khảo sát thành phần hóa học của quả quất trên địa bàn tỉnh đồng tháp - Pdf 27


1
MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ 2
DANH MỤC BẢNG 3
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tìm hiểu chung về cây quất 8
1.2. Tìm hiểu chung về tinh dầu 9
1.3. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 14
1.4. Ly trích bằng chiếu xạ vi sóng 16
1.5. Đánh giá chất lượng tinh dầu bằng phương pháp hóa lý 18

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM
2.1. Hóa chất và dụng cụ 24
2.2. Nguyên liệu và xử lí nguyên liệu 26
2.3. Ly trích tinh dầu từ vỏ quả quất 26
2.4. Khảo sát các chỉ số hóa lý và thành phần hóa học
của tinh dầu vỏ quả quất 29
2.5. Khảo sát thành phần hóa học ngoài tinh dầu của vỏ quả quất 31
2.6. Khảo sát thành phần hóa học của nước quả quất 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Độ ẩm nguyên liệu 33
3.2. Ly trích tinh dầu từ vỏ quả quất 33
3.3. Khảo sát thành phần hóa học ngoài tinh dầu của vỏ quả quất 39
3.4. Định tính sơ bộ thành phần hóa học của nước quả quất 41

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
KẾT LUẬN 43

Bảng 3.2. Các chỉ số hóa lý của tinh dầu 34
Bảng 3.3. Thành phần hóa học của tinh dầu vỏ quả quất qua chụp phổ GC/MS 37
Bảng 3.4. Kết quả thử hoạt tính sinh học của mẫu tinh dầu
thu được từ phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước cổ điển 38
Bảng 3.5. Kết quả thử hoạt tính sinh học của mẫu tinh dầu thu được từ
phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước kết hợp với chiếu xạ vi sóng 39
Bảng 3.6. Thành phần hóa học ngoài tinh dầu của vỏ quả quất
qua chụp phổ GC/MS 40 4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vỏ các loài cây citrus: cam, chanh, bưởi… từ lâu đã được sử dụng để sản
xuất tinh dầu ở các nước công nghiệp trên thới giới như Mỹ, Ý. Tinh dầu citrus có
mùi thơm dễ chịu, hàm lượng limonen cao được sử dụng rộng rãi trong thực phẩm
và mỹ phẩm. Trong các nghiên cứu gần đây còn cho thấy limonen còn có tác dụng
tán sỏi, phá khối u…Ngoài ra theo một vài nghiên cứu mới đây cho thấy thành phần
của nước quả quất đã cô lại thành cao quất có chứa flavonoid, phytostereol, steroid,
carotenoid…đặc biệt có chứa ankaloit dược tính cao.
Ở nước ta, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long trong đó có tỉnh Đồng
Tháp, một loài cây thuộc loài Citrus họ Rutaceae (họ cam) khác là cây quất phổ
biến là loài citrus japonica Thumb. (fortunella japonica Swing) được trồng khắp
nơi. Cây quất (cây tắc, cây hạnh) trở nên quen thuộc với chúng ta với công dụng
làm cây cảnh. Từ xa xưa, trong dịp tết Nguyên Đán, người ta đã biết dung cây quất
trang trí không phải bằng hoa mà bằng quả. Những quả quất tròn trĩnh với màu đỏ
cam hấp dẫn không những làm đẹp cảnh quan ngày tết mà còn là vị thuốc hay trong
y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian. Theo Đông y quả quất vị ngọt chua, tính
ấm vào các kinh phế, vị, can. Có công năng hóa đàm, trị ho, lý khí, giải uất, tiêu
thực, giải rượu. Vỏ quất có nhiều tác dụng như kháng khuẩn, giảm tress giúp ngủ

3.

Nhiệm vụ nghiên cứu

-

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.

-

Tiến hành thực nghiệm ly trích tinh dầu từ vỏ quả quất bằng phương pháp
chưng

cất

lôi

cuốn

hơi

nước



chưng

cất

lôi

số

hóa





thành phần

hóa học

của

tinh

dầu

từ

hai
phương pháp chưng cất trên.

