Giải pháp hỗ trợ DNTMNVV ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 27

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ iv
Chương 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHỎ VÀ VỪA VÀ 6
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM 6
Bảng 1.1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước 7
Bảng 1.2: Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 8
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DNTMNVV VÀ HỖ TRỢ
DNTMNVV Ở VIỆT NAM 41
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAD Đô la Canada
CEPT Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan
CN Công nghiệp
CNH Công nghiệp hóa
COTRA Tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc
DN Doanh nghiệp
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNTMNVV Doanh nghiệp Thương mại nhỏ và vừa
DNTM Doanh nghiệp Thương mại
DV Dịch vụ
EU Liên minh châu Âu
GDP Tổng thu nhập quốc nội
GTGT Giá trị gia tăng
GTZ Tổ chức hợp tác kỹ thuật của Công hòa Liên bang Đức
HĐH Hiện đại hóa
HTX Hợp tác xã
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
JETRO Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHỎ VÀ VỪA VÀ 6
HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM 6
Bảng 1.1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước 7
Bảng 1.2: Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 8
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG DNTMNVV VÀ HỖ TRỢ
DNTMNVV Ở VIỆT NAM 41
iv
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau ba năm gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế Việt
Nam đã được nâng lên một vị thế mới. Có được sự thành công như hiện nay không
thể không kể đến sự đóng góp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà phần lớn là các
doanh nghiệp thương mại nhỏ và vừa (DNTMNVV) (46%). DNTMNVV được
đánh giá là năng động hoạt động có hiệu quả, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc
dân khoảng 14%, và sử dụng khoảng 12% lực lượng lao động của cả nước. Đây là
bộ phận có vai trò quan trọng trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá, cung
ứng dịch vụ, và đặc biệt hơn cả là vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp tham gia quá
trình phát triển kinh tế xã hội. DNTMNVV còn là tiền thân của quá trình tích tụ tập
trung vốn, trở thành những công ty, tập đoàn kinh tế lớn cho nền kinh tế trong t-
ương lai, đây là bộ phận kinh tế quan trọng trong nền kinh tế hội nhập [41].
Tuy nhiên trong môi trường kinh doanh cạnh tranh mạnh mẽ của nền kinh tế
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập hiện nay, các DNTMNVV đang phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn như thiếu vốn, thiếu mặt bằng kinh doanh, thiếu nguồn
hàng, thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, cơ sở hạ tầng phục vụ
thương mại còn yếu kém, thiếu thông tin về thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh
tranh …. Điều đó cho thấy rằng các DNTMNVV có khả năng cạnh tranh rất yếu
trong khi các doanh nghiệp thương mại lớn thường tiền thân là các doanh nghiệp
Thương mại Nhà nước, có rất nhiều ưu thế trong cạnh tranh như vốn lớn, được sở
hữu những vị trí mặt bằng thuận tiện trong kinh doanh thương mại, có nguồn nhân
lực dồi dào, vv

chung, DNNVV nói riêng, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện
về DNTMNVV được công bố. Ở một góc độ nhất định, liên quan đến vấn đề này có
thể kể đến các công trình trong nước có liên quan như sau:
GS.TS Nguyễn Đình Hương với cuốn sách “Giải pháp phát triển DNNVV ở
Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2002, đã đưa ra những vấn đề cơ bản về
phát triển các DNNVV trong nền kinh tế thị trường, phân tích thực trạng và những
giải pháp phát triển DNNVV ở Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Cúc với cuốn sách “Đổi mới cơ chế chính sách hỗ trợ phát
triển DNNVV ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia năm 2000, đã phân tích thực
2
trạng các chính sách hỗ trợ DNNVV, từ đó đề xuất một số điều kiện để phát triển
DNNVV ở Việt Nam.
TS. Phạm Thúy Hồng với đề tài “Chiến lược cạnh tranh cho các DNNVV ở
Việt Nam hiện nay”, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2004, đã phân tích thực trạng
chiến lược cạnh tranh của các DNNVV ở Việt Nam, đề ra giải pháp, kiến nghị cho
các DNNVV trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
TS. Chu Thị Thủy với luận văn Tiến sĩ kinh tế “Một số giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV Việt Nam”, đã đi sâu nghiên cứu
những vấn đề bên trong hoạt động của DN để phát triển các DN bằng cách nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu.
TS. Phạm Văn Hồng với luận văn Tiến sĩ kinh tế “Phát triển DNNVV ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” đã đi sâu phân tích lý luận về DNNVV, cơ
hội và thách thức của các DNNVV, đề ra một số giải pháp phát triển DNNVV Việt
Nam.
TS. Lê Xuân Trường với Luận văn Tiến sĩ kinh tế “Chính sách thuế với việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành Công nghiệp Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã đề cập riêng đến tác động, ảnh hưởng
của chính sách thuế đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp và
đề ra những giải pháp trong phạm vi về chính sách thuế.
TS. Phạm Hữu Thìn với Luận văn Tiến sĩ kinh tế “Giải pháp phát triển các

