Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
&
Tư Duy Sáng Tạo
Đề tài: Các hệ điều hành của smartphone và việc vận
dụng những kiến thức về phương pháp nghiên cứu
khoa học trong quá trình phát triển smartphone.
Giáo viên hướng dẫn: GS.TSKH. Hoàng Kiếm
Học Viên: Nguyễn Vĩnh Trường
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 1
Chương I: Những nguyên tắc sử dụng sáng tạo được sử dụng trong việc
cải tiến các hệ điều hành của các smartphone.
1. Nguyên tắc phân nhỏ:
a) Chia đối tượng thành các phần độc lập.
b) Làm đối tượng trở nên tháo lắp được.
c) Tăng mức độ phân nhỏ đối tượng.
2. Nguyên tắc “tách khỏi”:
a) Tách phần gây “phiền phức” (tính chất “phiền phức”) hay ngược lại tách phần
duy nhất “cần thiết” (tính chất “cần thiết”) ra khỏi đối tượng.
3. Nguyên tắc phẩm chất cục bộ:
a) Chuyển đối tượng (hay môi trường bên ngoài, tác động bên ngoài) có cấu trúc
đồng nhất thành không đồng nhất.
b) Các phần khác nhau của đối tượng phải có các chức năng khác nhau.
c) Mỗi phần của đối tượng phải ở trong những điều kiện thích hợp nhất đối với
công việc.
4. Nguyên tắc phản đối xứng:
Chuyển đối tượng có hình dạng đối xứng thành không đối xứng (nói chung giãm
bật đối xứng).
5. Nguyên tắc kết hợp:
a) Kết hợp các đối tượng đồng nhất hoặc các đối tượng dùng cho các hoạt động kế
cận.
b) Kết hợp về mặt thời gian các hoạt động đồng nhất hoặc kế cận.
13.Nguyên tắc quan hệ phản hồi:
a. Thiết lập quan hệ phản hồi
b. Nếu đã có quan hệ phản hồi, hãy thay đổi nó.
14.Nguyên tắc sao chép (copy):
a. Thay vì sử dụng những cái không được phép, phức tạp, đắt tiền, không tiện lợi
hoặc dễ vỡ, sử dụng bản sao.
b. Thay thế đối tượng hoặc hệ các đối tượng bằng bản sao quang học (ảnh, hình
vẽ) với các tỷ lệ cần thiết.
c. Nếu không thể sử dụng bản sao quang học ở vùng biẻu kiến (vùng ánh sáng
nhìn thấy được bằng mắt thường), chuyển sang sử dụng các bản sao hồng ngoại
hoặc tử ngoại.
15.Nguyên tắc “rẻ” thay cho “đắt”:
Thay thế đối tượng đắt tiền bằng bộ các đối tượng rẻ có chất lượng kém hơn (thí
dụ như về tuổi thọ).
16.Nguyên tắc thay đổi màu sắc:
a. Thay đổi màu sắc của đối tượng hay môi trường bên ngoài
b. Thay đổi độ trong suốt của của đối tượng hay môi trường bên ngoài.
c. Để có thể quan sát được những đối tượng hoặc những quá trình, sử dụng các
chất phụ gia màu, hùynh quang.
d. Nếu các chất phụ gia đó đã được sử dụng, dùng các nguyên tử đánh dấu.
e. Sử dụng các hình vẽ, ký hiệu thích hợp.
17.Sử dụng các vật liệu hợp thành (composite):
Chuyển từ các vật liệu đồng nhất sang sử dụng những vật liệu hợp thành
(composite). Hay nói chung sử dụng các vật liệu mới.
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 4
Chương II: Những hệ điều hành và việc vận dụng các nguyên lý sáng
tạo:
1. Hệ điều hành Symbian:
Khởi nguồn của công ty Symbian và HĐH Symbian
Năm 1980, Psion được thành lập bởi David Potter, chủ yếu để viết các phần mềm và trò
Số lượng điện thoại sử dụng Symbian đang chiếm thị phần lớn nhất, bao gồm
Smartphone Nokia Series 60, UIQ, Series80, Series 90, và các điện thoại của NTT
DoCoMo Foma.
Mục đích chính của Symbian OS khi được thiết kế là chuyên dùng cho các thiết bị cầm
tay với những nguồn tài nguyên (bộ nhớ, CPU…) bị giới hạn mà có thể chạy hàng tháng
hay hàng năm, tối ưu và giảm thiểu các rủi ro trong bộ nhớ… Chính vì vậy, cấu trúc hoạt
động của Symbian gây khá nhiều khó khăn cho các lập trình viên khi tìm hiểu về nó.
Việc lập trình cho Symbian OS được thiết kế theo hướng chuỗi “sự kiện” nên CPU phải
tắt và bật lại khi một ứng dụng không cùng làm việc được với một “sự kiện” mà nó cần.