-

Chiết, sắc kí bản mỏng và sắc kí cột từ dung môi ít phân cực đến phân cực
để khảo sát thành phần hóa học ngoài tinh dầu.

-


-

Nghiên cứu lí thuyết: thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu

-

Thực nghiệm hóa học:+

Các phương pháp tách chiết các hợp chất hợp cơ: Phương pháp chưng cất
lôi

cuốn hơi nước

cổ điển và

chưng

cất

lôi

cuốn hơi nước kết hợp

với

chiếu


Phan Thị Bảo Vy. Khoa Công nghệ Hóa Học – ĐHBK TP HCM – 2009 đã tách và
xác định thành phần hóa học của tinh dầu quất, bước đầu chiết và định tính ankaloit có
trong nước quả quất.
3. Ly trích tinh dầu vỏ trái và lá tắc- Trịnh Hoàng Hiếu, Nguyễn Thị Bảo
trân, Lê Ngọc Thạch. Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, tập 12, số 10-2009.
Nhóm tác giả đã nghiên cứu ly trích tinh dầu từ lá và vỏ quả tắc bằng hai phương
pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước và chưng cát lôi cuốn hơi nước có sự kết hợp của
chiếu xạ vi sóng, thử hoạt tính sinh học của tinh dầu lá và vỏ tắc thu được từ hai
phương pháp chưng cất trên.
4. Duong Phuoc An, Huynh Thi Bich Tuyen, Nguyen Ngoc Khoi * Y Hoc
TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 1 - 2010: 35-40.
Nội dung của công trình là khảo sát thành phần hóa học và thử hoạt tính giải lo
âu của tinh dầu bưởi, cam, chanh, quýt, quất, kết quả cho thấy tinh chỉ có tinh dầu
quất có hoạt tính giải lo âu là do sự khác biệt về thành phần hóa học của tinh dầu. Ở
tinh dầu quất có sự hiện diện của 7,7-dimethyl-2-methylen bicyclo[2.2.1]heptan
(0,21%) và 1,2,3,4a,5,6,8a-octahydro-7-methyl-4-methylen-1-(methylethyl)
naphthalen (1,32%) mà không phát hiện ở 4 loại tinh dầu còn lại. Tuy nhiên hai chất
này không tìm thấy trong thành hóa học của tinh dầu quất ở tài liệu (2) và (3)
7. Những đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung vào kết quả nghiên cứu thành phần
hóa học của tinh dầu quất và thử hoạt tính sinh học của tinh dầu quất.

7
Tăng cường hướng nghiên cứu mới về thành phần hóa học ngoài tinh dầu
của quả quất góp phần tìm ra hợp chất các hợp chất thiên nhiên có dược tính cao từ
quả quất.

8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN


9
1.2. Tìm hiểu chung về tinh dầu
1.2.1. Những nét đặc trưng của tinh dầu
Tinh dầu gồm nhiều hợp chất dễ bay hơi ( chủ yếu là các tecpen và
các
tritecpenonit), có mùi đặc trưng tùy thuộc vào nguồn gốc cung cấp nguyên liệu
tinh
dầu. Hệ thực vật có tinh dầu khoảng 3000 loài, trong đó có 150- 200 loài có ý
nghĩa
công
nghiệp.

Tinh dầu là hỗn hợp các chất hữu cơ tan lẫn vào nhau, có mùi đặc trưng. Ở
nhiệt độ thường hầu hết tinh dầu ở thể lỏng, có khối lượng riêng bé hơn 1 (trừ một
vài tinh dầu như quế, đinh hương…), không tan trong nước hoặc tan rất ít, nhưng lại
hòa tan tốt trong dung môi hữu cơ như ancol, ete, chất béo…Tinh dầu bay hơi với
hơi nước, có vị cay và ngọt, nóng bỏng và có tính sát trùng mạnh [15].
Tinh dầu có hai loại: Nguyên chất và tinh dầu hỗn hợp.
Tinh dầu nguyên chất: Hoàn toàn không có độc tố

không có chất bảo quản
hóa học nên rất an toàn cho người sử dụng

và mang lại kết quả nhanh khi điều trị.
Tinh dầu xuất phát từ nhiều quốc gia. Một trong các nhà cung cấp tinh dầu tại Việt
Nam là công ty Tinh Dầu Thiên Nhiên.
Tinh dầu không nguyên chất được pha trộn với các loại tinh dầu khác nhau.
Thành phần hóa học của tinh dầu gồm tecpen và những dẫn xuất chứa oxi
của tecpen (như ancol, anđehit, xeton, ete…). Mặc dù có nhiều cấu tử như vậy
nhưng thường một vài cấu tử chính có giá trị và có mùi đặc trưng cho tinh dầu đó


