1
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian dài thực hiện, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quy hoạch và
Quản lý Tài nguyên nước với đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp cấp nước để phát
triển bền vững kinh tế xã hội cho huyện Lương Tài - Tỉnh Bắc Ninh” đã được hoàn
thành. Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận
tình của các thầy cô giáo và các đồng nghiệp, bạn bè.
Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng
dẫn khoa học PGS.TS. Phạm Việt Hòa - Trường Đại học Thủy lợi đã trực tiếp tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết cho
tác giả hoàn thành Luận văn này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô
giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, các thầy giáo, cô giáo các bộ môn đã truyền
đạt những kiến thức chuyên môn trong quá trình học tập.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, bạn bè
đã giúp đỡ, cung cấp các tài liệu cần thiết và đóng góp ý kiến cho tác giả hoàn thành
luận văn.
Tuy nhiên do thời gian có hạn, khối lượng tính toán lớn nên những thiếu sót
của luận văn là không thể tránh khỏi. Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ
bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và
của đồng nghiệp.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tấm lòng của những người thân
trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ khích lệ tác giả trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả Đỗ Phương Thúy
LỜI CẢM ƠN 1
BẢN CAM KẾT 2
DANH MỤC HÌNH VẼ…………………………………………………………….5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU………………………………………………… 6
MỞ ĐẦU 9
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 9
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 10
III. HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN
CỨU 13
1.1.TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 13
1.1.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước 13
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 16
1.1.3. Tình hình cấp nước cho khu vực huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh 20
1.2. TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU: 22
1.2.1. Điều kiện tự nhiên của hệ thống: 22
1.2.2. Tình hình dân sinh, kinh tế và các yêu cầu phát triển của khu vực huyện
Lương Tài 28
1.2.3. Hiện trạng thủy lợi, nhiệm vụ quy hoạch cải tạo và hoàn chỉnh hệ thống tưới
cho lưu vực. 39
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢI
PHÁP CẤP NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN LƯƠNG TÀI
53
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 53
2.1.1. Phân vùng thủy lợi cấp nước 53
2.1.2. Phân tích đặc điểm về khu nhận nước tưới 54
2.1.3. Phân tích yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của vùng 55
2.1.4. Xác định nhu cầu nước và tính toán cân bằng nước 57
2.1.5. Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống công trình tưới của vùng. 91
4
Hình 3.5: So sánh kết quả mực nước tại hạ lưu cống An Thổ……………………116
Hình 3.6: So sánh kết quả mực nước tại thượng lưu cống Lực Điền…………… 117
Hình 3.7: So sánh kết quả mực nước tại thượng lưu cống Tranh……………… 117
Hình 3.8: Đường quá trình mực nước dọc kênh Bắc – phương án 1…………… 120
Hình 3.9: Đường quá trình mực nước dọc kênh Giữa – phương án 1……………121