Security trong Symbian
Symbian OS là miếng mồi hấp dẫn cho khá nhiều loại virus, nổi cộm trong số đó là Cabir
hay còn gọi là Caribe, virus này khi bị nhiễm vào điện thoại sẽ tự gửi chính nó từ điện
thoại này sang điện thoại khác qua Bluetooth. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm của các
dòng virus Symbian chưa cao vì theo kiến trúc của Symbian về mặt cài đặt, các ứng dụng
trước khi cài đặt phải có sự “điều khiển” đồng ý của chủ nhân, vì vậy các virus tuy nhiễm
vào điện thoại nhưng vẫn không thể tự nó phá hoại điện thoại được mà cần phải có sự
giúp sức “vô ý” của con người.
Đây cũng là một trong những điểm khá mạnh của Symbian. Cabir tự giả dạng như là một
công cụ của HĐH Symbian, tự gửi chính nó đi dưới dạng file .SIS của HĐH. Nếu người
sử dụng đồng ý nhận file này từ các điện thoại bị lây nhiễm khác thì điện thoại của họ sẽ
bị lây nhiễm và “Cabir” bắt đầu hoạt động. Khi bị nhiễm, ĐTDĐ sẽ hiện chữ Caribe mỗi
khi bật máy và lại tiếp tục gửi chính nó cho các điện thoại khác.
Sự lây lan của Caribe cần có sự “đồng ý/chấp nhận” của người sử dụng ĐTDĐ. Sự xuất
hiện và phát tán của Caribe còn cho thấy mức độ cảnh giác của người sử dụng ĐTDĐ đối
với virus còn khá thấp. Chỉ cần bạn từ chối nhận file từ những ĐTDĐ không rõ nguồn
gốc là Cabire không thể “kết duyên” cùng bạn được rồi.
Theo một số chuyên gia, người sử dụng ĐTDĐ có cổng Bluetooth nên tắt Bluetooth để
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 6
tiết kiệm pin, khi cần sử dụng tiện ích này với các thiết bị khác (như tai nghe ) thì bật
lên ở chế độ ẩn (hidden) để các ĐTDĐ khác không thấy được mà lây nhiễm. Chỉ khi có
Một ứng dụng khi phát triển phải tìm được con đường đi đến các điện thoại khách hàng.
Các ứng dụng này được đóng gói thành các file kiểu SIS và được Install (cài đặt) thông
qua WAP hoặc GPRS, hoặc từ PC qua kết nối bằng cáp, Bluetooth tới điện thoại. Từ bản
Symbian OS 9 trở lên, việc cài đặt chương trình sẽ khó khăn hơn vì phiên bản này được
tăng cường tính bảo mật nhằm chống việc phá hoại và các ứng dụng được cài đặt trên
phiên bản này phải đăng ký với tổ chức Symbian Signed để được cấp số đăng ký an toàn
nêu trên.
Tương lai Symbian
Mặc dù đang chiếm thị phần về OS cao nhất trong các Mobile OS (khoảng 60-70%),
nhưng nhiều chuyên gia về Mobile trên thế giới cho rằng thế mạnh nhất, thị phần
mạnh nhất của Mobile OS sẽ thuộc về MobiLinux trong những năm tới.
Hãng Symbian đã và đang đẩy mạnh những bước cải tiến nhằm tạo điều kiện thuận
lợi tối đa cho người dùng về mặt công nghệ, tích hợp hầu hết các chức năng cực mạnh
như truy cập Wi-Fi, Camera 3.0MP (Nokia N80…) cũng như tăng cường khả năng
phát triển ứng dụng, phần mềm bảo mật hệ thống cho các đối tác như Epocware,
Kaspersky,… với mục tiêu củng cố, giữ vững vị trí hàng đầu trên thị trường này.
Đối thủ cạnh tranh càng nhiều, người sử dụng càng được hưởng nhiều ưu đãi về chất
lượng, giá cả và chức năng tích hợp của thiết bị… Hy vọng trong những năm không
xa, việc mỗi người đều có một điện thoại sử dụng theo đúng ý thích riêng của mình
không còn là điều nằm quá xa tầm tay nữa
Trong quá trình phát triển của mình hệ điều hành Symbian đã sử dụng
các nguyên tắc:
- Nguyên tắc copy: Các hệ điều hành của Symbian đều giống nhau phần cốt lõi
và đều chạy trên nền các bộ xử lý trung ương (CPU) của Intel và tương hợp
Intel (như AMD, Intel XScale).
