3. Chất độc màu da cam và cuộc chiến tranh Việt Nam
Ở miền Nam Việt Nam, chất độc màu da cam và các loại thuốc diệt cỏ
khác bắt đầu được thử nghiệm bởi quân đội Hoa Kỳ vào năm 1961 và được sử
dụng rộng rãi với hàm lượng cao trong chiến tranh vào các năm 1967 – 1968, rồi
giảm xuống và ngừng sử dụng năm 1971. Các loại hợp chất này được trộn vào
dầu hỏa hoặc nhiên liệu diesel rồi rải bằng máy bay hoặc các phương tiện khác.
Các thùng chứa chất khai quang được chuyển lên máy bay tại sân bay
quân sự Đà Nẵng.
Theo công bố của một nhóm tác giả trên tạp chí Nature thì có thể nói
chiến dịch dùng hóa chất ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất
thế giới. Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã
rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này
có 64% là chất độc màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh, và
0,6% chất màu tím.
Lính Mỹ đang phun chất khai quang bằng máy phun BUFFALO đặt trên
xe bọc thép M.11 (tháng 5 – 1968).
Tổng số lượng dioxin Việt Nam hứng chịu là vào khoảng 370kg. (Trong
khi đó vụ nhiễm dioxin ở Serveso, Ý, 1971 chỉ với 20kg dioxin thải ra môi
trường mà tác hại của nó kéo dài hơn 20 năm). Tổng số diện tích đất đai bị ảnh
hưởng hóa chất là 2,63 triệu hécta. Có gần 5 triệu người Việt Nam sống trong
25.585 thôn ấp chịu ảnh hưởng độc chất màu da cam.
Máy bay C-123 đang phun rải chất độc màu da cam.
Một bản báo cáo của Hàn lâm viện khoa học quốc gia (của Hoa Kỳ) vào
tháng 4 năm 2003 đã kết luận rằng trong Chiến tranh Việt Nam, 3.181 làng đã bị
phun với các chất diệt cỏ. Khoảng 2,1 đến 4,8 triệu người "hiện diện vào lúc
phun." Thêm vào đó, nhiều quân nhân Mỹ cũng bị phun hoặc có tiếp xúc với các
chất này trong các khu vực vừa phun. Bản báo cáo này đầu tiên được thực hiện
bởi quân đội Hoa Kỳ để tìm hiểu bao nhiêu cựu quân nhân đã phục vụ trong các