Hình 3.10: Đường quá trình mực nước dọc kênh Bắc – phương án 3……………121
Hình 3.11: Đường quá trình mực nước dọc Ngọc Quan – phương án 3………….122
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tình hình sử dụng nước vùng đồng bằng sông Hồng theo KC-12…… 16
Bảng 1.2: % sử dụng nước ở đồng bằng sông so với tổng lượng nước sử dụng qua
các năm…………………………………………………………………………….16
Bảng 1.3: Mức độ gia tăng lượng nước cho nông nghiệp (lần) so với năm 1990….17
Bảng 1.4: Diện tích hạn thường xuyên trong huyện Lương Tài………………… 22
Bảng 1.5: Tổng hợp diện tích đất tỉnh Bắc Ninh………………………………… 24
Bảng 1.6: Bảng thống kê dân số huyện Lương Tài……………………………… 28
Bảng 1.7: Diễn biến đất, sử dụng đất 2007-2012………………………………… 31
Bảng 1.8: Diện tích – năng xuất – sản lượng các loại cây trồng chính năm 2012 33
Bảng 1.9 : Tổng hợp số lượng gia súc, gia cầm qua các năm…………………… 34
Bảng 1.10: Tổng hợp sản xuất, nuôi trồng thủy sản qua các năm ……………… 34
Bảng 2.12: Chiều sâu bộ rễ của các lại cây trồng cạn…………………………… 66
Bảng 2.13: Mức tưới các loại cây trồng……………………………………………71
Bảng 2.14: Hệ số tưới tại mặt ruộng năm 2015 và 2020 P=85% 71
Bảng 2.15: Hệ số tưới thiết kế tại mặt ruộng…………………………………… 71
Bảng 2.16: Nhu cầu nước cho sinh hoạt giai đoạn đến 2012………………………76
Bảng2.17: Nhu cầu nước cho sinh hoạt giai đoạn đến 2015……………………….76
Bảng 2.18: Nhu cầu nước cho sinh hoạt giai đoạn đến 2020………………………76
Bảng 2.19: Nhu cầu nước theo tháng của các loại cây trồng…………………… 77
Bảng 2.20: Nhu cầu nước cho thủy sản đến năm 2012…………………………….78
Bảng 2.21: Nhu cầu nước cho thủy sản đến năm 2015…………………………….78
Bảng 2.22: Nhu cầu nước cho thủy sản đến năm 2020…………………………….79
Bảng 2.23: Nhu cầu nước cho môi trường giai đoạn tương lai ……………………79
8
Bảng 2.24: Nhu cầu nước cho công nghiệp giai đoạn tương lai………………… 80
Bảng 2.25: Tổng hợp nhu cầu các nghành kinh tế giai đoạn hiện tại…………… 81
Bảng 2.26: Tổng hợp nhu cầu các nghành kinh tế giai đoạn 2015……………….82
Bảng 2.27: Tổng hợp nhu cầu các nghành kinh tế giai đoạn 2020……………… 83
Bảng 2.28: Tổng lượng nước yêu cầu tại mặt ruộng theo từng giai đoạn………….85
Bảng 2.29: Lưu lượng nước yêu cầu tại mặt ruộng theo từng giai đoạn………… 85
Bảng 2.30: Tổng lượng nước yêu cầu tại đầu mối theo từng giai đoạn……………86
Bảng 2.31: Lưu lượng nước yêu cầu tại đầu mối theo từng giai đoạn……………86
Bảng 2.32: Phân phối dòng chảy năm thiết kế Q85% , W85% tại trạm Bến Hồ….88
Bảng 2.33: Cân bằng tổng lượng nước theo các giai đoạn tần suất P = 85% 89
Bảng 2.34: Cân bằng lưu lượng nước theo các giai đoạn tần suất P = 85% 90
Bảng 2.35: Cân bằng nước theo khả năng của công trình …………………………91
Bảng 2.36: Giải pháp công trình tưới vùng Lương Tài…………………………….95
Bảng 2.37: Hệ thống kênh tưới cần kiên cố hóa………………………………… 96
Bảng 3.1: Công trình chính trong vùng Nam Đuống…………………………… 100
Bảng 3.2: Sơ đồ kết nối mạng sông tính toán thủy lực tưới Nam Đuống……… 104
đồng thời vẫn phải đảm bảo phát triển nguồn nước một cách bền vững là tiêu chí
được đặt lên hàng đầu.
Do sự phân bố không đồng đều giữa nguồn nước và nhu cầu sử dụng cùng với
sự suy thoái, cạn kiệt nguồn nước đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa những người sử
dụng nước, ngành sử dụng nước. Bên cạnh đó công tác quản lý tài nguyên nước còn
hạn chế, yếu kém do thiếu kinh nghiệm, chưa có sự đồng thuận giữa những nhà
quản lý với những nhà khai thác sử dụng.