- Nguyên tắc kết hợp: từ bộ xử lý một nhân, symbian đã cải tiến lên bộ xử lý 2
nhân và cho phép xử lý cả 2 luồng dữ liệu này. Ngoài những chức năng cơ bản
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 8
là đàm thoại, các cải tiến đã tích hợp các chức năng như truyền hình kỹ thuật
số, đọc vân tay
dùng để nhận và gửi tin nhắn. Tin nhắn tối đa dài tới 16.000 từ
- BlackBerry OS 3.6 cho BlacBerry 5180 smartphone: chức năng thoại, tuy vẫn
phải dùng tai nghe và không có loa và micro trên máy - hỗ trợ mạng
GSM/GPRS. Cùng với tính năng email, web tuyệt vời. Kế đó 6710 hỗ trợ băng
tần 900/1900 MHz. Về phần cứng 6710 có bàn phím và màn hình với đèn ở
dưới, bộ nhớ gồm 1Mb SRAM và 8Mb Flash.
- BlackBerry OS 6.0 cho BlackBerry Torch 9800 được trang bị cả màn hình
cảm ứng điện dung kích thước 3,2 inch, độ phân giải 360x480 và một bàn
phím thực chuẩn qwerty. Máy có trọng lượng khoảng 161 gram, phím điều
hướng sử dụng bàn di quang học, bộ nhớ trong flash 4 GB, kèm theo thẻ nhớ
ngoài MicroSD 4 GB, camera 5 MP có đèn flash trợ sáng, có khả năng quay
video ở độ phân giải 640 x 480, khả năng kết nối wi-fi 802.11
BlackBerry OS 7 cho Blackberry Bold (9900/9930), Blackberry Torch (9810/9850/9860),
and the Blackberry Curve (9350/9360/9370/9380): Hệ điều hành BlackBerry 7 mới mang
đến cho bạn công nghệ Liquid Graphics™ được cải tiến, tốc độ truy cập web nhanh hơn
40% so với hệ điều hành BlackBerry 6, và những công nghệ đột phá như Thông tin
Không gian Thực (Augmented Reality) và Công nghệ Giao tiếp Tầm ngắn (Near Field
Communication). Hãy luôn cập nhật phần mềm của bạn để tận hưởng những tính năng
tiên tiến nhất.
Những nguyên tắc được áp dụng trong quá trình phát triển của Blackberry:
- Nguyên tắc phẩm chất cục bộ: ban đầu chỉ với chức năng nhắn tin, Blackberry đã tao
ra bước ngoặc lớn khi tích hợp chức năng thoại, đồng thời với quá trình hoàn thiện
hóa và phát triển các chức năng của duyệt mail va lướt web được ra đời và ngày càng
tối ưu. Mỗi một chức năng đều độc lập và phục vụ cho các mục đích khác nhau. Tất
cả chúng đều được tích hợp trong BlackBerry. Chính khả năng tích hợp này của điện
thoại cũng là biểu hiện của nguyên tắc vạn năng được sử dụng trong những cải tiến.
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 10
- Nguyên tắc linh động: thay vì sử dụng màn hình và bản phím theo kiểu thông thường,
việc sử dụng màn hình cảm ứng điện dung đã làm cho việc sử dụng bàn phím điện
thoại được thuận tiện hơn, nhanh hơn và màn hình điện thoại rộng hơn.
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 11
thông tin cho người sử dụng. Mãi cho đến ngày nay, Android 4.1 vẫn duy trì ý tưởng
tuyệt vời này.
• Màn hình chính và widget: Nếu bạn muốn so sánh Android, iOS và Windows
Phone, điểm khác biệt lớn nhất đó là một màn hình chính. Màn hình chính của
Android thật sự rất phong phú. Bạn có thể thay đổi hình nền (Windows Phone không
làm được điều này), đặt icon ra màn hình chính, sử dụng widget và hơn hết là thay
luôn cả cái màn hình chính nếu muốn. Độ tùy biến của màn hình chính trên Android
có thể xem là cao nhất trong các hệ điều hành di động hiện nay. Về phần widget, đây
cũng là một điểm hay của Android vì nó cho phép người dùng nhanh chóng truy cập
đến một số tính năng nào đó hoặc xem nhanh các thông tin cập nhật chi tiết một cách
nhanh nhất. Widget cũng đóng vai trò trang trí cho màn hình chính nữa. Symbian
cũng có widget nhưng chưa so được với Android về mức độ phong phú và chức
năng (tất nhiên là phải về sau này, còn lúc mới ra thì chưa có nhiều).
• Tích hợp chặt chẽ với Gmail: Lúc chiếc G1 ra mắt, Gmail đã hỗ trợ giao thức
POP và IMAP để dùng được với các trình gửi nhận email trên thiết bị di động,
nhưng vấn đề nằm ở chỗ không có giao thức nào được tận dụng tối đa để phục vụ
những tính năng độc đáo của Gmail (ví dụ như lưu trữ, đánh nhãn cho email).
Android 1.0 ra mắt đã khắc phục được vấn đề này và có thể nói chiếc G1 đã mang lại
trải nghiệm Gmail tốt nhất trên thị trường vào thời điểm đó.
