Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng em. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác. Các số liệu
trích dẫn và ví dụ trong luận văn đảm bảo tính chính xác tin cậy và trung thực. Em
đã hoàn thành tất cả các môn học theo qui định của Khoa Luật – Viện Đại học Mở
Hà Nội.
Vậy em viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để em có thể bảo vệ
luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Cao Thị Kim Anh
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
PGS. TS: Nguyễn Trung Tín
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo,
Phó Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Trung Tín đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá
trình viết khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Luật, chuyên ngành
Luật quốc tế, Viện Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy và truyền đạt những kiến thức
cho em trong 4 năm học tập. Vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập là
nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận này.
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
MỤC LỤC
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Với đề tài này, khóa luận tập trung nghiên cứu về hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài trên cơ sở xem xét các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000,
Bộ luật dân sự 2005, các Điều ước quốc tế và các văn bản có liên quan khác. Trên
cơ sở đó, khóa luận đưa ra những đánh giá sơ bộ về những quy định về hợp đồng
bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, qua đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện
hệ thống pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm có yếu
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
1
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
tố nước ngoài nói riêng.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trên nền tảng phương
pháp luận đó, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp phân tích
-tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích lịch sử.
4. Bố cục và nội dung cơ bản:
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
khóa luận được triển khai theo 2 chương sau:
- Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và
pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài.
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
2
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
3
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
nhà nước đã cấp phép hoạt động cho hàng loạt doanh nghiệp như Bảo Minh,
VINARE, Bảo Long, PJICO, PVI, PTI. Cùng thời gian này, 3 công ty liên doanh
gồm VIA (Bảo Việt và công ty của Nhật), UIC (Bảo Minh và công ty của Nhật) và
công ty môi giới BV – AON cũng được gia nhập thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Như vậy, từ thời điểm Nghị định 100/CP ra đời, hàng loạt các doanh nghiệp bảo
hiểm được cấp phép hoạt động, trong đó sự ra đời của các doanh nghiệp bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài nói riêng và thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, Nghị định 100/CP còn quy định chung chung, đặc biệt các vấn đề
xung quanh hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài không
được đề cập chi tiết, cụ thể. Thêm vào đó, Nghị định 100/CP chưa đáp ứng được
yêu cầu với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam lúc này. Luật
kinh doanh bảo hiểm 2000 ra đời nhằm khắc phục những hạn chế đó. Một trong
những nội dung chủ yếu của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là quy định về hợp
đồng bảo hiểm. Bên cạnh đó, Luật này còn ghi nhận việc dẫn chiếu áp dụng đến Bộ
Luật dân sự và các quy định khác có liên quan, tạo cơ sở thống nhất cho việc điều
chỉnh quan hệ bảo hiểm, trong đó có hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Trên
cơ sở pháp lý được hoàn thiện, thị trường bảo hiểm có yếu tố nước ngoài phát triển
mạnh mẽ hơn. Trong giai đoạn này, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam. Việt Nam đã cấp phép cho 1 công ty bảo hiểm cổ phần ngoài quốc
doanh (Viễn Đông) và 2 công ty phi nhân thọ 100% vốn nước ngoài (Alianz, Group
Pama), 4 công ty bảo hiểm nhân thọ (Bảo Minh CMG, Prudential, Manu Life, AIA)
và tiếp tục cấp phép cho các công ty liên doanh khác: Việt Úc, SVI, IAI. Những
doanh nghiệp bảo hiểm này tham gia vào thị trường Việt Nam không những gia
tăng về số lượng mà còn có hiệu quả kinh doanh cao. Năm 2004, Công ty
Prudential Việt Nam (doanh nghiệp nước ngoài lớn nhất trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ) có mức lãi 61 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động tại Việt Nam.
Giai đoạn 2005 – 2006 được coi là bước đệm cho tiến trình hội nhập kinh tế
nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài – luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu. Tính
đến cuối năm 2009, Prudential chiếm hơn 40% thị phần bảo hiểm nhân thọ Việt
Nam. Năm 2010, tổng số hợp đồng có hiệu lực đến cuối kì đạt 4.2941.040 hợp
đồng. Trong đó, Prudential và Manulife là những doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều
hợp đồng bảo hiểm tính theo sản phẩm chính: Prudential 1.808.442 hợp đồng và
Manulife 342.660 hợp đồng.