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều
công trình thuỷ lợi đã được xây dựng để phục cấp nước trong vùng, tuy nhiên phần
diện tích tưới hãi còn hạn hẹp. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của
vùng, việc đầu tư cơ sở hạ tầng cơ sở thủy lợi phục vụ công tác cấp nước cho huyện, để
huyện có thể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội cho hiện tại và cho tương lai.
Việc cấp nước cho vùng phục vụ cho nông nghiệp , sinh hoạt… rất là quan trọng. Vì
10
vậy việc lập: “Nghiên cứu các giải pháp cấp nước để phát triển bền vững kinh tế xã
hội cho huyện Lương Tài - Tỉnh Bắc Ninh ”là rất cần thiết và cấp bách
Trong luận văn nghiên cứu sẽ đánh giá về hiện trạng hệ thống các công trình
thủy lợi trên lưu vực, điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế và định hướng phát triển,
từ đó tính toán cân bằng nước cho hiện tại và tương lai. Qua đó đề xuất các giải
pháp công trình, phi công trình nhằm khai thác, quản lý và sử dụng bền vững, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cho khu vực huyện Lương Tài .
II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình cấp nước và nhu cầu cấp nước của
huyện Lương Tài, đề xuất và lựa chọn giải pháp cấp nước cho huyện, nhằm đảm
bảo chủ động cấp nước để phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho toàn huyện.
III. HƯỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng
- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp cấp nước cho huyện Lương Tài, các
đối tượng cấp nước chính như: Nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, chăn nuôi,
- Phương pháp điều tra, thu thập: Tiến hành điều tra, thu thập các tài liệu
trong vùng nghiên cứu bao gồm tài liệu hiện trạng thủy lợi, các công trình tưới, định
hướng phát triển kinh tế - xã hội, tình hình khai thác và sử dụng đất đai, nguồn
nước, các tài liệu địa hình, thủy văn trên khhu vực.
- Phương pháp phân tích thống kê các số liệu đã có.
- Phương pháp ứng dụng các mô hình hiện đai: Các mô hình tính toán thuỷ
lực, thuỷ văn, cân bằng nước, phần mềm xây dựng bản đồ Mapinfo, phần mềm
Mike 11 tính toán cân bằng nước và ứng dụng các công nghệ hiện đại: viễn thám,
GIS…
- Phương pháp chuyên gia: Có sự tham gia đóng góp ý kiến của các chuyên
gia về các lĩnh vực.
c. Công cụ sử dụng
12
Khai thác, sử dụng phần mềm tính toán thuỷ lực và chất lượng nước MIKE11
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng
có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái tạo của
môi trường. Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến. Tuy
nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra những hậu quả ảnh
hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước. Khi con người bắt đầu trồng trọt và
chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu
vực các con sông lớn. Lúc đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ,
đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư
không xa lắm là tìm được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn
đức Viên - 1990 ). Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản
xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng
đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao. Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai do
thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới có
thể giảm đi khoảng 700 km3/năm. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ
mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc
nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô. Người ta ước tính được
mối quan hệ giữa lượ
ng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được trong quá trình
canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến
4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn nước. Sở dĩ cần số lượng lớn
nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc
hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất
bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp. Dự báo nhu cầu
về nước trong nông nghiệp đến năm 2000 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58%
tổng nhu cầu về nước trên toàn thế giới.
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh
sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do sự phát
triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí
15
ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt
tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Theo sự ước tính đó thì đến năm
2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1900, tức
là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990).
Nước là nhu cầu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bao gồm 3 lĩnh vực
chủ yếu: nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng. Trên thế giới cũng như ở ta nhu cầu
nước cả 3 lĩnh vực trên đều tăng rất nhanh. Theo thống kê của Liên hợp quốc trên
thế giới tình hình trên được minh hoạ như hình 1-1.
