TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC
TẾ ĐẾN NHÂN CÁCH DOANH NHÂN VÀ VĂN HÓA KINH DOANH
VIỆT NAM
Tác động của quá trình đổi mới với sự phát triển của doanh nhân và
doanh nghiệp Việt Nam
Sau hơn hai mươi năm kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, chính những
cải cách kinh tế mạnh mẽ - thông qua ban hành các văn bản luật (Luật Đầu tư
nước ngoài, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Thuế, Luật Môi
trường …) và việc xây dựng thể chế thị trường, cải cách hành chính đã mang
lại cho Việt Nam một môi trường kinh tế mang tính cạnh tranh và năng động.
Công cuộc đổi mới không chỉ đem lại những thành tựu to lớn cho nền kinh tế
Việt Nam – với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% trong nhiều năm,
mà còn tạo nên một luồng sinh khí mới cho hoạt động kinh doanh và ảnh
hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng doanh nhân
Việt Nam.
Thứ nhất, Đổi mới đã tạo nên cú hích lớn cho sự phát triển “đột biến”
của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư
nhân nói riêng trong thập niên vừa qua. Theo Bộ Kế hoạch và đầu tư, với hơn
83.000 doanh nghiệp đăng ký mới trong năm 2009, con số doanh nghiệp đã
đăng ký khi cộng dồn lại đến tháng 12 năm 2009 ước đạt 460.000 doanh
nghiệp. Từ số lượng khoảng 31.000 doanh nghiệp vào năm 2000, con số này
nay đã tăng 15 lần chỉ vỏn vẹn trong 9 năm
1
(Hình 3.1)
1
Theo báo cáo “Đánh giá nhanh chất lượng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam qua quá trình mười năm
thực hiện luật doanh nghiệp”, 2010.
Nguồn: Cục Phát triển doanh nghiệp – Bộ kế hoạch và Đầu tư, 2010
Hình 3.1: Số lượng doanh nghiệp đăng ký hàng năm (2000 – 2009)
Tốc độ tăng trưởng các doanh nghiệp đã thể hiện sức sống mãnh liệt của
tinh thần kinh doanh Việt Nam cũng như sức tác dộng lớn từ các cải cách về
thiếu kỹ năng quản trị hiện đại và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế.
2
Thứ ba, vai trò của kinh doanh nói chung và doanh nhân nói riêng đã
được cải thiện đáng kể từ sau Đổi mới. Với bản chất khuyến khích sự năng
động, sáng tạo của doanh nhân, nền kinh tế thị trường đã có những đóng góp
tích cực cho nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam. Trong
cuộc điều tra xã hội học tại Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2003, 94%
số người được hỏi cho rằng “kinh doanh là một nghề có ích cho xã hội”, 74%
đồng ý với mệnh đề “Người biết làm giàu là người đáng quý trọng”
3
. Việc
nhiều người có bằng cấp cao, thậm chí từng làm cán bộ quản lý trong cơ quan
nhà nước lựa chọn nghề kinh doanh chứng tỏ xã hội đã thừa nhận tầm quan
trọng của nghề này. Đây là một chuyển biến đáng kể so với quan niệm truyền
thống của Việt Nam, vốn chỉ coi trọng việc đỗ đạt làm quan, còn buôn bán chỉ
dành cho những người ít học, thấp kém hơn trong xã hội. Ngay trong thời bao
cấp, tâm lý chọn ngành nghề thể hiện rõ ràng qua câu truyền miệng: “Nhất Y,
nhì Dược, tạm được Bách Khoa,” hoàn toàn bỏ qua kinh doanh.
