BÀI HƯỚNG DẪN NGŨ HÀNH SƠN
(Bảng Tiếng Việt)
1. Trình tự hướng dẫn
Thang máy Tháp Xá Lợi Chùa Linh Ứng Động Tàng ChơnVọng Hài
Đài Cổng trời Đông và Tây Động Vân Thông Động Hoa Nghiêm Động
Huyền Không Chùa Tam Thai Vọng Giang Đài Cầu thang cổng số 1.
2. Tài liệu hướng dẫn.
Dẫn khách lên trên Thủy Sơn. Đứng tại hàng lang nối thang máy với Thủy Sơn
thuyết minh về Thủy Sơn.
NGỌN THỦY SƠN
Hiện tại chúng ta đang đứng trên ngọn Thủy Sơn. Thủy Sơn là ngọn núi ở phía
bắc của quần thể Ngũ Hành Sơn, đây là ngọn núi lớn và đẹp nhất tại đây.
Thủy Sơn có đỉnh ở ba tầng giống như 3 ngôi sao Tam Thai ở đuôi chòm sao
Đại Hùng Tinh (tên dân gian người ta gọi là Sao Cày), nên còn được gọi với cái tên
khác là núi Tam Thai.
Du khách tham quan chùa chiền và hang động tại Thủy Sơn có thể đi bằng hai
còn đường: cổng phía tây của núi gồm có 156 bậc tam cấp dẫn lên chùa Tam Thai hoặc
lên cổng phía đông gồm có 108 bậc dẫn lên chùa Linh Ứng, hoặc lên bằng cổng thang
máy này.
Ngọn Thủy Sơn là ngọn được vua Minh Mạng đến ngự du viếng cảnh nhiều
nhất, nhà vua đã đến đây ba lần vào các năm Minh Mạng thứ 6, thứ 8 và thứ 18.
Lát nữa đây chúng ta sẽ được đi tham quan những địa danh nổi tiếng ở đây như
là Vọng Giang Đài, chùa Tam Thai, chùa Tam Tôn, Chùa Từ Tâm, động Hoa Nghiêm,
động Huyền Không, động Vân Thông; Vọng Hải Đài, Chùa Linh Ứng, Tháp Xá Lợi và
động Tàng Chơn.
Mọi người có thể tranh thủ thời gian chụp ảnh tại đây.
THÁP XÁ LỢI
Tháp Xá Lợi tọa lạc phía Đông sườn núi Thủy Sơn, được khởi công xây dựng từ
năm 1997, hoàn thành năm 2004.
Tháp được lấy tên gọi Xá Lợi (Tháp Xá Lợi) vì mục đích xây tháp để thờ phần
kết tinh kỳ diệu sự thành đạt tâm linh, của sự phát triển tột cùng của hạng từ bi và trí
không biết bao nhiêu sinh linh, như vậy hình hài của họ có giống như con người,
nhưng chỉ đội lốp người, còn phần tâm thức của họ thuộc về các cảnh giới như ngọa
quỷ hay súc sanh.
Hiện nay trong tháp Xá Lợi ở tầng 1 có thờ phật thích ca, anan và ca diếp 2 vị
tệ tử đầu tiên của đức phật.
Anan là người có bộ não siêu phàm về trí nhớ. Những gì mà đức phật thuyết
pháp ngài nhớ rất rõ, và tuyên lại cho mọi người.
Ca diếp được coi là đệ nhất đa văn, từ lời tuyên lại của ngài Anan, ngài Ca diếp
viết lại hầu hết tất cả và trở thành kinh sách của đạo phật ngày nay.
Ngoài ra trong tháp còn thờ tất cả 18 vị La Hán và đầy đủ các vị bồ tát trong
kinh chú đại bi. Tầng thứ 7 có thờ viên ngọc xá lợi của đức phật.
Tháp Xá Lợi không những đẹp về kiến trúc hài hòa, mang những ý nghĩa quan
trọng của đạo phật, mà còn nằm ở vị trí thuận lợi tô điểm thêm phần nào cho sườn núi
phía Đông của ngọn núi Thuy Sơn.
Khách có thể chụp ảnh và thắp hương tại đây.
CHÙA LINH ỨNG
Chùa Linh Ứng được xây dựng vào những năm đầu thế kỹ 17, lưng dựa vào núi
xoay mặt ra biển.
Về sự ra đời của ngôi chùa, theo tương truyền có vị tiền hiền hiệu Quan Chánh,
thế danh Bửu Đài sống ở làng chài Khái đã đến ẩn tu tại động Tàng Chơn và lập ra một
hảo am trước động là Dưỡng Chơn Đường và ngôi chùa tranh này là tiền thân của chùa
Linh Ứng ngày nay.