DNTMNVV ở Việt Nam, tìm ra những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân để xác
lập cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ DNTMNVV ở
Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là DNTMNVV và chính sách hỗ trợ
DNTMNVV ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tiếp cận trên góc độ vĩ mô, nghiên
cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của DNTMNVV và chính sách hỗ trợ
DNTMNVV ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2009 và định hướng đến
năm 2020.
4
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp khảo sát và phân tích số liệu;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích;
- Phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài
nước, từ đó làm rõ nội dung chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các
DNTMNVV. Từ việc ban hành, triển khai, sửa đổi đến ảnh hưởng các chính sách
hỗ trợ của nhà nước đến các DNTMNVV trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Luận văn đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng điều kiện hoạt động
kinh doanh của các DNTMNVV trong những năm qua, thực trạng sự hỗ trợ của
Nhà nước bằng các chính sách đối với các DNTMNVV; các kết quả đánh giá, phân
tích đều dựa trên các nguồn số liệu tin cậy, từ đó chỉ ra được những hạn chế, yếu
kém trong việc thực thi các chính sách về hỗ trợ DNTMNVV trong điều kiện đáp
ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế.
Kết quả nghiên cứu, đánh giá này là cơ sở quan trọng để luận văn đưa ra hệ

điểm giống nhau giữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ nên để đơn giản hoá,
nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thường gộp chung hai loại hình
doanh nghiệp này thành doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa
(tại Việt Nam, các văn bản chính thức của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước
thống nhất cách gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa).
Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để xác định DNNVV là vốn (hoặc tài
sản), lao động và doanh thu. Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ theo điều kiện, trình độ
phát triển cũng như các chính sách đối với DNNVV của mình mà có thể chỉ dùng
một, hai hoặc cả ba chỉ tiêu trên. Ngoài ra, tuỳ từng lĩnh vực kinh doanh mà một số
nước còn có những quy định khác nhau cho các tiêu chí.
6
Bảng 1.1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước
Nước
Tiêu chí phân loại
Số lao động (người)
bình quân
Tổng giá trị
tài sản
Doanh thu/năm
Nhật Bản
<300 người đối với ngành
sản xuất
< 100 người đối với ngành
bán buôn
< 50 người đối với ngành
bán lẻ và dịch vụ
< 100 triệu JPY
(883.180 USD)
< 30 triệu JPY
(264.909 USD)

doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo
quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên).
Cụ thể như sau:
- Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động từ 10 người trở xuống.
7
- Doanh nghiệp nhỏ có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số
lao động từ trên 10 người đến 200 người. Đối với doanh nghiệp hoạt động thương
mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ 10 tỷ đồng trở
xuống, hoặc có số lao động từ trên 10 - 50 người.
- Doanh nghiệp vừa có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng,
hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Đối với doanh nghiệp hoạt
động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ trên 10
tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người.
Bảng 1.2: Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Quy mô
Khu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao
động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động
Tổng nguồn
vốn
Số lao động

người đến 300
người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến 100
người
Nguồn: [42]
Trong luận văn này, DNNVV được hiểu là các cơ sở sản xuất, kinh doanh
độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không
quá 100 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
1.1.1.2. Khái niệm DNTMNVV
Trong nền kinh tế thị trường, quá trình từ sản xuất đến lưu thông hàng hoá,
dịch vụ đã hình thành nên các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Loại hình doanh
nghiệp chuyên đảm bảo khâu lưu thông, phân phối hàng hoá được gọi là doanh
nghiệp thương mại. Đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại khác với hoạt động của doanh nghiệp sản xuất là hoạt động này chỉ thuần
8
tuý mua để bán hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận (theo công thức T - H - T