Thứ tư, Đổi mới với cơ chế thị trường chưa hoàn thiện đã làm chao đảo
các hệ thống giá trị trong mỗi con người Việt Nam nói chung và cộng đồng
doanh nhân nói riêng. Những yếu tố tiêu cực này vốn tiềm ẩn trong văn hóa
cổ truyền, nay chuyển sang cơ chế thị trường mới có dịp bộc lộ. Sự phát triển
quá nhanh của các doanh nghiệp trong giai đoạn chuyển đổi với điều kiện các
chính sách luật pháp chưa đầy đủ, hoàn thiện đã tạo cơ hội cho một số doanh
nghiệp tận dụng kẽ hở để chạy theo lợi nhuận. Thực tế này dẫn đến hệ quả là
các doanh nghiệp làm ăn chân chính gặp khó khăn trong cơ chế thị trường
2
. Đề án “Phát huy vai trò doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế” VCCI.
3
được công hiến cho xã hội theo chí hướng mà mình mong muốn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, chính sách đổi mới và kinh tế thị trường
cũng tổn tại không ít tác động tiêu cực đến văn hóa kinh doanh và
nhân cách doanh nhân Việt Nam. Hơn rữa, cần lưu ý rằng, việc xây
dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu,
vì vậy sự ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực đều chưa thể bộc lộ toàn
bộ. Trong nền kinh tế thị trường, nhân cách doanh nhân và văn hóa
kinh doanh chắc chắn sẽ còn nhiều biên động mới, đặc biệt khi
chúng ta bước vào tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế
quốc dân, mở cửa giao lưu với các nền văn hóa kinh doanh và nhân
cách doanh nhân nước ngoài.
Tác động của quá trình hội nhập quốc tế đến nhân cách doanh
nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam
Chủ trương hội nhập kmh tế quốc tế của Việt Nam được đặt ra từ
Đại hội VI (năm 1986 trên cơ sở đường lối "đổi mới" và "mở cửa" nền
kinh tế và tên cơ sở chính sách, quan hệ đối ngoại của Việt hàm với
phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Hơn 20
năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ trong quá
trình hội nhập quốc tế. Cấp độ hội nhập ngày càng sâu hơn, rộng
hơn, phản ánh sự bắt kịp là thích ứng của nền kinh tế Việt Nam đối
với nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Cùng với cấp độ hội nhập ngày
càng mang tính hoàn thiện và sâu sắc hơn, tốc độ hội nhập cũng
được đẩy nhanh hơn sau khi đất nước đã chuẩn bị sẵn sàng về nội
lực và nỗ lực cải cách trong nước, đặc biệt tốc độ đấy được đẩy mạnh
và nhanh hơn vào năm 1996, tăng tốc km vào đầu năm 2000 cho đến
nay. Quá trình hội nhập quốc tế đã có những tác động tích cực lẫn
tiêu cực đến nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt
Nam.
Trước hết, hội nhập quốc tế đã góp phần thúc đẩy hoạt động
kinh doanh ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Nhiều loại hình kinh
làm việc tại nước ngoài đều có thể cảm thấy tự hào khi nhìn thấy
nhãn mác "Made in Vietnam" trên hàng hóa được bán ở đó. Sự hiện
diện của nhãn mác đó trong các cửa hàng nước ngoài không đơn
thuần là thành công về kinh tế mà còn là sự thành công về mặt văn
hóa của Việt Nam, bởi vì thương mại quốc tế chính là sự chuyển giao
sản phẩm và dịch vụ được sản xuất từ một nền văn hóa này cho
những con người ở nền văn hóa khác sử dụng.
Có thể nói, trong suốt tiến trình phát triển, Việt Nam chưa bao giờ
giao lưu văn hóa với bên ngoài phong phú, đa dạng và rộng rãi như
giai đoạn kể từ khi Nhà nước tiến hành chính sách mở cửa và hội
nhập đến nay. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá
trình hội nhập cũng có những tác động tiêu cực đến nhân cách
doanh nhân và văn hóa kinh đoanh Việt Nam.
