Tác động của chính sách khoa học và công nghệ tới bảo hộ sáng chế - Pdf 25

1

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 6
1.2. Ý nghĩa lý luận 7
1.3. Ý nghĩa thực tiễn 7
2. Lịch sử nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 9
4. Mẫu khảo sát 9
5. Phạm vi nghiên cứu 10
5.1. Phạm vi thời gian 10
5.2. Phạm vi không gian 10
5.3. Phạm vi nội dung 10
6. Vấn đề nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Luận cứ chứng minh luận điểm 11
8.1. Luận cứ lý thuyết 11
8.2. Luận cứ thực tiễn 11
9. Phương pháp nghiên cứu 11
10. Kết cấu luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1. 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 13
1. 1. Tổng quan về sáng chế 13
1.1.1. Khái niệm sáng chế 13
1.1.2. Mối quan hệ giữa sáng tạo, sáng chế và phát triển công nghệ 16
1. 2. Tổng quan về bảo hộ sáng chế 17
1.2.1. Khái niệm bảo hộ sáng chế 17
1.2.2. Xác lập quyền đối với sáng chế 19

CHƯƠNG 3. 87
TỔNG KẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
3.1. Tổng kết 87
3.1.1. Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động sáng tạo . 87
3.1.2. Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động xác lập
quyền đối với sáng chế 88
3.1.3. Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động khai thác
thương mại đối với sáng chế 89
3.1.4. Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động thực thi
quyền đối với sáng chế 90
3.2. Một số khuyến nghị 91
3.2.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho cộng đồng về sở hữu trí
tuệ 91
3.2.2. Phát triển chính sách sử dụng thông tin sáng chế để sáng tạo và khai thác
sáng chế 91
3.2.3. Đào tạo nhân lực về sáng chế và nâng cao năng lực các thẩm định viên 92
3.2.4. Tăng cường các hoạt động hỗ trợ các nhà sáng chế 94
3.2.5. Ban hành chính sách quy định việc xác định quyền của tác giả và quyền của
chủ sở hữu kết quả nghiên cứu đối với sáng chế được tạo ra từ ngân sách nhà
nước 95
3.2.6. Ban hành quy chế về tổ chức, hoạt động của tổ chức tư vấn sở hữu trí tuệ
tại trường đại học 96
3.2.7. Tăng cường các chính sách cụ thể nhằm phát triển thị trường Khoa học và
Công nghệ 97
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 106
3


Trang
Bảng 2.1: Đơn đăng ký nhãn hiệu, KDCN, sáng chế, GPHI năm 2000, 2005
và 2010
40
Bảng 2.2: Văn bằng cấp cho nhãn hiệu, KDCN, sáng chế, GPHI
qua các năm 2000, 2005 và 2010
41
Bảng 2.3: Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
45
Bảng 2.4: Số lượng sáng chế, GPHI được cấp giấy chứng nhận chuyển giao
quyền sử dụng (2005-2010)
46
Bảng 2.5: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu
46
Bảng 2.6: Khiếu nại về việc vi phạm quyền sở hữu công nghiệp
47
Bảng 2.7: Khiếu nại về việc cấp văn bằng bảo hộ
48
Bảng 2.8: Số lượng đơn yêu cầu thẩm định tại Viện Sở hữu trí tuệ
48
Bảng 2.9: Phân bố sáng chế theo bảng phân loại sáng chế quốc tế
của tác giả Việt Nam từ 01.01.2000 đến 19.04.2011
50
Bảng 2.10: Số lượng đơn yêu cầu thẩm định tại Viện Sở hữu trí tuệ
83
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, KDCN, SC, GPHI
qua các năm 2000, 2005, 2010
40
Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ văn bằng bảo hộ Nhãn hiệu, KDCN, SC, GPHI
qua các năm 2000, 2005, 2010