• Về mặt giao diện, Google xây dựng giao diện của Android 1.0 với sự hợp tác của
một công ty thiết kế đến từ Thụy Điển với tên gọi The Astonishing Tribe (TAT). Từ
Android 1.0 đến 2.2, bạn có thể thấy sự xuất hiện của một widget đồng hồ quen
thuộc, tuy đơn giản nhưng khá đẹp mắt, đó chính là dấu ấn của TAT. Một thời gian
sau, TAT bị RIM mua lại để tập trung phát triển cho nền tảng BlackBerry OS cũng
như BBX. Mối quan hệ của TAT với Google Android cũng chấm dứt ở đây.
•
Android 1.1
Tháng 2/2009, bản nâng cấp đầu tiên của Android được trình làng, khoảng ba tháng sau
khi G1 được bán ra. Phiên bản 1.1 không phải là một cuộc cách mạng gì to lớn bởi tính
ứng là HTC Magic được giới thiệu (vào tháng 4/2009, xấp xỉ nửa năm sau khi G1
được công bố).
• Cùng với đó, Google tích hợp vào Cupcake những "cái móc", dân lập trình gọi
là hook, để họ có thể tự do viết phần mềm bàn phím của riêng mình cho Android.
Lại thêm một điểm nữa khiến cho Android trở nên khác biệt với các hệ điều hành đối
thủ khác. Lúc Cupcake xuất hiện, bàn phím ảo mặc định rất chậm và không chính
xác khi so sánh với iOS, chính vì thế mà những hãng sản xuất phần cứng như HTC
đã phát triển riêng một biện pháp khắc phục, cũng may là có hook do Google mở ra.
• Mở rộng khả năng cho widget: Android 1.0 và 1.1 có tích hợp widget, nhưng
tiềm năng của nó chưa được khai thác hết vì Google chưa đưa bộ phát triển phần
mềm cho lập trình viên. từ Android 1.5 trở đi thì chuyện đã thay đổi, và đến thời
điểm hiện tại, kho widget của Android đã rất phong phú, đó là chưa kể đến những
ứng dụng của bên thứ ba cũng mang sẵn trong mình widget nữa. Nhờ có khả năng
này mà việc tùy biến giao diện của Android càng được đẩy mạnh hơn nữa.
• Cải tiến clipboard: Thật ra Android đã hỗ trợ việc copy và paste ngay từ những
ngày đầu tiên rồi, nhưng nó bị giới hạn lại ở textbox (là những chỗ nào chúng ta có
thể gõ chữ được) và sao chép các đường link mà thôi. Ví dụ bạn đang đọc mail hay
đang duyệt web thì chịu, chúng ta không cách gì sao chép được. Với Cupcake thì
Google cho phép sao chép nội dung của web, một cải tiến được đánh giá là tốt. Còn
với Gmail thì phải đến vài bản nâng cấp sau mới có được tính năng này.
• Khả năng quay phim: Thật khó mà tưởng tượng được chiếc smartphone xịn lại
bán ra mà không hề có tính năng quay phim, nhưng đó là những gì mà chiếc T-
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 13
Mobile G1 phải "hứng chịu" (cũng hơi giống iPhone những đời đầu). Mãi đến
Android 1.5 thì Android mới quay phim được. Nhưng cũng giống với bàn phím,
trình camera mặc định của Android không tốt nên các hãng phần cứng phải nhanh
chóng thay nó với ứng dụng của riêng mình với các chế độ quay theo cảnh, chạm để
lấy nét, tùy chỉnh thông số video.
• Và còn nhiều thứ khác nữa chứ không chỉ là những điểm mà mình liệt kê ở trên,
bao gồm khả năng xóa hoặc di chuyển hàng loạt email trong Gmail, cho phép tải
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 14
chỉ được dùng độc nhất cho chiếc Motorola Droid của nhà mạng Verizon, một trong
những chiếc điện thoại đã kích hoạt cho một kỉ nguyên Android lớn mạnh như ngày hôm
nay. Motorola Droid còn được biết đến với tên gọi Motorola Milestone khi nó xuất hiện ở
Việt Nam. Đây là một sản phẩm rất thành công của Motorola và cả Google khi mang đến
cho người dùng những trải nghiệm cực kì tốt với Android.
Vậy những gì làm cho Eclair quan trọng? Nó là bản nâng cấp và làm mới lớn nhất mà
Android từng có kể từ khi hệ điều hành này được giới thiệu, cả về ngoại hình lẫn kiến
trúc bên trong. Vào thời điểm Motorola Milestone ra mắt, độ phân giải cao và lạ 854 x
480 cùng nhiều yếu tố phần cứng khác đã làm cho sản phẩm này đứng đầu thế giới
Android về cấu hình, nhưng quan trọng hơn là Android 2.0 có những tính năng khiến cho
nó dễ bán hơn, chẳng hạn như:
• Hỗ trợ nhiều tài khoản người dùng: lần đầu tiên, nhiều tài khoản Google có thể
được đăng nhập trên cùng một thiết bị chạy Android. Tài khoản Microsoft Exchange
cũng được hỗ trợ trong Eclair. Người dùng có thể duyệt qua danh bạ, email của từng
tài khoản. Google giờ đây cho phép những nhà phát triển bên thứ ba tích hợp dịch vụ
của họ vào trong mục Account này, đồng thời hỗ trợ tự động đồng bộ hóa.