Thứ nhất, một số người Việt Nam không có bản lĩnh văn hóa
vững vàng, sa vào trạng thái choáng ngợp trước những thành tựu
kinh tế của phương Tây, trở nên sùng ngoại thái quá, phủ nhận tất
cả các giá trị truyền thống của dân tộc. Việc đánh mất bản sắc văn
hóa dân tộc đã khiến họ rập khuôn theo mô hình phương Tây, từ
tình trạng sùng bái ngoại ngữ, chuộng tiếng Anh mà bỏ qua tiếng
Việt, sinh hoạt xa hoa, lãng phí, kinh doanh chỉ vì lợi nhuận Văn
hóa không phải là thứ "đồ ăn nhanh" (fast-food), có thể học theo
trong "một sớm một chiều mà cần trải qua "màng lọc" của nhiều thế
hệ. Thực tế cho thấy những người nhập cư, trong đó có Việt kiều,
gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập với xã hội nước
ngoài. Chính vì vậy, việc một nhóm doanh nhân Việt Nam bắt chước
một cách thiếu chọn lọc sẽ làm đời sống tinh thần của họ càng trở
nên nghèo nàn, đồng thời khiến bản sắc dân tộc trong văn hóa kinh
doanh và nhân cách doanh nhân Việt Nam suy yếu.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế khiến nước ta phải đối mặt với nguy
cơ khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, bán rẻ môi trường tự nhiên,
nghiệp trả lời phiếu với tư cách người dân và nhóm người dân ngẫu nhiên.
Thứ hai, cán bộ doanh nghiệp chiếm khoảng 70% tổng số mẫu, gồm cán bộ
quản lý doanh nghiệp trên các lĩnh vực (thương mại, dịch vụ, sản xuất, công
nghiệp, nông nghiệp, chế biến, khai thác, nông lâm thủy sản ) và cán bộ
đang công tác tại các doanh nghiệp nói chung.
Xét theo địa lý, gồm có các khu vực: miền Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), miền
Trung (Hà Tỉnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng), khu vực phía Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Nha
Trang).
Bảng hỏi gồm 19 câu hỏi được thiết kế kỹ lưỡng, có sự đóng góp ý kiến của các chuyên gia, nhà
nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn hóa kinh doanh cũng như thống kê xử lý và đại diện hai nhóm đối tượng
tham gia điều tra nhằm đảm bảo tính phù hợp và chất lượng của các câu hỏi
(Phụ lục 1). Quá trình biên soạn bảng hỏi được chia thành bốn giai
đoạn: thiết kế bảng hỏi; chuẩn chinh bảng hỏi trên cơ sở góp ý của
các chuyên gia thuộc lĩnh vực văn hóa kinh doanh và lĩnh vực
nghiên cứu thống kê, ý kiến phản hồi thông qua tiến hành điều tra
mẫu, trao đổi từ các hội thảo; điều tra thử 30 mẫu phiếu, xem xét sự
phù hợp của các biến, mã hóa; và chuẩn chỉnh, hoàn thiện bảng hỏi
cuối cùng. Sau khi thu thập đây đủ số liệu, chúng tôi sử dụng phần
mềm SPSS 15.0 (phần mềm chuyên dụng phân tích số liệu) để phân
tích kết quả.
Mặc dù còn một số hạn chế như độ lớn của mẫu là 1.000 người
nhưng chỉ giới hạn ở các vùng, địa phương có trình độ dân trí và
mức thu nhập cao hơn so với các vùng khác trong cả nước, việc dùng
các điểm số đánh giá trong bảng hỏi có thể chưa phản ánh chính xác
thực tế; một số người được hỏi chưa trả lời toàn bộ câu hỏi, song kết
quả phân tích bảng khảo sát đã đem lại nhiều phát hiện khá lý thú,
có giá trị tham khảo tốt.
Phân tích kết quả điều tra về nhân cách doanh nhân và văn hóa
kinh doanh Việt Nam
Nhận định tính hợp lý của cấu trúc nhân cách doanh nhân Việt Nam
Đức.