Vua Gia Long trong một lần ngự du viếng cảnh ở Ngũ Hành Sơn đã đến và cho
xây dựng nên chùa lớn hơn và đặt tên là Ngự Chế Ứng Chơn Tự. Đến năm 1825 vua
Minh Mạng đến vi hành đến đây đã cho xây dựng lại chùa bằng gạch ngói khang trang
hơn và sắc phong là Quốc tự cho chùa và đổi tên thành Ứng Chơn Tự. Đến đời vua
Thành Thái, đích thân vua đến đây thăm chùa Tam Thai và Ứng Chơn Tự, tại đây vua
đã tổ chức lễ trai đàn cầu Quốc Thái Dân An, ông xét thấy chữ “CHƠN” đã phạm húy
nên đã đổi thành LINH ỨNG TỰ và tên này được giữ nguyên cho tới ngày hôm nay.
Linh Ứng tự thờ Phật Thích Ca lớn ngay chánh điện, giang bên trái thờ Phổ
Ngày 18 tháng 7 năm 1837).
Tại đây kể cho khách nghe về sự hình thành Ngũ Hành Sơn.
SỰ HÌNH THÀNH NGŨ HÀNH SƠN
Đối với sự hình thành của núi Ngũ Hành Sơn đã gắn liền với truyền thuyết về
thần Kim Quy và trứng rồng của Long Quân.
Chuyện kể rằng:
Ngày xửa ngày xưa có một cụ già từ miền biển phía Bắc xa xôi bơi thuyền đến
cập vào bãi biển phía Đông (Đà Nẵng ngày nay), cụ lên bờ và dựng một túp lều tranh
sống hiu quạnh với công việc chài lưới.
Một buổi sáng, như thường lệ, cụ sửa soạn thuyền để ra khơi đánh cá, thình lình
trời bổng nổi sấm, gió thổi vùn vụt, mặt biển sôi động, từng đợt sóng cao xô vào bờ
cuồn cuộn. Trong tiếng gầm rít của gió, tiếng gào thét của sóng cụ già thấy hiện ra một
con rộng khổng lồ làm mặt đất rung chuyển, cát bụi bay mù mịt, cụ già tưởng chừng
như căn nhà của mình dã tan tành ra từng mảnh khi con rồng di chuyển lại gần về phía
đó. Cụ già bổng nghe tiếng sấm vang lên và từ dưới bụng con rồng lăn ra một quả
trứng lớn, sau đó con rồng từ từ quay ra biển và biến mất sau những đợt sóng khổng lồ.
Một lát sau, trời yên biển lặng, cụ già chưa kịp hoàn hồn thì bổng thấy một con
rùa vàng lớn cũng từ ngoài khơi đi vào và đến bên túp lều, rùa Vàng đào một cái lỗ lớn
trên cát rồi vùi quả trứng xuống. Sau đó Rùa Vàng quay lại và bao với cụ già: “Ta là
thần Kim Quy, ta muốn ngươi phải gắn sức bảo vệ giọt máu này của Long Quân”.
Chưa hết bàng hoàng, cụ già lúng túng trả lời: “Nhưng tôi tuổi già, sức yếu làm sao đủ
sức đảm đương công việc hệ trọng này”. Thần Kim Quy liền trao cho cụ già một chiếc
móng và nói: “Ngươi đừng lo, hãy cầm lấy chiếc móng này và hể có chuyện chi chẳng
lành thì đặt bên tai, ta sẽ chỉ cách cho”. Cụ già nhận lấy chiếc móng và nói: “Được, tôi
sẽ cố hết sức”. Xong việc, thần Kim Quy liền quay ra biển và biến mất sau làn biển
xanh.
Từ đó, cụ già gìn giữ và chăm non quả trứng cẩn thận. Một hôm đang làm việc
trong vườn, cụ già kinh hãi khi thấy một chiếc xe trâu đang từ đằng xa nhắm thẳng vào
vị trí chôn quả trứng mà tiến đến, trên xe lố nhố những khuôn mặt dữ dằn với binh khí
hùng hổ trên tay. Với ý nghĩ chỉ cần chiếc xe trâu lăn qua cũng đủ làm cho quả trứng
quý. Tiếng đồn thổi mỗi ngày một rộng. Ai ai cũng nhắc đến nàng tiên bé nhỏ với một
tấm lòng trìu mến.