phân phối, song song với nó còn có các hoạt động kinh tế khác tạo nên dòng chảy
của kênh phân phối trên nhiều mức: dòng sở hữu, dòng vật chất (hàng hoá), dòng
thông tin, dòng giao tiếp - khuyếch trương và dòng thanh toán. Nhưng tổ chức và
quản trị kênh phân phối chủ yếu là các nhà sản xuất và các doanh nghiệp thương
Người tiêu dùngDNTMNhà sản xuất
T
/
H
T
H/H
/
9
mại. Như vậy, các doanh nghiệp thương mại có vị trí quyết định đến sự thành công
của hệ thống phân phối và vận động hàng hoá, bởi vì cạnh tranh trong nền kinh tế
thị trường ngày nay không còn ở phạm vi đơn lẻ với từng doanh nghiệp mà ở cả
phạm vi hệ thống, phạm vi kênh phân phối.
Ở khía cạnh doanh nghiệp thương mại làm dịch vụ cho nhà sản xuất có thể
thấy: Nhà sản xuất chế tạo ra sản phẩm không nhằm để thoả mãn nhu cầu của nhà
thương mại (doanh nghiệp thương mại /thương nhân). Nhà sản xuất chế tạo ra sản
phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của thị trường. Nhà sản xuất luôn muốn và có thể
trực tiếp bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng vì có thể đạt được
lợi nhuận cao nhất từ hoạt động chế tạo do bán được sản phẩm ở mức giá cuối cùng
cao nhất là giá công bố cơ bản (giá người tiêu dùng chấp nhận trả khi mua hàng).
Nhưng, vì nhiều lý do khác nhau, không phải bán trực tiếp cho người tiêu dùng luôn
là có lợi nhất đối với người sản xuất. Trong đa số các trường hợp (phổ biến) bán
cho người tiêu dùng thông qua nhà thương mại mang lại hiệu quả lớn hơn cho nhà
sản xuất mặc dù phải chia sẻ lợi nhuận với họ.
Khi bán cho nhà thương mại, nhà sản xuất đã sử dụng các dịch vụ mà nhà
thương mại cung ứng cho mình. Nhà sản xuất đã chuyển phần lớn công việc bán
hàng (tiêu thụ sản phẩm) của mình cho nhà thương mại. Nhà sản xuất đã giao bán

bớt giá của nhà sản xuất có thật sự trở thành tiền công của nhà thương mại hay
không còn phụ thuộc vào tính quyết định của người tiêu dùng.
Còn ở khía cạnh doanh nghiệp thương mại làm dịch vụ cho người tiêu dùng
lại thể hiện ở chỗ: Nhà thương mại không mua hàng của nhà sản xuất để sử dụng
vào mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình. Họ mua hàng để bán cho người
tiêu dùng và thu được khoản bớt giá của nhà sản xuất. Khoản bớt giá mà thực chất
là phí dịch vụ của nhà sản xuất giành cho nhà thương mại đặc biệt ở chỗ: nó là
khoản tiền nhà sản xuất giành cho nhà thương mại nhưng nhà sản xuất không trả
trực tiếp. Muốn có được khoản tiền này nhà thương mại phải thoả mãn tốt nhu cầu
của người tiêu dùng để nhận được nó từ người tiêu dùng. Người tiêu dùng là người
trả tiền cho khoản bớt giá của nhà sản xuất. Vì lý do đó, nhà thương mại sẽ không
chịu mạo hiểm làm dịch vụ cho nhà sản xuất nếu không có người tiêu dùng cần mua
hàng hoá đó. Cơ hội và rủi ro của nhà thương mại tuỳ thuộc vào quyết định cuối
cùng của người tiêu dùng.
11
Như vậy, trên thực tế mặc dù nguồn gốc lợi nhuận của nhà thương mại là từ
nhà sản xuất, nhưng chính người tiêu dùng với tư cách là người trả tiền mới là
người quyết định sự thành công hay thất bại, có hay không có lợi nhuận trong kinh
doanh của nhà thương mại.
Khi người tiêu dùng mua hàng của nhà thương mại về thực chất họ đã chấp
nhận dịch vụ của nhà thương mại cung ứng cho họ. Người tiêu dùng mua hàng để
thoả mãn nhu cầu sử dụng của chính họ. Khi quyết định mua hàng để thoả mãn nhu
cầu họ cần được đáp ứng một cách đồng bộ các dạng có ích cần thiết: đúng dạng có
ích; đúng thời gian có ích; đúng địa điểm có ích; đúng tài sản có ích.
Trong nền kinh tế, do nhiều nguyên nhân khách quan, sản xuất và tiêu dùng
không thể trùng khớp với nhau giữa thời gian, địa điểm sản xuất và tiêu dùng cũng
như một loạt các yếu tố khác của sản xuất và tiêu dùng. Những yếu tố này hạn chế
khả năng mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất của người tiêu dùng. Mua hàng trực
tiếp từ nhà sản xuất trong nhiều trường hợp không có hiệu quả thoả mãn nhu cầu
bằng mua hàng gián tiếp qua nhà thương mại. Trong trường hợp này, để thoả mãn