• Quick Contact: khi chạm vào một số liên lạc nào đó, có một menu nhỏ sẽ xuất
hiện để bạn tương tác theo nhiều cách: gửi email, gọi điện, nhắn tin và hơn thế nữa.
Miễn là nơi nào có biểu tượng contact xuất hiện là nơi đó có thể dùng Quick
Contact. Sau này có thêm Twitter, Facebook và nhiều dịch vụ đồng bộ khác cũng
tích hợp tính năng riêng của mình vào Quick Contact.
• Cải tiến bàn phím ảo: Giống với chiếc G1, Droid/Milestone có một bàn phím
QWERTY đầy đủ dạng trượt ngang nhưng Google cho phép người dùng sử dụng
thêm bàn phím ảo mà hãng đã thiết kế lại. Mặc dù tính năng cảm ứng vẫn còn một
điều xa vời với Android vào lúc đó (trình duyệt, bản đồ và cả các phần mềm khác
không hề dùng được tính năng hai ngón tay để phóng to, thu nhỏ,…) nhưng Eclair
lại sử dụng dữ liệu multitouch từ bàn phím để xác định điểm chạm thứ hai trong lúc
người dùng gõ nhanh. Độ chính xác của bàn phím ảo trên Android 2.0 nhờ đó đã
được cải tiến đáng kể.
chế độ gọi điện, web và App Drawer cũng đã xuất hiện. Những chấm nhỏ ở góc trái, phải
bên dưới của màn hình giúp người dùng biết mình đang xem đến màn hình nào. Google
đã có nhiều cố gắng để giao diện Android được vui và đẹp hơn, dễ dùng hơn, bắt kịp
phần nào với giao diện của bên thứ ba như HTC Sense chẳng hạn.
FroYo còn có một trình xem ảnh mới với khả năng hiển thị hình ảnh 3D: nghiêng máy thì
dãy ảnh sẽ nghiên theo, đồng thời nó mang trong mình nhiều hiệu ứng chuyển động đẹp
mắt khác. Đây cũng là dấu mốc về việc Google đã đi thuê ngoài nhằm phát triển Android
mà Gallery trên FroYo là một ví dụ. Tính năng trạm phát Wifi cũng xuất hiện, cách copy,
paste mới tốt hơn. Nhiều tính năng bảo mật mới cũng xuất hiện. Tuy nhiên, với người
dùng thông thường thì việc Android 2.2 FroYo có hỗ trợ duyệt web với Flash là điểm
đáng quan tâm nhất. Hầu như người ta muốn lên FroYo là để tận hưởng được cảm giác
duyệt web với Flash đầy đủ trên thiết bị di động. Android 2.2 bổ sung thêm tính năng di
chuyển một phần ứng dụng từ bộ nhớ máy sang thẻ nhớ, giúp tiết kiệm dung lượng cho
các điện thoại thời bấy giờ.
Android 2.3 Gingerbread
Khoảng nửa năm sau khi FroYo xuất hiện, Google đã trở lại với bản Android 2.3. Google
giới thiệu nó với nhiều tính năng mới, tập trung vào việc phát triển game, đa phương tiện
và phương thức truyền thông mới. Android 2.3 có tên mã là Gingerbread, hiện bộ SDK
Android 2.3 dành cho các nhà phát triển cũng đã được Google phát hành. Bên cạnh đó,
chiếc Nexus S do Samsung sản xuấtcũng xuất hiện với vai trò là người kế nhiệm cho
Nexus One. Nexus S có vài thay đổi nhỏ so với người anh em Galaxy S.
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 16
Android 2.3 thật ra không phải là một bản nâng cấp lớn nhưng những ảnh hướng mà nó
mang lại thì không nhỏ chút nào. Lần đầu tiên Android khoác lên mình một giao diện
đen, trông ngầu và chuyên nghiệp hơn. Các thành phần trên màn hình chính có thêm tông
màu xanh lá đậm. Bên cạnh đó, việc sử dụng màu đen còn là ý định của Google để giúp
các máy dùng màn hình AMOLED tiết kiệm pin hơn. Vài tính năng mới trên Android
2.3:
• Hai thanh chặn khi chọn văn bản: Hồi Android 2.2, việc chọn văn bản khi đang
soạn thảo hoặc khi đang duyệt web rất cực khổ. Nhờ có thanh chặn này mà người
Honeycomb là phiên bản Android dành riêng cho máy tính bảng, và sản phẩm đầu tiên
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 17
dùng hệ điều hành này Motorola Xoom. Xoom mang trong mình một giao diện
thuần Android 3.0 và không bị chỉnh sửa gì. Mặc dù Android 3.0 không có nhiều dấu ấn
đặc biệt trên thị trường nhưng nó là nền tảng cho Android 4.0 sau này với các tính năng
như:
• Sử dụng tông màu đen và xanh dương làm tông màu chủ đạo, hệ thống icon và
biểu tượng mới.