Dịch vụ
Tổng
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
Tổng
10018,0
222,5
537,5
10778,0
11633,0
849
1267
13749,0
12361,0
2531,0
3918,0
19800
Bảng 1.2: % sử dụng nước ở đồng bằng sông Hồng so với tổng lượng nước sử dụng
qua các năm
Năm 1990
Năm 2000
Năm 2010
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
Tổng
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
vào năm 2020; muốn vậy trước hết nông nghiệp và nông thôn phải phát triển lên
một trình độ mới bằng việc đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được
trên một đơn vị diện tích, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; phát triển công
nghiệp, dịch vụ, các làng nghề ở nông thôn, tạo nhiều việc làm mới.
Để đáp ứng những mục tiêu đó, công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông-lâm-
ngư-diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đang đứng trước những thời cơ và thách thức
mới. Đó là việc đảm bảo nước để ổn định khoảng 4 triệu ha đất có điều kiện sản
xuất lúa, giữ vững an ninh lương thực với sản lượng lương thực có hạt khoảng 40
triệu tấn vào năm 2010; có các giải pháp thuỷ lợi hiệu quả phục vụ cho 3 triệu ha
cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm, khoảng 1,2 triệu ha cây công nghiệp hàng
năm; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề
nông thôn, cung cấp nước sạch cho cư dân nông thôn; xây dựng các hệ thống cung
cấp nước để làm muối chất lượng cao và nuôi trồng thuỷ, hải sản với qui mô lớn; xử
lý nước thải từ các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, từ các làng nghề, từ các cơ
sở sản xuất công nghiệp dịch vụ ở nông thôn.
Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, trong thế kỷ 20 dân số thế giới tăng lên 3 lần
trong khi tài nguyên nước được khai thác tăng lên 7 lần. Với tốc độ tăng dân số như
hiện nay, dân số thế giới được dự báo là 8 tỷ người năm 2020 và 10 tỷ vào năm
2050. Như vậy, nhu cầu về nước sẽ tăng 650% trong vòng 30 năm tới. Đến năm
2025 sẽ có trên 3,5 tỷ người trên hành tinh sống trong điều kiện khan hiếm nước.
Nước ta có tài nguyên nước ở mức trung bình của thế giới. Lượng nước phát
sinh trên lãnh thổ bình quân đầu người khoảng 4100 m3/năm vào năm 2000. Với
18
tốc độ tăng dân số hiện nay, lượng nước bình quân đầu người tiếp tục giảm 18-20%
sau mỗi thập kỷ.
Do chịu ảnh hưởng mạnh của địa hình và giao lưu giữa 2 hệ thống gió mùa đông
bắc và tây nam, lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian. Mùa
mưa chiếm 75-85% lượng mưa cả năm. Trong khi mùa khô lương mưa rất nhỏ,
nhiều tháng không mưa. Về mặt không gian, có những vùng lượng mưa đạt 3000-
nghiệp và cây ăn quả. Lượng nước sử dụng cho nông nghiệp rất lớn. Theo tính toán
năm 1985 đã sử dụng 41 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 1990 sử
dụng 46,9 tỷ m3 chiếm 90% và năm 2000 khoảng trên 60 tỷ m3
Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng 10
năm qua sản lượng lương thực tăng bình quân 1.1 triệu tấn/năm. Tổng sản lượng
lương thực năm 2000 đạt 34,5 triệu tấn, đưa bình quân lương thực đầu người 330 kg
năm 1990 lên 444 kg năm 2000. Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành
nước xuất khẩu gạo lớn với mức gần 4 triệu tấn/năm.
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản nước ta khá lớn, nhiều hệ thống
thuỷ lợi khi xây dựng đã xét đến việc kết hợp cấp nước để nuôi trồng thuỷ sản. Khi
xây dựng các hồ chứa nước vấn đề phát triển thuỷ sản trong hồ chứa cũng được đề
cập đến. Vài năm gần đây do hiệu quả của nuôi trồng thuỷ sản nhất là tôm sú nhiều
vùng đất ven biển đã được xây dựng thành những khu vực nuôi trồng thuỷ sản tập
trung. Tuy nhiên việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu sản xuất
chưa được quan tâm đúng mức, chưa có qui hoạch và các giải pháp đồng bộ. Hầu
hết đều do dân tự phát, tự tổ chức xây dựng theo kinh nghiệm. Nhiều nơi, đã có hiện
tượng thủy hải sản bị bệnh, tôm chết hàng loạt mà nguyên nhân là do môi trường
nước không đảm bảo liên quan đến hệ thống cấp nước và thoát nước. Một số vùng
đã có tranh chấp giữa nuôi tôm và trồng lúa gắn với nó là ranh giới mặn, ngọt cũng
là vấn đề công tác thuỷ lợi phải xem xét, giải quyết.