10

ánh sáng, thời điểm thu hoạch. Trong các bộ phận của cây hàm lượng tinh dầu
cũng khác nhau. Cần phải hiểu biết như vậy để xác định thời gian thu hái cho hàm
lượng tinh dầu nhiều nhất và chất lượng tốt nhất. Tinh dầu là sản phẩm cuối
cùng
của quá trình trao đổi chất và không được sử dụng trở lại cho hoạt động sống
của cây [14].
1.2.2 Tính chất lý-hóa của tinh dầu
1.2.3.1. Tính chất vật lý
Ở nhiệt độ thường, tinh dầu ở thể lỏng, trừ một số trường hợp đặc biệt như
menthol, camphor…là ở thể rắn.
Tinh dầu gần như không tan trong nước và dễ bay hơi, do vậy có thể tách thu
tinh dầu bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước. Tinh dầu rất ít tan trong
nước, tan tốt trong cồn và các dung môi hữu cơ, các loại dầu mỡ, có thể tan một
phần trong dung dịch kiềm,…
Đa số tinh dầu không có màu hoặc màu vàng nhạt, một số tinh dầu có màu,
như tinh dầu quế có màu nâu sẫm, tinh dầu thymus có màu đỏ. Tinh dầu thường có
vị cay và hắc.
Tỷ trọng của tinh dầu thường khoảng 0,80 - 0,95, có một số tinh dầu nặng
hơn nước như tinh dầu đinh hương, tinh dầu quế. Tỷ trọng thay đổi theo thành phần
hóa học. Nếu tinh dầu có thành phần chủ yếu là hydrocarbon tecpenic thì tỷ trọng
thấp, tinh dầu có hợp chất chứa oxi hoặc nhân thơm thì tỷ trọng cao hơn.
Tinh dầu thường có chỉ số khúc xạ vào khoảng 1,45 - 1,56. Chỉ số khúc xạ
cao hay thấp tùy theo thành phần các chất chứa trong tinh dầu là no, không no hoặc
nhân thơm. Nếu trong tinh dầu có nhiều thành phần có nhiều nối đôi thì có chỉ số
khúc xạ cao. Chỉ số khúc xạ bị ảnh hưởng bởi yếu tố nhiệt độ. Khi đo chỉ số khúc
xạ ở những nhiệt độ khác nhau thì cho kết quả khác nhau, nhiệt độ càng lớn thì chỉ
số khúc xạ biến thiên theo hướng giảm và ngược lại.

anđehit, anđehit biến thành axit.
Các hợp chất có nối đôi dễ bị oxi hóa hoặc tham gia vào phản ứng cộng hợp.
Các hợp chất xeton và anđehit dễ bị ancol hóa tạo nhựa khi có mặt của kiềm.
Nhiều thành phần có các nhóm chức khác nhau có thể tham gia các phản ứng
hóa học, làm thay đổi tính chất của tinh dầu.
1.2.3. Thành phần và tính chất lý-hóa của tinh dầu vỏ quả quất
Tinh dầu vỏ quả quất là chất lỏng trong suốt, có màu vàng nhạt, có mùi thơm
đặc trưng rất dễ chịu. Trong tinh dầu có chứa khoảng 25 thành phần, trong đó thành
phần chủ yếu của tinh dầu là D – Limomen chiếm trên 85%, bên cạnh đó còn có
một số chất khác như 1R-alpha-pinen, Beta-pinen, sabinen, limonen, b-ocimen,
linalol Đặc biệt là ở tinh dầu vỏ quất có sự hiện diện của 7,7-dimethyl-2-methylen
bicyclo [2.2.1] heptan và 1,2,3,4a,5,6,8a-octahydro-7-methyl-4-methylen-1-
(methylethyl) naphthalen mà không phát hiện ở 4 loại tinh dầu cam, chanh, bưởi,
quýt. Rất có thể sự khác biệt trong thành phần hóa học này góp phần vào sự khác
biệt về hoạt tính sinh học, cụ thể là tác dụng giải lo âu của tinh dầu quất.
Từ công trình nghiên cứu Tách tinh dầu và alkaloid từ quả quất trong Hội
nghị Khoa học và Công nghệ lần 9 đã tìm ra thành phần hóa học của tinh dầu vỏ
quất.
12