3
Thêm vào đó, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng là lĩnh vực bảo hiểm có
yếu tố nước ngoài. Lịch sử bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có
từ lâu. Ngay từ khi thành lập, ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam nay là
Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã được giao nhiệm vụ bảo hiểm cho hàng hóa
xuất nhập khẩu của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, hai công ty
bảo hiểm là INGOSTRACKH của Liên Xô (cũ) và PICC Trung Quốc trong thời
gian này cũng tham gia bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu vào nước ta. Tuy nhiên cho
đến nay, hoạt động bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu do các công ty bảo hiểm
Việt Nam tiến hành vẫn còn ở mức rất hạn chế, tốc độ tăng trưởng không cao, có
1
Chương trình phát triển Liên hợp quốc. Báo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa
thương mại dịch vụ tài chính: ngành bảo hiểm, tr. 15.
2
Thị trường bảo hiểm 2008: Tăng trưởng trong thách thức, khó khăn
/>kho-khan/ct-325079
3
/>viet-nam-nam-2010.html
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
5
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
giai đoạn theo chiều hướng giảm xuống. Tính đến cuối năm 2000, các nhà bảo hiểm
Việt Nam mới chỉ bảo hiểm được 4,7% kim ngạch hàng xuất khẩu và 23,26% kim
ngạch hàng nhập khẩu. Còn tính đến cuối năm 2010, Kim ngạch hàng hóa nhập
4
/>nhp-khu-ngoai-tm-vi-ca-dn-&catid=20%3Atin-lien-quan&Itemid=32&lang=en
5
/>luu.html
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
6
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
thị trường những sản phẩm bảo hiểm tốt cho khách hàng lựa chọn thì sẽ khó có thể
cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.
- Thứ hai, bảo hiểm nước ngoài đem đến cho thị trường bảo hiểm trong nước
nhiều sản phẩm bảo hiểm mới, làm gia tăng sự lựa chọn cho khách hàng. Theo
thống kê, năm 2007, trên thị trường có trên 700 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ,
hơn 100 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được chào bán trên thị trường, thuộc 3 loại
hình bảo hiểm là: Bảo hiểm tài sản, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Bảo hiểm con
người phi nhân thọ. Riêng loại hình bảo hiểm nhân thọ, chủng loại sản phẩm cũng
luôn được cải tiến để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Trong đó, các sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vùa có tính tiết kiệm vừa có tình rủi ro là sự lựa
chọn phổ biến của người mua bảo hiểm. Năm 2009 là năm bùng nổ sản phẩm bảo
hiểm mới, 100 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
mới đưa ra thị trường, tạo sự lựa chọn và phục vụ chăm sóc khách hàng ngày một
tốt hơn. Những tháng đầu năm 2011, thị trường bảo hiểm sôi động với việc tung ra
thị trường hàng loạt các gói bảo hiểm mới, lạ để thu hút khách hàng của cả doanh
nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Mới đây, Công ty Bảo hiểm Liberty –
doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài đã chính thức giới thiệu sản
phẩm bảo hiểm sức khỏe mới mang tên Liberty MediCare dành cho các doanh
nghiệp, tổ chức và gia đình tại Việt Nam.
- Thứ ba, sự góp mặt của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam
cũng chính là cơ hội cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước học hỏi kinh
nghiệm. Nếu như đem so sánh với sự phát triển hàng trăm năm của lịch sử bảo hiểm
thế giới nói chung và của các tập đoàn bảo hiểm quốc tế nói riêng thì sự hình thành
nghiệp bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp
bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Mặc dù, về hình thức câu chữ khác
nhau, nhưng có thể thấy, hai khái niệm này cùng có sự thống nhất về bản chất của
hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận của bên mua bảo hiểm và bên doanh nghiệp
bảo hiểm; cùng nêu ra được cơ chế thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Tại Điều 758 Bộ Luật dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm: “quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ
quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là
các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt nam nhưng căn
cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh
tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Trên cơ sở sự tiếp cận trên, có thể hiểu hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài là sự thỏa thuận giữa bên bảo hiểm (là doanh nghiệp Việt Nam hoặc doanh
nghiệp nước ngoài) và bên mua bảo hiểm (có quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài)
theo đó, bên bảo hiểm chấp nhận rủi ro đối với các đối tượng bảo hiểm đang tồn tại
ở Việt Nam hay ở nước ngoài để cam kết trả tiền bảo hiểm cho người được bảo
hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra ở Việt Nam hay ở nước ngoài, với điều kiện bên
bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm.
b. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
8
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài trước hết là một loại hợp đồng bảo
hiểm nên nó mang các đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm, đó là:
- Hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng song vụ:
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà trong đó các bên của hợp đồng đều có
nghĩa vụ đối với nhau. Quyền lợi của các bên trong hợp đồng phụ thuộc vào việc
thực hiện nghĩa vụ của bên kia. Trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và
bên nhận bảo hiểm đều có nghĩa vụ với nhau: bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng
các bên chủ thể không mang quốc tịch hoặc không có trụ sở); đối tượng của hợp
đồng là tài sản ở nước ngoài.