12
gắn chặt với hàng hoá hiện vật mà họ buôn bán nhưng thực chất chỉ gồm các dịch
vụ mà họ đáp ứng cho cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng.
Sản phẩm của doanh nghiệp thương mại là tập hợp các dịch vụ đồng bộ, đa
dạng mà nhà thương mại đã thực hiện để thoả mãn nhu cầu bán hàng của nhà sản
xuất và mua hàng của người tiêu dùng. Nó có thể gồm một hoặc một tập hợp các
dịch vụ trong thương mại. Thông thường, các dịch vụ đó được thể hiện qua một loạt
các hoạt động tác nghiệp trong kinh doanh của doanh nghiệp thương mại [61].
+ Tìm kiếm và nghiên cứu các sản phẩm đã được chế tạo bởi các nhà sản
xuất khác nhau để đánh giá, lựa chọn những sản phẩm hiện vật có khả năng đáp ứng
tốt nhất nhu cầu của nhóm khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp muốn phục vụ
(giúp người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm hiện vật).
+ Thay mặt “khách hàng tiềm năng của mình đặt hàng hoặc mua hàng chuẩn
bị trước cho sự thoả mãn nhu cầu của họ (mua hàng hộ).
+ Tổ chức vận chuyển hàng hoá từ cơ sở của nhà sản xuất đến địa điểm có
ích của người tiêu dùng (dịch vụ vận chuyển)
+ Tổ chức dự trữ hàng hoá để đáp ứng đúng thời gian có ích của người tiêu
dùng (dự trữ hộ)
+ Tổ chức phân loại, đóng gói, bảo quản, đồng bộ hoá, hàng hoá để thoả
mãn tốt nhất nhu cầu cá biệt của từng cá nhân hoặc tổ chức tiêu dùng.
+ Đáp ứng các nhu cầu tài chính, vốn, cho người tiêu dùng.
+ Đáp ứng các thông tin cần thiết phục vụ cho việc mua và sử dụng sản
phẩm thông qua giới thiệu, tư vấn giảm khó khăn và tạo sự tiện lợi khi mua hàng,
tiết kiệm thời gian mua hàng, an toàn hoá việc mua hàng,
+ Tự chấp nhận gánh chịu rủi ro có thể xảy ra khi mua và dự trữ hàng hoá
chờ đáp ứng nhu cầu đồng bộ của người tiêu dùng. Nhà thương mại chỉ có thể dự
đoán “người tiêu dùng có thể mua” nhưng điều đó lại không chắc chắn. Nhu cầu
của người tiêu dùng cần sự giúp đỡ của nhà thương mại để thỏa mãn một cách tốt
nhất, nhà thương mại cần chuẩn bị trước các dịch vụ cho mình để sẵn sàng phục vụ
người tiêu dùng. Nhưng người tiêu dùng có thể và có quyền tuyệt đối khi không