• Homescreen và widget cũng được thiết kế lại. Việc đặt widget lên màn hình
cũng tiện dụng hơn nhờ có hình ảnh thu nhỏ của các homescreen trong mục widget
nên người dùng có thể chọn lựa theo ý muốn.
• Không còn nút nhấn vật lí: trên các máy tính bảng Android 3.x, người ta không
còn trang bị cho chúng ba phím Back, Home và Menu (và Search nữa) riêng biệt, cả
nút cứng lẫn nút cảm ứng, mà thay vào đó nó đã được bố trí ngay trên màn hình của
người dùng. Android 3.x có khả năng ẩn hoặc hiện các nút này một cách linh hoạt
tùy vào việc người dùng đang chạy ứng dụng gì.
• Cải thiện đa nhiệm: nút Recent Apps lần đầu tiên xuất hiện trên Android cho
phép người dùng duyệt qua các ứng dụng mà mình mới chạy trong thời gian gần đây,
nhờ đó việc chuyển đổi app dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn. Mỗi ứng dụng như
vậy cũng có một ảnh chụp màn hình thu nhỏ để tiện cho việc chọn lựa. Từ
Gingerbread trở về trước, việc chạy đa nhiệm phải nhờ đến việc nhấn giữ nút Home
để tiết lộ bảng các ứng dụng gần đây, bất tiện hơn nhiều.
• Thanh Action Bar: một thanh chức năng được đặt bên trên mỗi ứng dụng, ở đó
lập trình viên có thể đặt các nút nhấn để điều khiển ứng dụng lên. Ngoài ra,
Honeycomb còn hỗ trợ cho việc bố cục ứng dụng theo nhiều cột để hướng đến việc
hỗ trợ máy tính bảng tốt hơn.
Sau Android 3.0, Android 3.1 và 3.2 là hai bản nâng cấp nhỏ của Honeycomb và vẫn
dùng lại cái tên này. Mục đích chủ yếu của chúng là để sửa lỗi và thêm vài tính năng mới
như resize widget ngay trên homescreen, hỗ trợ thẻ SD,
Android 4.0 Ice Cream Sandwich
Sự xuất hiện của Google Now cho thấy rằng Google đã bắt đầu bước chân vào việc cạnh
tranh với Siri. Với việc nâng cao khả năng tìm kiếm, thay đổi giao diện, tự động theo dõi
thói quen sử dụng để đưa ra những thông tin chính xác và thích hợp với người dùng hơn.
Trên Android 4.1 bạn có thể tìm kiếm bằng giọng nói và các kết quả trả không chỉ đơn
giản là những dòng tìm kiếm nữa mà nó được thiết kế theo dạng thẻ đồ họa, thông minh
hơn, trực quan hơn. Không chỉ tìm kiếm theo yêu cầu, Google Now còn tự chủ động thu
thập thông tin liên tục dựa vào lịch sử tìm kiếm của bạn (thói quen người dùng), dựa vào
danh sách lịch hẹn để biết bạn sẽ đi đâu, cần thông tin gì.
Nhưng có lẽ quan trọng hơn hết của Jelly Bean không phải là về giao diện hay ứng dụng
mới mà về Project Butter giúp mang lại độ mượt chưa từng có cho Android. Theo như
giải thích của Google, độ mượt này có được là nhờ vào dự án Butter. Project Butter đã
được Google đề cập tới tại I/O 2012 với mục đích giải quyết tình trạng lag và độ phản
ứng không tốt của Android. Với Project Butter, các kỹ sư Android đã tăng framerate cho
phiên bản mới nhất này lên 60 khung hình/giây (trước đó trên Android 3.0 hay Android
4.0 framerate là 30 khung hình/giây) cũng như bổ sung VSync, tăng bộ đệm lên gấp ba
để nâng cao trải nghiệm người dùng. Project Butter sẽ có tác động trực tiếp tới toàn bộ hệ
thống của Jelly Bean nhằm mang tới trải nghiệm người dùng nhanh và mượt mà nhất có
thể. VSync sẽ cải thiện hiệu năng đồ hoạ tổng thể trong khi bộ nhớ đệm tăng gấp ba lần
sẽ cho phép GPU và CPU cũng như màn hình hoạt động song song với nhau. Hồi Google
I/O, Google đã mang một máy quay chậm có tốc độ lên tới 300 khung hình/giây để so
sánh độ mượt. Mời bạn xem video bên dưới để thấy được máy chạy nhanh như thế nào.