6
Trong khi đó, theo quy định của pháp luật nước Cộng
Hòa Pháp, sự tham gia của người nước ngoài không là yếu tố quyết định để cho
rằng có yếu tố nước ngoài. Do vậy, khái niệm “yếu tố nước ngoài” theo pháp luật
Việt Nam được hiểu rộng hơn so với pháp luật của Cộng Hòa Pháp.
7
Hợp đồng bảo
hiểm có yếu tố nước ngoài cũng là một hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài. Vì
vậy, nó cũng chứa đựng các yếu tố nước ngoài như trên.
Chủ thể của hợp đồng có quốc tịch khác nhau:
Trong hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, chủ thể của hợp đồng có thể
là: bên bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài; doanh nghiệp
bảo hiểm có quốc tịch Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân Việt
Nam; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; và tổ chức, cá nhân có quốc tịch nước
ngoài. Vậy ở đây có thể thấy rằng, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố chủ thể nước ngoài
sẽ là hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa:
+ Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá
nhân Việt Nam;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là người Việt Nam
định cư ở nước ngoài;
+ Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam với bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân
có quốc tịch nước ngoài.
Đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài:
Một hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm tồn tại ở nước ngoài cũng là
hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài. Ví dụ: một doanh nghiệp Việt Nam tham
gia kí kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm X có quốc tịch Việt Nam
cho một lô hàng đang tồn tại ở Pháp. Hợp đồng bảo hiểm này là hợp đồng bảo hiểm
có yếu tố nước ngoài. Hoặc: bà A có quốc tịch Việt Nam kí kết hợp đồng bảo hiểm
hợp các bên có cùng quốc tịch, hợp đồng được ký kết ở nước mà các bên mang
quốc tịch nhưng đối tượng của hợp đồng tồn tại ở nước ngoài, thì quyền và nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng này vừa phải chịu sự điều chỉnh của luật của nước mà
họ mang quốc tịch và luật của nước nơi đối tượng bảo hiểm đang tồn tại.
Cũng do việc có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật nên vấn
đề xung đột luật được đặt ra khi xem xét hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật
cùng tham gia vào điều chỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh
trong mỗi hệ thống pháp luật lại khác nhau.
Có hai cách giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
nước ngoài: đó là phương pháp thực chất hoặc phương pháp xung đột.
Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống
các qui phạm xung đột quốc gia. Các quốc gia tự ban hành các qui phạm xung đột
trong hệ thống pháp luật nước mình để hướng dẫn chọn luật áp dụng để chủ động
trong việc điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế trong khi chưa xây dựng được
đầy đủ các qui phạm thực chất thống nhất. Ví dụ: Theo pháp luật Việt Nam, khoản
1 Điều 770 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo
pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng được giao
kết ở nước ngoài mà vi phạm quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật nước
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
11
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
đó, nhưng không trái với quy định về hình thức hợp đồng theo pháp luật Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì hình thức hợp đồng được giao kết ở nước ngoài đó
vẫn được công nhận tại Việt Nam.” Như vậy, pháp luật Việt Nam đã dẫn chiếu đến
pháp luật của nước nơi hợp đồng được ký kết để điều chỉnh về hình thức của hợp
đồng có yếu tố nước ngoài cũng như hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
Phương pháp thực chất là phương pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các
qui phạm thực chất trực tiếp giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, điều này có ý
nghĩa là nó trực tiếp phân định quyền và nghĩa vụ rõ ràng của các bên tham gia. Qui
Trên thực tế, việc giao kết hợp đồng bảo hiểm thông qua hợp đồng mẫu do
doanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo. Những điều khoản trong hợp đồng không phải
bao giờ cũng đầy đủ và có lợi cho người tham gia bảo hiểm. Mặt khác, nhiều thuật
ngữ trong hợp đồng bảo hiểm còn khó hiểu, điều này gây bất lợi đối với người tham
gia bảo hiểm, mà đặc biệt đối với hai chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm có quốc
tịch khác nhau, ngôn ngữ khác nhau. Do vậy, cần thiết phải có các qui định pháp
luật để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể kí kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài, đặc biệt đối với bên tham gia bảo hiểm.