Các hệ thống thuỷ lợi đã cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho phần lớn cư dân
nông thôn nhất là trong mùa khô. Với 80% dân số sống ở nông thôn, hầu hết các hệ
thống thuỷ lợi đều tạo nguồn nước sinh hoạt trực tiếp cho dân hoặc nâng cao mực
nước ở các giếng đào. Ngay ở miền núi, đồng bào sống khá phân tán, những nơi
20
đảm bảo nguồn nước sinh hoạt vững chắc là những nơi có hệ thống thuỷ lợi đi qua.
Những công trình thuỷ lợi tạo nguồn nước cho sinh hoạt điển hình như Dầu Tiếng,
Sông Quao, Nam Thạch Hãn, Ngòi Là, Phai Quyền đã tạo nguồn nước sinh hoạt
cho hàng chục triệu dân nông thôn nhất là trong mùa khô.
trí đủ nguồn cấp với nguồn nước cấp hợp vệ sinh và đạt mức độ cấp nước theo quy
định.
Đối với ngành nông nghiệp của huyện nguồn nước tưới chủ yếu của huyện là
nguồn nước từ sông Bắc Hưng Hải, là nguồn lấy nước tưới chính của các công trình
nằm trong huyện. Trong các năm gần đây 2003, 2004, 2005, 2006 dòng chảy trên
sông Hồng khá cạn kiệt, thiếu hụt so với trung bình nhiều năm rất lớn. Vì vậy việc
lấy nước trên sông Hồng vào hệ thống Bắc Hưng Hải để phục vụ sản xuất cho hệ
thống là rất khó khăn. Vào thời kỳ thiếu nước các trạm bơm chỉ vận hành được 60-
70% công suất. Do đó hàng năm phải tổ chức bơm sớm, bơm kéo dài thời gian đảm
bảo cấp đủ nước cho nông dân gieo cấy trong khung thời vụ.
Các công trình thủy lợi đã xây dựng của huyện nếu làm việc theo đúng nhiệm
vụ thiết kế và trong điều kiện thời tiết bình thường sẽ đảm bảo tưới được hết diện
tích canh tác của hệ thống. Tuy nhiên hiện tượng thiếu nước vẫn thường xuyên xảy
ra, đặc biệt ở các vùng cao, vùng xa, cuối các kênh tưới của các trạm bơm tưới lớn
là do:
+ Các trạm bơm được xây dựng từ 20-30 năm trước, được thiết kế với hệ số tưới
0,6-0,84l/s/ha không đáp ứng được yêu cầu sử dụng nước hiện tại do nhu cầu cấp
nước tăng lên.
+ Các công trình đều được xây dựng từ lâu, qua quá trình khai thác sử dụng nên
hiện nay đã bị xuống cấp: máy móc đã cũ, hư hỏng và lạc hậu, các thiết bị bị hao
mòn, nhà máy xuống cấp. Vì nguồn vốn đầu tư có hạn nên việc duy tu sửa chữa
hàng năm chỉ sửa chữa chắp vá, không triệt để, vì vậy công trình ngày càng xuống
cấp, khả năng phục vụ giảm so với thiết kế ban đầu.
+ Tình trạng rác thải, vật nổi công nghiệp ngày càng tăng trên kênh dẫn nước
vào các trạm bơm đang là tác nhân phá hoại máy móc rất nghiêm trọng đối với các
trạm bơm, làm giảm đáng kể hiệu suất của máy móc thiết bị cơ điện.