Android 4.2 Jelly Bean
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 19
Ngày 30/10/2012, Google chính thức tuyên bố cập nhật hệ điều hành Android của hãng
lên phiên bản 4.2 và vẫn giữ nguyên tên gọi "Jelly Bean" (có nghĩa là kẹo dẻo đậu). Được
hãng gọi là "một hương vị mới của Jelly Bean", Android 4.2 mang trong mình nhiều tính
năng mới như hỗ trợ Miracast, bàn phím có thể nhập liệu bằng cách vẽ các đường nét từ
kí tự này đến kí tự khác, chế độ chụp ảnh toàn cảnh Photo Sphere, ứng dụng Gmail mới
và còn rất nhiều thứ khác nữa.
Trong quá trình giới thiệu Android 4.2, Google rất tập trung nói về Miracast, một chuẩn
hiện.
Android 4.4 KitKat
Thế hệ kế tiếp của Android là Android 4.4 và không còn mang tên Jelly Bean nữa mà gọi
là KitKat.Nếu như bạn chưa biết thì KitKat là một loại bánh xốp bọc chocolate của hãng
Nestle. Cách đặt tên này cũng hoàn toàn khớp với trình tự chữ cái mà các phiên bản
Android sử dụng làm tên mã*. Google tiết lộ thêm rằng "mục tiêu của chúng tôi
với Android KitKat đó là mang trải nghiệm Android đáng kinh ngạc đến cho mọi người".
Google chia sẻ thêm rằng hãng đã từng chọn tên Key Lime Pie cho hệ điều hành Android
thế hệ kế tiếp, tuy nhiên mới chỉ xài trong nội bộ công ty. Sau đó công ty chọn KitKat vì
nhiều người biết đến mùi vị của loại bánh này hơn.
.Những nguyên tắc được sử dụng trong quá trình phát triển của Android:
- Nguyên tắc thực hiện sơ bộ: Android được phát triển dựa trên nền tảng của linux,
với tính năng mở đã tạo ra sự hấp dẫn đối với các nhà sản xuất điện thoại khi tạo
ra lõi mà mà công ty phần cứng, phần mềm và viễn thông có thể xây dựng các
ứng dụng di động sáng tạo.
- Nguyên tắc tách khỏi: Tất cả các ứng dụng của Android OS được lưu trữ trên
Android Market. Người dùng cần ứng dụng nào có thể lên market lấy về và cài
đặt lên điện thoại. Tải video lên Youtube hoặc Picassa để có thể truy xuất video từ
mọi nơi.
- Nguyên tắc chia nhỏ: Chức năng quay phim, chụp hình, lưu trữ hình ảnh và xem
dược dạng slide, thư viện hình ảnh, chuyển đổi chế độ quay phim và chụp hình.
Đây là những chức năng hỗ trợ cho việc lưu lại hình ảnh và đã được chia nhỏ một
cách độc lập và tối ưu hóa.
- Nguyên tắc đảo ngược: Tính năng tạo điểm phát sóng Wi-fil di động (Hotspot)
cho phép tạo ra một khu vực cung cấp dịch vụ truy cập Internet không dâyvới
nhiều máy cùng truy cập một lúc. Hotspot ngược lại với chức năng thông thường
là là truy xuất internet bằng wi-fi. Chức năng đàm thoại internet thay vì sử dụng
CS (Circuit switching) call thi đàm thoại internet đã sử dụng chức năng PS
(Packet switching) call để thực hiện viêc chuyển các gói thoại qua internet.
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 21
xuất sắc đó và phần mềm đơn giản, mạnh mẽ hơn hẳn tất cả các hệ thống khác. Bằng
cách loại bỏ tất cả các phím cứng, iPhone đã trở thành thiết kế tối ưa hóa hoàn toàn cho
cảm ứng. Các tính năng như zoom đa điểm hay các cử chỉ trượt inertial scrolling làm cho
ứng dụng hoạt động mượt mà, tự nhiên hơn rất nhiều. Ngoài ra, tốc độ, thời gian phản hồi
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 22
và cách tương tác của iOS 1.0 vẫn thật tuyệt vời sau 5 năm.
Trình duyệt web Mobile Safari: Dù cho chúng ta có “chửi” Steve Jobs vì đã khoác lác về
việc trình duyệt Mobile Safari đi xa hơn các đối thủ hàng năm trời, về việc nó không bao
giờ hỗ trợ Flash nhưng đây là trình duyệt di động đầu tiên cho người dùng cảm giác sử
dụng tuyệt vời và mạnh mẽ như khi đọc web trên máy vi tính. Trong khi tất cả các trình
duyệt ở hệ điều hành khác cố gắng format lại trang web, di chuyển các cột chữ, hình ảnh
một cách thảm hại, phá vỡ cấu trúc của trang web thì Mobile Safari lại hiển thị rất xuất
sắc, hỗ trợ các cử chỉ zoom, trượt mà không trình duyệt nào có thể làm được vào thời
điểm đó.