Về nhóm yếu tố Đức, kết quả phân tích tổng hợp 14 khía cạnh của phẩm
chất Đức trong nhân cách doanh nhân Việt Nam cho thấy tính cần cù, chịu
khó và lòng yêu nước, tự tôn dân tộc là hai khía cạnh được đánh giá cao nhất
(Bảng 3.1). Điều này có thể hiểu như sau: Việt Nam là quốc gia nằm trong
khu vực văn hóa Đông Á có truyền thống lịch sử hàng nghìn năm với những
đặc điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, trí thông minh, ham học hỏi, cần cù,
chịu khó. Thừa hưởng truyền thông văn hóa dân tộc đó, doanh nhân Việt Nam
ngày nay càng phát huy cao độ tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, thâm nhập và mở rộng thị trường, từng bước
khẳng định mình trên thương trường.
Tuy vậy, khi đánh giá các khía cạnh thuộc yêu tố Đức theo vùng
miền, kết quả điều tra cung cấp một số phát hiện thú vị: những
người được hỏi ở miền Trung đánh giá tiêu chí yêu nước, tự tôn dân
tộc và cần cù, chịu khó cao hơn so với miền Bắc và miền Nam (23,5%
lựa chọn ở mức khá và tốt so với tỷ lệ 20,1% và 19,5% của hai miền
còn lại) Những người được hỏi ở miền Nam đánh giá tác phong làm
việc chuyên nghiệp cao hơn so với các miền khác (17,1% lựa chọn ở
mức khá và tốt so với tỷ lệ 12,7% ở miền Trung và 13,6% ở miền Bắc).
Điều này là hoàn toàn dễ hiểu vì miền Nam là khu vực kinh tế năng
động hơn so với hai khu vực còn lại.
Số liệu Bảng 3.1 cho thấy một thực tế là doanh nhân Việt Nam
mới chi coi trọng chữ tín và tính tuân thủ pháp luật ở mức trung
bình; đặc biệt là tinh thần đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ (2,11)
và ý thức bảo vệ môi trường (2,92) còn thấp. Điều này có thể lý giải
là do môi trường thể chế, đặc biệt là thể chế chính trị và kinh tế có
ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách và văn hóa kinh doanh. Việt Nam
đang trên con đường hội nhập, chuyển đổi kinh tế, còn thiếu đồng
bộ về hệ thống pháp luật. Do vậy, việc đấu tranh chống tham nhũng,
hối lộ đạt hiệu quả chưa cao, dẫn đến tâm lý e ngại, thậm chí né
Làm việc thiện (vô vị lợi) 3,24 0,90
Ý thức bảo vệ môi trường 2,92 0,90
Chống tham những, hối lội 2,11 0,93
Nguồn: Nhóm tác giả, 2010
Một điểm mâu thuẫn đáng chú ý mà kết quả điều tra mang lại đó là
doanh nhân Việt Nam có tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc rất cao
nhưng tinh thần liên kết, hợp tác lại thấp (6,68). Đây là một vấn đề
cần nghiên cứu và có giải pháp tháo gỡ, bởi trong môi trường cạnh
tranh quôc tế đa văn hóa ngày nay, liên minh, liên kết, hợp tác là
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội X, NXB. Chính trị Quốc gia, 2006
5
Trong bảng xếp hạng tham nhũng thế giới năm 2008, Việt Nam đứng thứ 121 trên tổng số 180 quốc gia.
6
Thang đánh giá: 1. Không biết; 2. Yếu; 3. Trung bình; 4. Khá; 5. Tốt
7
Đại lượng thông kê mô tả dừng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số.
một trong những phương thức - phương châm quan trọng để tổn tại
và phát triển bền vững.
Trí
Khi đánh giá thực trạng của nhóm yếu tố Trí, kết quả khảo sát cho thấy
nhiều đặc điểm khá thú vị. Chẳng hạn, phần lớn đối tượng được hỏi
đánh giá khá cao ý chí, niềm đam mê làm giàu của các doanh nhân
Việt Nam (3,98), trong khi lại đánh giá không cao các yếu tố dám
đương đầu với rủi ro (2,93), kiến thức, trình độ kinh doanh (3,14) và
kỹ năng lãnh đạo, quản lý (2,78). Các yếu tố thu hút, trọng dụng
nhân tài, phát triển văn hóa tổ chức (3,20) và khả năng thích ứng với
sự thay đổi (3,38) của doanh nhân Việt Nam cũng được đánh giá ở
mức vừa phải (Bảng 3.2).