Thêm vào đó, hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển sôi động với
sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài thông qua chi nhánh và văn phòng
đại diện của mình, quan hệ bảo hiểm có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều và đa
dạng và phức tạp. Vì vậy, để thị trường phát triển bền vững, ổn định, cần phải có
khung pháp lý qui định về điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng, nội dung, hình thức,
hiệu lực, việc thực hiện và việc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp đồng
bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Như đã phân tích ở phần “một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm có yếu tố nước
ngoài và hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài”, hợp đồng bảo hiểm có yếu tố
nước ngoài là một quan hệ tư pháp quốc tế, vì thế, nó chịu sự điều chỉnh của nhiều
hệ thống pháp luật: luật trong nước, luật quốc tế và luật nước ngoài. Do vậy, việc
giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải tuân theo
các qui định của những hệ thống luật trên.
a. Luật trong nước:
Trong hệ thống Luật quốc gia, các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo
hiểm nói chung và điều chỉnh quan hệ hợp đồng bảo hiểm nói riêng bao gồm: Hiến
pháp 1992; Bộ luật dân sự 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000; Luật hàng hải
2005; Luật hàng không dân dụng 2006.
- Hiến pháp 1992:
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, căn cứ vào các qui định của
Hiến pháp mà mỗi ngành luật cụ thể hóa bằng các qui định của mình để tác động tới
đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, hình thức hợp đồng bảo hiểm, sự kiện bảo
hiểm và phí bảo hiểm, các nghĩa vụ cơ bản nhất của các bên giao kết hợp đồng bảo
hiểm. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng phải
tuân theo những qui định này.
Tại phần thứ bảy, Bộ luật dân sự 2005 đề cập đến quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, những vấn đề chung của các quan
hệ tư pháp quốc tế chủ yếu được điều chỉnh bởi những quy định này. Quan hệ hợp
đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài cũng vậy. Theo đó, Bộ luật dân sự đưa ra quy
định: các quy định của pháp luật Việt nam được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng
bảo hiểm có yếu tố nước ngoài, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có quy định khác thì áp dụng Điều ước quốc tế đó. Trong trường hợp
pháp luật Việt Nam hoặc Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia dẫn chiếu đến
pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng. Các bên chủ thể của
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
14
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
hợp đồng bảo hiểm cũng có thể thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán
quốc tế nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam. Ngoài ra, Bộ luật dân sự cũng chỉ dẫn việc chọn luật áp dụng để xác định
năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước
ngoài, pháp nhân nước ngoài. Đây là quy định quan trọng trong việc xác định một
chủ thể có đủ điều kiện giao kết hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài hay
không…
- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000:
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 là đạo luật trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trong đó có quan hệ hợp đồng
bảo hiểm có yếu tố nước ngoài.
Chương II của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định cụ thể về hợp đồng
bảo hiểm, trong đó, nêu ra những qui định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng
bảo hiểm được phân loại thành: hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm
đến bảo hiểm cho tính mạng, sức khỏe của hành khách, bảo hiểm đối với hàng hóa,
hành lý của hành khách. Những quan hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
có liên quan cũng phải tuân thủ các qui định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của người vận chuyển (Điều 163), của người khai thác tàu bay
(Điều 176) ….
b. Luật quốc tế:
Ngoài các qui phạm pháp luật do quốc gia ban hành, hợp đồng bảo hiểm có
yếu tố nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống các điều ước quốc tế mà
quốc gia tham gia). Khoản 2 Điều 2 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 qui định:
“…2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng
quy định của điều ước quốc tế đó”
Hiện nay, hệ thống điều ước quốc tế có sự tác động lớn nhất, điều chỉnh quan
hệ hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài là các cam kết của Việt Nam khi gia
nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Theo đó, kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam
cam kết: không hạn chế tiêu dùng dịch vụ bảo hiểm ở nước ngoài, cho phép cung
cấp bảo hiểm qua biên giới cho các doanh nghiệp FDI và cá nhân người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam, vận tải quốc tế, cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100%
vốn đầu tư nước ngoài kể từ khi gia nhập và cho phép thành lập chi nhánh của các
Công ty bảo hiểm nước ngoài sau 5 năm gia nhập đối với dịch vụ bảo hiểm phi
nhân thọ, không hạn chế về số lượng chi nhánh trong nước, đối tượng cung cấp dịch
vụ… Cũng theo cam kết với WTO, Việt Nam không hạn chế loại doanh nghiệp bảo
hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường
biển đi hoặc đến Việt Nam. Vì vậy, chủ hàng Việt Nam có thể kí kết hợp đồng bảo
hiểm cho hàng hóa của mình tại các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hay doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài (dù họ không có hiện diện tại Việt Nam).