Một hôm có chàng hoàng tử con nhà vua đi săn với đoàn tùy tùng đi lạc đến cửa
hang dưới chân núi đã nhìn thấy cô gái, quá si mê với vẻ đẹp kiều diễm, chàng trở về
cầu xin vua cha cưới nàng về làm vợ. Ngày đoàn tùy tùng đem kiệu rước cô gái về
cung cũng là ngày thần Kim Quy lên bờ đón cụ già xuống biển.
Từ đó ngọn núi thiếu vắng bóng hai cha con cụ già nhưng những người dân làng
chài vì yêu mến hai cha con ông lão nên đã kéo đến sinh sống lập nghiệp quanh chân
năm ngọn núi. Đến nay những ngọn núi đá cẩm thạch ấy vẫn còn mãi cùng năm tháng
bên cạnh biển Đông mà người ta quen gọi với cái tên là Non Nước.
CỔNG TRỜI ĐÔNG VÀ TÂY
Hay còn được gọi là cổng Vân Căn Nguyệt Quật.
Chỉ cho khách thấy biểu tượng Quan Âm Bồ tát bằng đá ở trên cao.
ĐỘNG VÂN THÔNG
Động Vân Thông dân gian xưa nay vẫn luôn gọi là Đường Lên Trời do động
nằm trên vách núi cao, lòng động hình ống, đỉnh động cao hơn miệng động 40m.
Động Vân Thông có thờ tượng Phật A di đà và ngay phía sau lưng bàn thờ Phật
là lối đi lên đỉnh trời.
ĐỘNG HOA NGHIÊM
Đây là một thạch động nhỏ, bên trong động có thời Tượng Phật Bà Quan Thế
Âm cao lớn, cùng màu với núi đá có đôi mắt từ bi nhìn ra cửa động, tượng Phật do
nghệ nhân Nguyễn Chất của làng nghề đá mỹ nghệ tạp thành từ năm 1960.
Bên trái của tượng Phật, trên vách động là tấm bia cổ Linh Trung Phật quý hiếm
do nghệ nhân Huệ Đạo Minh lập năm Canh Thìn 1649, bia ghi lại những việc trùng tu
tôn vinh công đức của các phật tử, trong đó có nhiều gia đình người Nhật đã làm ăn từ
phố cổ Hội An đã đén cúng công đức cho chùa.
ĐỘNG HUYỀN KHÔNG
Động Huyền Không là một trong những động lớn và đẹp nhất của Thủy Sơn và
có thể nói rằng nếu ai đó đã từng đến Ngũ Hành Sơn mà chưa đến Động Huyền Không
thì coi như người đó chưa biết đến Ngũ Hành Sơn.
Kế bên Nghiêm Trang Tự là Thạch Nhủ Cốc, du khách phải rọi đèn mới nhìn rõ
bên trong là 2 thạch nhủ đổ xuống như một cặp nhủ hoa. Tương truyền là chiếc bên
trong là thường nhỏ nước trong còn chiếc bên ngoài nhỏ nước đục giống như sữa mẹ,
tuy nhiên khi vua Thành Thái đến đây làm lễ trai đàn cầu Quốc thái Dân an đã vô tình
sờ vào chiếc thạch nhủ bên ngoài nên chiếc này hiện nay không còn nhỏ nước nữa.
Trong những năm kháng chiến chóng Pháp, động Huyền Không là căn cứ hoạt
động bí mật của cán bộ lãnh đạo địa phương và du kích. Trong cuộc chiến tranh xâm
lược Miền Nam, Mỹ ngụy đã biến Huyền Không thành nơi huấn luyện biệt kích đồng
thời cũng là nơi đồn trú của nhiều đơn vị Mỹ. Đến mùa xuân Mậu Thân năm 1968 bộ
đội ta đã đánh bật chúng ra khỏi hang và đồng loạt tấn công nhiều căn cứ lân cận và
sân bay Nước mặn của Mỹ. Hang động sau đó trởi thành Trạm giải phóng và là nơi cất
giấu thương binh của quân giải phóng.
Động Huyền Không còn là nơi ghi dấu những trận đánh oai hùng của quân dân
Quảng Nam Đà Nẵng trong đó tiêu biểu là trận đánh của anh hùng Phan Hành Sơn vào
rạng sáng ngày 23 tháng 8 năm 1968 đã tiêu diệt hoàn toàn sinh lực địch và giành
thắng lợi hoàn toàn. Sau trận dánh tiểu đoàn 1 được bộ chỉ hủy quân giải phóng phong
tặng Huân chương chiến công hạng nhất, đại đội trưởng Phan Hiệp đã được nhà nước
tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và được đổi tên là Phan Hành Sơn.