Bảng 1.1. Thành phần hóa học của tinh dầu vỏ quả quất [6]
STT Thành phần hóa học a (%) b(%)
1 Limonen 93,12 89,02
2 1R-alpha-pinen 1,16 -
3 Beta-pinen - 1,29
4 Beta-myrcen - 4,59
5 p-men-6,8-dien-2-one - 0,57

0,64
3 4-methylen-1-(1-methylethyl) cyclohexen C
10
H
16
0,77

13

4 Beta-pinen C
10
H
16
2,17
5 Limonen C
10
H
16
94,74
6 2-methyl-5,1-methylethyl bicyclo[3.1.0]hexan-2-ol C
10
H
18
-
7 7,7-dimethyl-2-methylen bicyclo[2.2.1]heptan C
10
H
16
0,21
8

Chỉ số axit
Chỉ số xà phòng
Chỉ số este
Chỉ số iod
0,84
1,4673
1:4,775
176
+ 92,8
0,54
6,86
6,32
56,375

1.2.4. Ứng dụng của tinh dầu vỏ quả quất
Tinh dầu cam, chanh, quất, có mùi hương thanh thản, dễ chịu. Cây quất
ngoài công dụng làm cảnh, tinh dầu từ quả quất có rất nhiều công dụng, rất thiết
thực trong đời sống như: Chống nấm móng tay, giúp ngủ ngon, trị đau đầu, tạo cảm
giác ngon miệng, khử mùi, hạ đường huyết, giảm đầy hơi… Ngoài ra tinh dầu quất
còn giúp ngăn ngừa phát sinh ung thư gan, thực quản, đại tràng, da Các nhà khoa
học Nhật Bản cho biết, ăn quất cả vỏ sẽ cho vitamin C, chất xơ rất có lợi cho tiêu
hóa và hạ được cholesterol, làm vững chắc thành mạch, chữa bệnh tăng huyết áp…
Dùng vỏ quýt hay quất ngâm rượu trong một thời gian, rượu sẽ có mùi thơm
dễ chịu hơn. Nếu cho vào ly nước vài miếng vỏ quýt, quất nước sẽ rất thơm ngon.

14

Vỏ cam, quýt, bưởi, quất khô khi đốt lên giúp xua muỗi. Đốt vỏ quất khô trong
phòng thì mùi khó chịu sẽ biến mất.
1.3. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước

cuốn đi. Còn nước đi vào nguyên liệu theo chiều ngược lại và tinh dầu lại tiếp tục
hòa tan vào lượng nước này. Quy trình này lặp đi lặp lại cho đến khi tinh dầu trong
các mô thoát ra ngoài hết. Đồng thời những hợp chất nào dễ hòa tan trong nước sẽ
được lôi cuốn trước.
Như vậy, sự hiện diện của nước rất cần thiết, cho nên trong chưng cất phải sử
dụng hơi nước quá nhiệt, chú ý tránh để nguyên liệu bị khô. Nhưng nếu lượng nước
sử dụng thừa quá thì cũng không có lợi, nhất là trong trường hợp tinh dầu có chứa