Bảng 3.2: Đánh giá yếu tố Trí của doanh nhân Việt Nam
( 360/Kien_thuc/Doanlì_nhan_VN_ thoi_toan_cau__hoa/).
nghiệp dựa trên kinh nghiệm, trưởng thành và trải qua các cuộc
chiến tranh cùng nền kinh tế tập trung trước. Đổi mới - thời kỳ mà
cơ hội hội nhập, học hỏi, tiếp thu công nghệ quản lý còn hạn chế.
Thứ hai, Trí của doanh nhân Việt Nam được thể hiện nổi bật ở ý
chí và niềm đam mê làm giàu. Đây là yếu tố hết sức quan trọng và là
khởi nguồn động lực để doanh nhân hành động và đi đến thành công.
Khảo sát thực tế cho thấy yêu tố này đạt mức điểm khá cao (3,98/5),
chứng tỏ ý chí và khát vọng chiếm vị trí quan trọng trong mỗi doanh
nhân Việt Nam.
Thứ ba, dám đương đầu với rủi ro là phẩm chất trí tuệ của doanh
nhân Việt Nam được đánh giá ở mức độ thấp. Điều này có thể lý giải
là do sự ảnh hưởng từ tích cách và điều kiện phát triển. Con người
Việt Nam có đặc tính là thích ổn định, ưa hài hòa; tính chinh phục,
giành giật kém, thay vào đó là yên phận thủ thường. Do đó, hệ quả là
doanh nhân Việt thiếu khả năng cạnh tranh đối kháng và tư duy thị
trường tổng thể, kinh doanh nhỏ lẻ, thiếu hợp tác và không dám
đương đầu với rủi ro.
Thứ tư, một điểm khá nổi bật của doanh nhân Việt Nam đó là sự
năng động, linh hoạt, thích ứng nhanh song lại yếu về năng lực dự báo
và năng lực hoạch định chiến lược. Qua điều tra, nổi lên một thực
trạng là nhiều doanh nhân trẻ chưa xác định được tầm nhìn cho
doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp thiếu chiến lược hoạt động.
Thậm chí khi doanh nghiệp đã hoạt động được vài năm, bản thân
doanh nhân vẫn chưa nắm rõ tầm nhìn. Khi doanh nghiệp mới
thành lập, đa phần doanh nhân đều trăn trở một điều là làm thế nào
doanh nghiệp tồn tại và tìm bước phát triển. Mỗi doanh nhân
thường tập trung xây dựng doanh nghiệp trong vài ba năm, sau thời
gian đó họ nhìn lại song không biết bước tiếp theo phải làm gì, bời
thực tế họ chưa có định hướng hoạt động rõ ràng để công ty phát
dự báo tình hình, thời cuộc, quyết đâu tranh với chính bản thân
mình và vượt qua đối thủ cạnh tranh bằng những giải pháp thị
trường sáng tạo. Một thế hệ doanh nhân trẻ Việt Nam giải quyết sự
việc bằng khoa học và giảm dần sự phụ thuộc vào cảm tính cá nhân.
Một lớp doanh nhân nhạy cảm với nhu cầu của cuộc sống, thấu hiểu
nhu cầu và đáp ứng những nhu cầu đó. Trí tuệ giúp doanh nhân
nhạy bén hơn, năng động hơn, hiện đại hơn. Những kỹ năng kinh
doanh được hình thành dễ dàng hơn, giúp cho công việc thuận lợi
hơn. Cộng thêm vào đó là tính quyết liệt vì sự tồn tại của doanh
nghiệp trên thị trường thế giới, lúc đó Việt Nam sẽ có những thương
hiệu toàn cầu, công ty toàn cầu" (Nguyễn Văn Hoàng, Giám đốc kinh
doanh VTCI). Rõ ràng đây là một yêu tố cần phải được xem xét khi
đề cập đến Trí của doanh nhân, đặc biệt cần phải được làm rõ và bổ
sung khi đưa ra các giải pháp khuyến nghị nhằm tăng cường nhận
thức của cộng đồng doanh nhân Việt Nam.