CHÙA TAM THAI
Đây là ngôi chùa được xây dựng từ lâu đời, theo như Thư Tịch và Bia ký ghi lại
thì chùa được xây dựng vào thời đô thị cổ Hội An mới hình thành, do Thiền Sư Hưng
Liên thuộc dòng thiền Tào Động của Trung Hoa đến trụ trì và lập đạo tràng từ trước
những năm cuối thế kỷ 16. Năm 1825, chùa được vua Minh Mạng phong Quốc tự đến
nay chùa đã trải qua hơn 12 đời trù trì.
Theo Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sáng, khách của Nguyễn Phúc Chu, vào
cuối thế kỉ 17 tức năm 1695 trên đường về Trung Quốc, ông đã ghé thăm chùa Tam
Thai, như vậy có thể thấy chùa đã được xây dựng trước đó và đã hình thành các đây
hơn 300 năm.
Cổng Tam Quan cổ kính rêu phong ở phía dưới chùa gồm có 3 cổng, theo quy
định thời phong kiến thì cổng chính giữa là cổng cao và trang trọng nhất chỉ để dành
Hội An để đáp thuyền về nước. Ông đã đi theo sông Cổ Cò, nhìn thấy núi Tam Thai
trước mắt (Núi Tam Thai tức là Ngũ Hành Sơn - Non Nước) đã cho dừng thuyền lên
núi ngoạn cảnh và đã ghi lại trang hồi ký khá tỉ mỉ những cảnh quan kỳ thú của Ngũ
Hành Sơn.
Thế kỷ XVII, XVIII Hội An là Trung tâm mậu dịch quốc tế của xứ Đàng Trong
nên chọn con đường thủy để buôn bán tơ lụa của phương Tây, Trung Hoa và Nhật Bản.
Sông Cổ Cò trở thành đường thủy quan trọng thuận tiện nhất giữa Đà Nẵng và Hội An.
Đến đầu thế kỷ XIX thời Minh Mạng, sông Cổ Cò cũng được sử dụng để lưu
thông. Năm 1825 Vua Minh Mạng thứ 6 đã đi thuyền theo sông Cổ Cò đến Bến Ngự
rồi lên bộ đến ngọn Thủy Sơn.
Xưa kia sông Cổ Cò nhiều ghe mành, thuyền buồm đi về hết sức tấp nập, vừa
gần lại vừa tránh được sóng to gió lớn trên mặt biển. Trên bờ sông bên Hòn Dương
Hỏa Sơn có bến Vịnh Miếu Ông Chài, một thời là thuyền Vua cập bến mỗi khi đến vãn
cảnh Non Nước Ngũ Hành Sơn, nay vẫn còn lại di tích “Bến Ngự” và “Cồn Ngự” ở
gần Hòn Kim Sơn.
Theo những điều được kể lại thì chính Huyền Trân Công Chúa cũng đã đi trên
con sông này để trở về Đại Việt, Huyền Trân Công Chúa là con gái của vua Trần Nhân
Tông. Năm 1306 vua Trần Nhân Tông nhận lời gả con gái cho Chế Mân vị Vua trẻ tài
ba của nước Chiêm Thành. Lịch sử Đại Việt và Chiêm Thành là lịch sử chiến tranh.
Đến cuối đời vua Tự Đức (1848 - 1883) việc giao thương giữa Đà Nẵng và Hội
An vẫn được tiến hành qua con sông này.
Cho đến ngày Pháp lấy Đà Nẵng làm thuộc địa (1888) Hội An là Trung tâm
thương mại quan trọng, con đường vận chuyển thuận tiện nhất giữa Đà Nẵng và Hội
An vẫn là sông Cổ Cò. Nhưng từ sau năm 1891 con đường này ngày càng trở ngại vì
những trận lũ lụt, cuồng phong, bão táp thường xuyên xảy ra đã đưa cát từ biển vào
làm cho dòng sông bị vùi lấp.
Trên bờ sông Cổ Cò dưới ngọn Hỏa Sơn có Miếu Ông Chài. Đây là trạm thu
thuế các tàu buôn qua lại trên sông Cổ Cò giữa Hội An - Đà Nẵng. Miếu Ông Chài là
một Miếu nhỏ, tương truyền rằng có hai cha con hành nghề chài lưới ở Hỏa Sơn vào
làm nơi trú ngụ sau một ngày đánh cá mệt mỏi trên sông. Cô con gái của ông ngư lão