15

những cấu phần dễ tan trong nước. Nguyên liệu được làm vỡ vụn càng nhiều càng
tốt, cần cho lớp nguyên liệu có một độ xốp nhất định nào đó để hơi nước có thể đi
vào lớp này đồng đều và dễ dàng hơn.
1.3.2.2. Sự thủy giải
Những cấu phần este trong tinh dầu thường dễ bị thủy giải cho ra axit và
ancol khi đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng
này, sự chưng cất lôi cuốn hơi nước phải thực hiện trong thời gian càng ngắn càng
tốt.
1.3.2.3. Nhiệt độ
Nhiệt độ cao làm phân hủy tinh dầu. Do đó, khi tiến hành chưng cất phải
điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp với từng giai đoạn. Sau khi cấu phần dễ bay hơi đã
lôi cuốn đi hết có thể dùng hơi nước quá nhiệt (trên 100
0
C) để chưng cất (nên thực
hiện việc này ở giai đoạn cuối cùng của chưng cất). Tuy nhiên, hầu hết các tinh dầu
đều kém bền dưới tác dụng của nhiệt nên ta phải hạn chế thời gian chịu nhiệt độ cao
của tinh dầu.
Các yếu tố trên đều có mối liên hệ lẫn nhau khi tăng nhiệt độ thì sự khuếch
tán thẩm thấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước cũng sẽ tăng nhưng sự phân
hủy tinh dầu cũng sẽ tăng theo.

cất. Theo dõi lượng chất cất ra, khi kết thúc ngừng đun, mở khóa 3
thông, lấy
chất
cất
ra. [2].16

Khi chưng cất cần chú ý chất có thể đóng rắn trong sinh hàn gây tắc ống,
dễ
nổ
nên cần phải thận trong khi sử dụng ống sinh
hàn.
Những ưu nhược điểm chung của phương pháp chưng cất:
* Ưu điểm:
- Thiết bị khá gọn gàng, dễ chế tạo, qui trình sản xuất đơn giản,
- Trong quá trình chưng cất, có thể phân chia các cấu tử trong hỗn hợp bằng
cách ngưng tụ từng phần theo thời gian,
- Thời gian chưng cất tương đối nhanh, nếu thực hiện gián đoạn chỉ cần 5-10
giờ, nếu liên tục thì 1 giờ đến 2 giờ 30 phút.
- Có thể tiến hành chưng cất với các cấu tử tinh dầu chịu được nhiệt độ cao.
* Nhược điểm:
- Không áp dụng phương pháp chưng cất vào những nguyên liệu có hàm
lượng tinh dầu thấp vì thời gian chưng cất sẽ kéo dài, tốn rất nhiều hơi và nước
ngưng tụ.
- Tinh dầu thu được có thể bị giảm chất lượng nếu có chứa các cấu tử dễ bị
thủy phân.
- Không có khả năng tách các thành phần khó bay hơi hoặc không bay hơi
trong thành phần của nguyên liệu ban đầu mà những thành phần này rất cần thiết vì

giữa các phân tử, đó chính là nguồn gốc sự nóng lên của vật chất.
Với một cơ cấu có sự bất đối xứng cao, phân tử nước có độ phân cực rất lớn,
do đó nước là một chất rất lý tưởng dễ đun nóng bằng vi sóng. Ngoài ra, các nhóm
định chức phân cực như: -OH, -COOH, -NH
2
… trong các hợp chất hữu cơ cũng là
những nhóm chịu sự tác động mạnh của trường điện từ.
Do đó, những hợp chất càng phân cực càng rất mau nóng dưới sự chiếu xạ
của vi sóng. Việc này có liên quan đến hằng số điện môi của hợp chất đó. Tóm lại,
sự đun nóng bởi vi sóng rất chọn lọc, trực tiếp và nhanh chóng.
1.4.3. Tính chất
Vi sóng có đặc tính là có thể đi xuyên qua được không khí, gốm sứ, thủy
tinh, polimer và phản xạ trên bề mặt các kim loại. Độ xuyên thấu tỉ lệ nghịch với
tần số, khi tần số tăng lên thì độ xuyên thấu của vi sóng giảm. Đối với một vật chất
có độ ẩm 50% với tần số 2450 MHz có độ xuyên là 10 cm. Ngoài ra, vi sóng có thể
lan truyền trong chân không, trong điều kiện áp suất cao…
Năng lượng của vi sóng rất yếu, không quá 10
-6
eV, trong khi năng lượng
của một nối cộng hóa trị là 5 eV, do đó bức xạ vi sóng không phải là một bức xạ ion
hóa.
Có một số công trình đã khẳng định được tính vô hại của vi sóng đối với sinh
vật. Chẳng hạn, khi nghiên cứu sự phát triển của enzim trong điều kiện vi sóng,
người ta nhận thấy rằng ảnh hưởng của vi sóng rất giống ảnh hưởng của các gia
nhiệt thông thường.