22
+Hệ thống kênh tưới của huyện chưa được kiên cố hết, mới có 44950m kênh
tưới được kên cố hóa còn 110510m chưa được kiên cố hóa.
23
Thị trấn Thứa, Quảng Phú, Bình Định, Lâm Thao, Phú Lương, Tân Lãng, Trung
Chính, Phú Hoà, Trừng Xá, Minh Tân, Lai Hạ, Mỹ Hương, An Thịnh, Trung Kênh
Toạ độ địa lý:
- Từ 20
0
57’51” đến 21
0
15’50” vĩ độ Bắc.
- Từ 105
0
54’14” đến 106
0
18’28” kinh độ Đông.
Tỉnh được giới hạn:
- Phía Bắc giáp với huyện Gia Bình - tỉnh Bắc Ninh.
- Phía Nam giáp tỉnh Hải Dương.
- Phía Đông là sông Thái Bình giáp tỉnh Hải Dương.
1.2.1.2. Giới hạn vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu bao gồm toàn bộ 13 xã và một thị trấn thuộc huyện Lương
Tàivới tổng diện tích tự nhiên là 10.567 ha, dân số đến năm 2012 là 96.580 người.
1.2.1.3. Đặc điểm địa hình, địa mạo
24
Lương Tài có địa hình bằng phẳng, nhưng lại bị chia cắt bởi nhiều sông ngòi.
Mức độ chênh lệch địa hình nhỏ, có độ cao phổ biến từ 1,5÷3m so với mặt biển.
Ngoài ra còn một số khu vực Nghĩa Hương, An Mỹ thuộc xã Mỹ Hương thấp trũng
có cao độ thấp +0,8. Các vùng bãi có cao độ cao phổ biến +3,0 đến +6,0, vì vậy rất
12 Đất xám bạc màu gley Bg 952,69 1,16
13 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 126 0,15
25
14 Đất vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết Fq 764,18 0,92
15 Đất xói mòn trơ sỏi đá, núi đá E 224,25 0,27
Tổng diện tích các loại đất 51.285,07 62,33
Đất ở và đất chuyên dùng 21.092,58 25,63
Sông ngòi, ao hồ 9.893,35 12,14
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
82.271 100.00
Trong đó, đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng (P
h
g) chiếm diện tích chủ
yếu (11.148,95ha), chiếm 13,55% diện tích đất tự nhiên. Đất phù sa gley của hệ
thống sông Thái Bình (Pg) chiếm diện tích lớn thứ hai (10.916,74ha), chiếm
13,27% diện tích đất tự nhiên phân bố dọc hệ thống sông Cầu thuộc các huyện Yên
Phong, Quế Võ. Các loại đất này chủ yếu trồng 2 vụ lúa. Trên địa bàn huyện Lương
Tài có chứa đầy đủ các loại đất trên.
1.2.1.5. Đặc điểm địa chất
Đặc điểm địa chất tỉnh Bắc Ninh mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa
chất thuộc sụt trũng sông Hồng, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của
cấu trúc mỏng. Tuy nhiên, do nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc, Bắc Bộ nên cấu
trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung
Đông Triều vùng Đông Bắc. Toàn tỉnh có mặt các loại đất đá có tuổi từ Cambri đến
đệ tứ, song nhìn chung có thành tạo Kainozoi phủ trên các thành tạo cổ. Đây là
thành tạo chiếm ưu thế về địa tầng lãnh thổ. Các thành tạo Triat phân bố trên hầu
hết các dãy núi, thành phần thạch học chủ yếu là cát kết, sạn kết. Bề dày các thành
tạo đệ tứ biến đổi theo quy luật trầm tích từ Bắc xuống Nam. Ở các vùng núi do bị
bóc mòn nên bề dày của chúng còn rất mỏng, càng xuống phía Nam bề dày có thể