Một chiếc iPod màn hình lớn: Apple đã sử dụng hệ sinh thái iPod và iTunes đầy mạnh
mẽ để tạo ra một điểm tựa cực kỳ vững chắc cho iOS ngay từ những ngày đầu tiên. Sau
đó, họ lại tiếp tục tạo ra 1 hệ sinh thái lớn và vững chắc hơn với nhạc, phim, TV, sách và
ứng dụng. Ở thời điểm hiện tại, có thể bạn không còn nghe nhạc nhiều trên iPhone nhưng
5 năm trước thì tính năng nghe nhạc thật sự là điểm tựa lớn cho iOS cất cánh.
iOS 1.0 cũng giới thiệu rất nhiều tính năng mới rất quan trọng và đi trước thời đại:
Google Maps xuất sắc hơn rất nhiều trên iPhone so với bất cứ nền tảng nào khác. Apple
đã tùy biến chương trình dẫn đường này cho nó nhanh chóng, mượt mà hơn với tính năng
pinch to zoom. Đặc biệt hơn nữa là Google Maps iOS thậm chí còn dễ dùng, đơn giản và
thuận tiện hơn cả bản cho máy tính.
Hộp thư thoại Visual voicemail (VN không có xài cái này nhiều) là một bước tiến mới
của Apple, nó thể hiện sức mạnh của hãng trong việc thương thuyết với các nhà mạng.
Thay vì phải trải qua hàng loạt các menu khác nhau, nghe toàn bộ voicemail trước khi
đến cái mình cần thì người dùng iPhone chỉ đơn giản bấm 1 nút là nghe được voicemail
mà họ muốn nghe. Visual Voicemail thể hiện rõ ràng Apple chứ không phải nhà mạng
mới chính là công ty mang lại trải nghiệm cuối cho người dùng.
của 1 thiết bị mới là iPod touch.
Tính năng đáng chú ý nhất của bạn 1.1.1 này là kho nhạc Music Store trên iTunes cho
phép người dùng mua ngay trên điện thoại. Ngoài ra, iPhone cũng hỗ trợ TV out và 1
shortcut khi nhấn kép nút home, một tính năng mà Apple liên tục thay đổi qua các phiên
bản. iOS 1.1.3 sau đó bổ sung thêm khả năng sắp xếp các biểu tượng ở màn hình chủ
cũng như shortcut của các trang mà Apple gọi là Web Clips.
iOS 2: ứng dụng:
Khoảnh khắc nổi bật tiếp theo của iOS đến vào tháng 7/2008, khi Apple giới thiệu iOS 2
với kho ứng dụng App Store. Các ứng dụng trên App Store có thể được mua trực tiếp trên
thiết bị hoặc qua iTunes trên máy tính, những cách thức tương tác rất khác lạ so với các
phân phối phần mềm di động truyền thống.
App Store: Apple App Store là một kênh phân phối ứng dụng hoàn toàn khác biệt, nó
không chỉ giúp người dùng cài đặt ứng dụng trên máy tính mà còn trên chính bản thân
thiết bị. Trước khi App Store ra mắt, người ta chỉ có thể mua ứng dụng từ các trang web
hay các kho ứng dụng bên thứ 3 vốn tích hợp khá lỏng lẻo vào hệ điều hành. Đặc biệt
hơn, App Store sử dụng chung một tài khoản với kho nhạc iTunes vốn đã quá phổ biến
trước đó nên người dùng không cần phải đăng ký mới, nhập lại thông tin thẻ tín dụng hay
Phương pháp nghiên cứu khoa học Trang 24
các thao tác phức tạp khác.
Bộ công cụ phát triển phần mềm iOS SDK: Bộ công cụ phát triển phần mềm thể hiện sự
mạnh mẽ của iOS so với các nền tảng khác, nó hỗ trợ tối đa không gian cho lập trình viên
sáng tạo. Hệ quả là các ứng dụng iOS trở nên đẹp hơn, chất lượng cao hơn bất cứ một
nền tảng nào trước đó.
Dù vậy, App Store không phải là không có điểm yếu. Đầu tiên, chính là việc Apple ngăn
cấm người dùng cài đặt thêm phần mềm từ các kho ứng dụng khác. Việc này có thể
không quá tệ nếu như chính sách kiểm duyệt phần mềm của hãng khá hơn, họ có thể dễ
dàng loại bỏ những ứng dụng không thích trong khi phần mềm đó vẫn hiện diện trên các
kho ứng dụng đối thủ.
Một ưu điểm khác của App Store là nó đã hạ giá phần mềm di động xuống rất nhanh.
Nếu như trước đây, các ứng dụng cao cấp nhất có thể lên tới 40$ thì trên App Store hầu