Thể
Yếu tố Thể trong nhân cách doanh nhân Việt Nam cũng được
đánh giá ở mức độ trung bình khá (3,4), trong đó khả năng làm việc
bền bỉ, chịu được áp lực công việc được đánh giá khá tích cực (3,66).
Các yếu tố khác như hình thể, cân nặng; rèn luyện sức khỏe, biết
cách giải tỏa stress, tinh thần minh mẫn, khả năng kiềm chế bản
thân cũng như những cách giải trí lành mạnh được đánh giá dao
động trong mức điểm thấp hơn (3,16-3,38) (Hình 3.4).
Nguồn: Nhóm tác giả, 2010
Hình 3.4: Đánh giá về yếu tố Thể của doanh nhân Việt Nam
Kết quả điều tra ở Hình 3.4 đã cung cấp một số nhận định về yếu
tố Thể của doanh nhân Việt Nam thời đại ngày nay như sau:
Thứ nhất, đúng như đã phân tích, trong bốn yếu tố Đức, Trí, Thể,
Lợi thì Thể là yếu tố điều kiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy Thể của
doanh nhân Việt Nam được đánh giá ở mức trung bình (3,l-3,6
Hình 3.5: Đánh giá về yếu tố Lợi của doanh nhân Việt Nam
Kết quả khảo sát cho thấy các đối tượng được hỏi đánh giá khá
tích cực về Lãi thật và Mức độ tăng trưởng lợi nhuận (2,98) của
doanh nhân Việt Nam. Trong khi đó, hai yếu tố là tính bền vững của
lợi nhuận và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư chi được đánh giá ở
mức trung bình, hay khía cạnh đóng góp tài sản riêng, hiến tặng cho
đất nước cũng chỉ được đánh giá ở mức thấp (2,55).
Thực tế, hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam mới dừng lại ở việc tài trợ
cho các cuộc thi ủng hộ người nghèo, thiên tai , còn đóng góp tài sản
riêng cho đất nước là chưa có. Bởi lẽ/ những doanh nghiệp hàng đầu
Việt Nam cũng chỉ mới tương đương với những doanh nghiệp vừa và
nhỏ của các nước phát triển
9
, quy mô tài sản và doanh thu chưa lớn,
sức cạnh tranh còn thấp, vì vậy họ chưa thể có đủ khả năng để hiến
tặng tài sản riêng cho đất nước, dù xét về khía cạnh nghĩa vụ tài chính
đối với nhà nước, phần lớn doanh nhân đã thực hiện nghiêm túc và
tốt, đóng góp phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách hàng năm.
Mặt khác, thông qua phỏng vấn sâu, nhiều ý kiến đã dẫn ra các
9
Báo cáo của UNDP, 2009.
trường hợp doanh nghiệp đặt lợi ích của mình cao hơn lợi ích cộng
đồng, xem thường quyền lợi người tiêu dùng và bỏ qua đạo đức kinh
doanh. Các vụ việc bị cơ quan chức năng phát hiện và đưa ra công
luận trong năm 2008-2009, như vụ "đầu độc" sống Thị Vải của công ty
Vedan, sau đó là hàng loạt phát hiện về việc Công ty Miwon (Phú
Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường nhiều năm liền, vụ rò
rỉ chất độc xianua ở huyện Tân Uyên (Bình Dương) của Công ty
TNHH Đại Phong, vụ sữa nhiễm melamine là những minh chứng
về ý thức bảo vệ môi trường kém của các doanh nghiệp Việt Nam.