Ngoài các cam kết với WTO, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành
viên như Hiệp định thương mại Việt Mỹ (phụ lục G), Hiệp định khung Asean về
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
16
tượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều kiện loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo
hiểm, thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm…
- Điều khoản thông thường: là những điều khoản được pháp luật quy định
trước. Khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều kiện này thì có
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
17
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
nghĩa hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy
định. Điều khoản thông thường của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài có thể
là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài, thời hiệu khởi kiện…
- Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp
đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên:
điều kiện gia hạn nộp phí, điều kiện chuyển nhượng hợp đồng, điều kiện khôi phục
hiệu lực của hợp đồng…
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài bao gồm những nội
dung cơ bản sau:
a. Về chủ thể hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài:
Một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên một hợp đồng bảo hiểm là chủ thể
của hợp đồng. Chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài gồm hai
bên: bên nhận bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm.
- Bên nhận bảo hiểm:
Bên nhận bảo hiểm là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm
và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Theo qui định của pháp luật kinh
doanh bảo hiểm Việt Nam, bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách
pháp nhân và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được gọi là doanh nghiệp
bảo hiểm, bao gồm các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểm
nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo
hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.
nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức: doanh nghiệp bảo
hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài. Những doanh nghiệp
bảo hiểm này phải được thành lập, tổ chức và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Do
đó, chúng mang quốc tịch Việt Nam. Như vậy, theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000,
trong các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam thì không
bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm có quốc tịch nước ngoài. Tuy nhiên, do nhu cầu hội
nhập kinh tế thế giới và yêu cầu về sự phù hợp của pháp luật trong nước với các cam kết
trong lĩnh vực bảo hiểm khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, năm
2010, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh
doanh bảo hiểm 2000. Luật này có hiệu lực từ ngày 1/7/2011. Theo đó, Các tổ chức
kinh doanh bảo hiểm bao gồm: công ty cổ phần bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữu
hạn bảo hiểm, hợp tác xã bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ
9
. Trong đó, doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình
thức: công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ nước ngoài. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép cung cấp dịch
vụ bảo hiểm qua biên giới.
10
Trong các chủ thể trên đây, chỉ có doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới và chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là mang quốc tịch nước ngoài.
Cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới là việc doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài, không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam, không cần có hiện diện thương
mại tại Việt Nam nhưng vẫn được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Khi
doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài kí kết hợp đồng bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo
9
Điều 7 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
10
những hợp đồng bảo hiểm có yếu tố chủ thể là yếu tố nước ngoài.
Như vậy, bên nhận bảo hiểm – một bên chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có yếu
tố nước ngoài có thể là doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hoặc doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài. Trong đó, chủ thể mang yếu tố nước ngoài có thể là doanh nghiệp
bảo hiểm nước ngoài trong hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới hoặc
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam ký kết
hợp đồng bảo hiểm theo ủy quyền.
Điều kiện để những chủ thể này trở thành chủ thể của hợp đồng bảo hiểm có
yếu tố nước ngoài như sau:
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập và hoạt động theo Luật kinh
11
Điều 37 Luật doanh nghiệp 2005.
Viện ĐH Mở Hà Nội Cao Thị Kim Anh
20
Những vấn đề lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng bảo hiểm có yếu tố nước ngoài
doanh bảo hiểm 2000, Luật doanh nghiệp 2005 và các quy định khác. Theo đó, điều
kiện để doanh nghiệp bảo hiểm được cấp giấy phép thành lập và hoạt động như sau:
12
+ Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của
Luật Doanh nghiệp
+ Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định
của Chính phủ:
Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300.000.000.000
đồng Việt Nam;
Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ: 600.000.000.000 đồng
Việt Nam.
+ Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định
+ Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Người quản trị, điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về
bảo hiểm.