trên 50% trong tổng doanh thu của doanh nghiệp;
(2) Là doanh nghiệp có nguồn vốn dưới 50 tỷ đồng và sử dụng dưới 100 lao
động.
1.1.2. Đặc điểm của DNTMNVV
14
Như đã trình bày ở trên, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
không chỉ thuần tuý là việc tìm mua hàng hoá ở nơi rẻ để bán ở chỗ đắt hoặc mua
của người thừa để bán cho người thiếu (cần) như một số người vẫn quan niệm, mà
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại chủ yếu dựa trên yêu cầu của
cả người có hàng lẫn người mua hàng, cần có sự tham gia của người trung gian vào
việc trao đổi hàng hoá để thoả mãn tốt hơn nhu cầu của cả hai phía. Trường hợp
này, doanh nghiệp thương mại hoạt động kinh doanh trên cơ sở mua hàng hoá của
người cần bán (người có nhu cầu giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm) để bán cho người mua
(người có yêu cầu để giúp đỡ để có sản phẩm thoả mãn nhu cầu sử dụng). Điều này
chứng tỏ, thực chất hoạt động của doanh nghiệp thương mại là hoạt động dịch vụ;
do đó, chúng ta có thể hiểu doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp dịch vụ (mặc
dù, dịch vụ của doanh nghiệp thương mại luôn gắn liền với hàng hóa hiện vật).
So với các loại hình doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp thương mại có
các đặc trưng sau [66].
Thứ nhất, đối tượng lao động của các doanh nghiệp thương mại là các sản
phẩm hàng hóa hoàn chỉnh, nhiệm vụ của các doanh nghiệp thương mại không phải
là tạo ra các giá trị sử dụng và giá trị mới mà là thực hiện giá trị. Đây được coi là
điểm rất khác biệt giữa doanh nghiệp thương mại so với doanh nghiệp khác.
Thứ hai, hoạt động của doanh nghiệp thương mại giống như các doanh
nghiệp khác bao gồm các quá trình kinh tế, tổ chức kỹ thuật, nhưng mặt kinh tế là
chủ yếu. Trong doanh nghiệp thương mại nhân vật trung tâm là khách hàng. Mọi
hoạt động của doanh nghiệp đều tập trung và hướng tới khách hàng, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho họ thỏa mãn nhu cầu. Trong khi đó, mọi hoạt động của các doanh
nghiệp sản xuất đều hướng tới và phục vụ cho người lao động (giảm nhẹ cường độ
lao động, đảm bảo an toàn lao động…) và sản phẩm (đảm bảo chất lượng, tiết kiệm

“phụ thuộc” vào doanh nghiệp thương mại của mình.
Đặc trưng cho thấy sự khác biệt về bản chất của các doanh nghiệp thương
mại so với các doanh nghiệp sản xuất, đó là tính đa dạng của các hoạt động, ngoài
các hoạt động có đặc tính công nghệ và quản trị hậu cần (phân loại, chỉnh lý, bao
gói, tái chế, bảo quản, vận chuyển, ), còn bao hàm một hỗn hợp phức tạp, linh hoạt
và nhạy cảm của các hoạt động có đặc trưng tổ chức và quản trị thương mại để xác
định, lựa chọn, xâm nhập, khai thác và phát triển tiềm năng thị trường.
16
Ngoài những đặc trưng của doanh nghiệp thương mại nói chung,
DNTMNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển.
Có thể nhận thấy DNTMNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính dễ khởi sự. Luật Doanh nghiệp hiện nay áp dụng đối với các
ngành nghề kinh doanh không có điều kiện cũng không qui định mức vốn pháp định
bắt buộc khi khởi sự doanh nghiệp. Luật cũng không qui định số lượng lao động tối
thiểu khi cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp. Cùng với môi trường kinh doanh
đang được cải thiện thì số lượng các DNTMNVV đăng ký mới gia tăng nhanh
chóng. Trong một chừng mực nhất định, khi việc thực thi các qui định về phá sản và
giải thể doanh nghiệp chưa thuận lợi nên một số DNTMNVV thay vì rút lui khỏi thị
trường một cách chính thức thì chọn phương án đơn giản là ngừng hoạt động. Cũng
chính vì lý do đó nên việc thống kê số lượng các DNTMNVV đang hoạt động trên
thị trường gặp nhiều khó khăn và khó đưa ra con số chính xác.
Thứ hai là tính linh hoạt cao. Đây là đặc điểm gắn liền với các DNTMNVV.
Do qui mô không lớn nên đầu tư của các DNTMNVV vào các dây chuyền và máy
móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu
nhận thấy một ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức
các DNTMNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn. Một
số DNTMNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến
hành các biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng qui mô để trở thành các doanh nghiệp
lớn. Tuy nhiên nhiều chủ DNTMNVV bằng lòng với qui mô của doanh nghiệp
mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí trên thương trường. Nếu

hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng
khác. Theo số liệu của Tổng cục thống kê trong những năm vừa qua trung bình
hàng năm DNTMNVV đã đóng góp khoảng 12% tổng sản phẩm quốc dân (GDP)
của cả nước. Ngoài ra, DNTMNVV việt nam còn tham gia phân phối sản phẩm cho
nhiều ngành công nghiệp truyền thống thu hút nhiều lao động như giầy dép, chiếu
cói,…Việc mở rộng và phát triển các DNTMNVV sẽ góp phần không nhỏ trong
việc làm tăng GDP.
Thứ hai, thu hút vốn và các nguồn lực sẵn có trong dân cư. Vốn đầu tư là
một yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và
phối hợp các yếu tố khác trong kinh doanh như lao động, công nghệ và quản lý …
để tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều DN
18
đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy
động được. Khi chính sách tài chính tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa
thực sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp
dân cư thì nhiều DNTMNVV đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động được
vốn để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh,
thành lập DN. Dưới khía cạnh đó, DNTMNVV có vai trò to lớn trong việc huy
động vốn để phát triển kinh tế.
Thứ ba, giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn. Trong quá trình
kinh doanh, nhiều DNTMNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn kinh doanh một cách
hiệu quả hơn như làm đại lý và vệ tinh cho các DN lớn, cung cấp những bán thành
phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâm nhập vào mọi ngõ ngách thị
trường mà DN lớn khó có thể với tới để phân phối các sản phẩm của DN lớn. Bên
cạnh đó, khi số DNTMNVV tăng lên sẽ kéo theo sự gia tăng nhanh chóng cung cấp
số lượng các sản phẩm và dịch vụ mới trong nền kinh tế. Nhờ hoạt động với quy mô
nhỏ và vừa, các DNTMNVV có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ
những mặt hàng này sang các mặt hàng khác, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân
cư. Chính sự phát triển đó của các DNTMNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính
linh hoạt và làm giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế.

là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất. Khi các DNTMNVV phát triển sẽ tạo nhiều cơ hội
tăng việc làm, thu hút lao động và giảm tỉ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, qua đó
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư kể cả
người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật. Với tính chất kinh doanh nhỏ, chi phí để
tạo ra một chỗ làm việc thấp, các DNTMNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỉ lệ
thất nghiệp và ổn định xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và
chủ yếu bằng vốn của dân.
Thứ bảy, nâng cao thu nhập của dân cư góp phần xóa đói giảm nghèo, thực
hiện công bằng xã hội. Việt Nam là một nước nông nghiệp, năng suất của một nền
sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp. Thu nhập của dân cư nông thôn
chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông. Việc phát triển các DNTMNVV ở
thành thị cũng như ở nông thôn là một trong những biện pháp cơ bản góp phần tăng
nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư. Thông qua việc phát triển các
DNTMNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thu hút vào các DN nhờ đó mà thu nhập
20
của dân cư được đa dạng hóa và nâng cao. Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ
ổn định hơn và mức sống của dân cư sẽ được nâng cao góp phần xóa đói giảm
nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ
công bằng trong nền kinh tế. Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt, khi các
DNTMNVV phát triển sẽ góp phần giúp phát triển các ngành sản xuất truyền thống
ở địa phương.
Thứ tám, tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh. Ngoài các vai trò
như đã nói ở trên, các DNTMNVV còn có vai trò trong việc phát triển các tài năng
kinh doanh. Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinh doanh đã gắn nhiều với cơ
chế bao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trong nền kinh tế thị trường. Sự phát
triển của các DNTMNVV có tác dụng đào tạo, chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh
nhân. Sự ra đời của các DNTMNVV làm xuất hiện rất nhiều tài năng kinh doạnh,
đó là các doanh nhân thành đạt biết cách làm giàu cho bản thân mình và xã hội.
Bằng sự tôn vinh những doanh nhân giỏi, kinh nghiệm quản lý của họ sẽ được nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status