18

Vi sóng cung cấp một kiểu đun nóng không dùng sự truyền nhiệt thông
thường. Với kiểu đun nóng bình thường, sức nóng đi từ bề mặt của vật chất lần vào


19

1.5.1.2. Xác định vị
Xác định vị của tinh dầu bằng cách trộn một giọt dầu với 1g đường kính rồi
nếm.
1.5.1.3. Xác định mùi
Xác định mùi của tinh dầu bằng cách nhỏ vài giọt tinh dầu lên một mảnh
giấy thấm rồi ngửi cứ 15 phút 1 lần trong khoảng 1 giờ.
1.5.2. Xác định chỉ tiêu lý-hóa
1.5.2.1. Xác định tỷ trọng [2]
Tỷ trọng của tinh dầu là tỷ số của khối lượng tinh dầu ở 25
0
C với khối lượng
của cùng một thể tích nước cất cũng ở nhiệt độ 25
0
C.
Cách xác định:
Lấy lọ đo tỷ trọng có ngấn chuẩn thể tích 25ml hoặc 50ml đem rữa sạch bằng
hỗn hợp sunfocromic, tráng kỹ bằng nước cất rồi tráng lại bằng axeton hay bằng
cồn và ete.
Đặt lọ và nút đã khô, nguội lên đĩa cân bên phải của một cân phân tích cùng
một số quả cân có khối lượng G đủ để cân bằng một bình cố định đã đặt ở đĩa cân
bên trái. G xác định chính xác đến 0,001g.
Lấy lọ ra, rót nước cất vào cho đầy quá ngấn chuẩn một chút, chú ý đừng để
cho bọt khí bám vào thành lọ. Đặt lọ vào môi trường ổn nhiệt ở 25
0
C ngập cho đến
cổ lọ. Để trong khoảng 20 – 30 phút cho nhiệt độ của nước đạt đến 25
0

2
1
G G
d
G G




Trong đó:
G: khối lượng của các quả cân ứng với khi cân lọ không, tính bằng gam (g).
G
1
: khối lượng của các quả cân ứng với khi cân lọ có đựng nước cất, tính
bằng gam (g).
G
2
: khối lượng của các quả cân ứng với khi cân lọ có đựng tinh dầu, tính
bằng gam (g).
Sai lệch giữa hai lần xác định liên tiếp không lệch quá 0,001.
Kết quả cuối cùng là trung bình cộng của kết quả hai lần xác định liên tiếp.
Nếu không thể xác định tỷ trọng của tinh dầu ở nhiệt độ 25
0
C thì xác định ở
nhiệt độ ghi trong bảng tiêu chuẩn về tinh dầu đó.
1.5.2.2. Xác định chỉ số khúc xạ [2]
Xác định chỉ số khúc xạ ở 25
0
C theo phương pháp đo góc giới hạn bằng khúc
xạ kế kiểu Abbe có đèn natri hay bộ phân bổ chính triệt tiêu hiện tượng tán sắc.

số ba lần.
Lấy giá trị trung bình làm kết quả.
Sai số cho phép của kết quả là 0,0002.
1.5.2.3. Xác định góc quay cực [2]
Góc quay cực được xác định ở nhiệt độ phòng.
Cách tiến hành:
Điều chỉnh máy: Đổ nước cất vào đày ống của phân cực kế, chú ý tránh có
bọt khí bên trong. Vặn chặt nắp đậy ống. Đặt ống vào máng của phân cực kế đã bật
đèn sáng. Nhìn vành thị kính, lúc đó sẽ nhìn thấy những miền sáng không đồng đều
nhau. Xoay thị kính cho vừa mắt để nhìn ranh giới giữa các miền cho thật sắc nét.
Xoay đĩa chia độ (tức là xoay kính phân tích) cho những mền của thị trường đều
sáng như nhau. Xem vạch chuẩn trên vành chia độ để xác định sai lệch của điểm 00
so với điểm 0 của du xích.
Đo góc quay cực: Lấy ống trong máy ra, tháo nước đi và lau ống cho thật
khô. Đổ tinh dầu cho đầy ống và tiếp tục làm như khi điều chỉnh máy. Sau khi đã
chia dĩa chia độ cho những miền của thị trường sáng điều nhau xem vạch chuẩn trên
vành chia độ và đọc kết quả. Hiệu chỉnh với độ sai lệch của điểm 00 so với điểm 0
của du xích (kết quả khi điều chỉnh máy) để được trị đúng của góc quay cực.
1.5.2.4. Xác định độ hòa tan trong etanol [2]
Tỷ trọng của etanol 90% (% theo thể tích) ở 25
0
C là 0,8098 – 0,8117, etanol
96% là 0,8038 - 0,8063.

22

Cách pha:
Muốn pha etanol 90% lấy 937,5ml etanol 96% rồi pha loãng bằng nước cất
cho tới 1 lít, đo tỷ trọng và điều chỉnh.
Cách xác định:

2
O
Từ lượng kiềm đã dùng, biết khối lượng của phân tử axit, tính ra lượng axit.
Hàm lượng axit được biểu thị bằng chỉ số axit nghĩa là lượng mg KOH cần
để trung hòa 1g chất thử hoặc biểu thị bằng phần trăm.
Cách tiến hành:
Cân chính xác 2g tinh dầu không lẫn nước cho vào một bình cầu để và phòng
hóa dung tích từ 100 – 200ml có ống làm lạnh bằng không khí dài 1m, đường kính
0,1cm. Cho vào 10ml etanol trung tính 96% ở 20
0
C, nhỏ vào 10 giọt dung dịch
phenolphthalein trung tính 0,2g trong 100ml etanol.

23

Chuẩn độ đến xuất hiện màu hồng vững bền trong 30 giây.
Tính kết quả:
Chỉ số axit (X
1
) tính theo công thức:

1
.5,61
v
X
G


Trong đó:
V (ml): thể tích dung dịch KOH 0,1N trong rượu đã dùng để chuẩn độ
24

CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM
2.1. Hóa chất và dụng cụ
2.1.1. Hóa chất
- Na
2
SO
4
rắn - Dietyl ete (CH
3
CH
2
)
2
O
- NaCl rắn - Clorofom CHCl
3

- KOH rắn - Axeton
- HCl đặc - n-hexan
- FeCl
3
- Thuốc thử Tollens
- [K
3
Fe(CN)
6

3
[Fe(CN)
6
])→ phản ứng dương tính khi dung dịch có
màu xanh thẫm.
 Một số thuốc thử dùng để nhận biết Glycosid
- Thuốc thử Felling:
Dung dịch A: 40g CuSO
4
.5H
2
O trong 1 lít nước cất
Dung dịch B: 150g NaOH trong nước cất, thêm 50ml glyxerin vào NaOH.
Thêm nước cất đến 1 lít dung dịch
→ Khi sử dụng trộn 2 dung dịch A và B với thể tích bằng nhau. Hỗn hợp này
cho kết tủa vàng nhạt với dụng dịch có chứa glycosid.
- Thuốc thử Tollen: AgNO
3
trong dung dịch NH
3
tạo kết tủa khi tiếp xúc dịch
etanol
- Thuốc thử Baljet: Dung dịch axit picric 1% 20ml hỗn hợp với dung dịch
NaOH 5% 10ml →Nếu có xuất hiện 1 vòng màu vàng dịch chứa glycosid.
- Thuốc thử Molish: Dung dịch thymol 2% 1-2 giọt, H
2
SO
4
đậm đặc 1ml
→ Thuốc thử có màu tím nhạt, cho dịch etanol vào chuyển sang tím đậm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status