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hộ SC là một hoạt động từ lâu đã được các quốc gia quan tâm bởi lẽ SC là
hoạt động mang tính sáng tạo cao và có giá trị thiết thực, tác động trực tiếp tới sự phát
triển của nền kinh tế. Một quốc gia không thể hùng mạnh nếu không có KH&CN phát
triển, nói cách khác nếu không đẩy mạnh hoạt động sáng tạo kỹ thuật. Do đó, bảo hộ
SC trở thành một vấn đề quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách KH&CN
của một quốc gia.
Cũng như các đối tượng khác của SHTT, việc bảo hộ SC nghĩa là thông qua sự
thừa nhận của pháp luật đối với SC cụ thể mà pháp luật bảo đảm các điều kiện để chủ
thể có thể thực thi các quyền của mình và ngăn chặn, xử lý mọi hành vi sử dụng quyền
nêu trên từ người thứ ba nếu không được phép của chủ thể quyền. Hệ thống bảo hộ độc
quyền SC không chỉ mang lại những lợi ích riêng cho chủ thể, mà còn mang lại cho xã
hội những lợi ích không nhỏ. Song song với nguyên tắc độc quyền, hệ thống bảo hộ SC
còn được xây dựng trên một nguyên tắc quan trọng thứ hai là nguyên tắc bộc lộ SC.
Điều ấy có nghĩa là xã hội không phải mất công sức và thời gian, chi phí cho việc tìm
kiếm lại những công nghệ đã được tìm ra rồi, mà hơn thế, còn dựa trên đó để sáng tạo
ra những công nghệ mới. Cơ chế bảo hộ SC có một ý nghĩa quan trọng đối với việc
khuyến khích hoạt động sáng tạo kỹ thuật. Một chính sách KH&CN tốt là một chính
sách vừa đảm bảo được hoạt động bảo hộ đối với SC, vừa thúc đẩy được kinh tế của
quốc gia phát triển với tiềm lực hiện có, thông qua các hoạt động thương mại hóa đối
với SC được bảo hộ.
Bối cảnh đất nước hiện nay là một quốc gia đang phát triển trong thời kỳ hội
nhập quốc tế sâu rộng. Với vai trò là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), Việt Nam không thể không tuân thủ các nguyên tắc chung của cộng đồng này
về SHTT, trong đó bảo hộ SC là một hoạt động được các quốc gia đặc biệt quan tâm
bởi đó là hoạt động tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới sự phát triển KH&CN nói riêng và
phát triển kinh tế nói chung. Tuy nhiên, là một quốc gia đang phát triển, yêu cầu về
7

8

các đối tượng SHTT nói chung nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện cơ chế bảo hộ.
Tuy nhiên, các nghiên cứu, thảo luận mới chỉ tập trung vào việc đặt vấn đề về một số
khó khăn, vướng mắc trong thực thi quyền, sự chồng chéo giữa các cơ quan Nhà nước
liên quan tới việc thực thi quyền, chứ chưa thực sự đi sâu vào giải quyết vấn đề. Cụ thể
hơn, mới chỉ có một số bài báo của một số tác giả đề cập những bất cập từ cơ chế quản
lý đến hiệu quả thực thi quyền đối với nhãn hiệu – tên thương mại, nhãn hiệu – chỉ dẫn
địa lý, quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, quyền tác giả và quyền liên quan
trong môi trường kỹ thuật số và các khó khăn trong xử lý các xâm phạm liên quan.
SC là một đối tượng quan trọng của SHTT. Hiện nay ở Việt Nam mới bàn nhiều
tới việc quy định đối tượng bảo hộ dưới dạng SC. Điển hình có:
+ Bài viết “Quy định mới về đối tượng của SC - lợi bất cập hại” - Nguồn: Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử, đăng trên

+ Toạ đàm “Yêu cầu bảo hộ dạng sử dụng” do Cục SHTT phối hợp với Tổ chức
SHTT thế giới (WIPO) (6-7/5/2008).
Bên cạnh đó, thương mại hóa SC cũng là vấn đề được quan tâm. Nổi bật có hội
thảo “Thương mại hóa SC” do Cục SHTT phối hợp với Cơ quan SC châu Âu (EPO)
phối hợp tổ chức (26-27/5/2008).
Thực tế, tác giả chưa cập nhật được bài nghiên cứu đã công bố nào bàn cụ thể
về hiệu quả bảo hộ quyền đối với SC ở Việt Nam và cũng chưa có nghiên cứu cụ thể
nào về việc nâng cao hiệu quả bảo hộ SC thông qua việc phân tích tác động của chính
sách KH&CN.
Bản thân tác giả đã có bài nghiên cứu “Một số bất cập trong giai đoạn thẩm
định đơn SC tại Việt Nam” (5/2008) và một đề tài nghiên cứu “Đánh giá sự tác động
của cơ chế quản lý đến hiệu quả bảo hộ và thực thi quyền đối với SC (Nghiên cứu
trường hợp các SC trong lĩnh vực dược phẩm)” (6/2011). Trong đề tài nghiên cứu này,
tác giả đặt ra vấn đề nghiên cứu là “Chính sách KH&CN và chính sách quản lý dược
phẩm của Việt Nam từ năm 2005 tới nay đã tác động như thế nào tới hiệu quả bảo hộ

- Viện SHTT.
10

5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu tiến hành đánh giá tác động của chính sách KH&CN tới
bảo hộ SC của Việt Nam từ năm 2005 đến nay.
5.2. Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu: Việt Nam.
5.3. Phạm vi nội dung
Tác động của chính sách KH&CN tới bảo hộ sáng chế của Việt Nam từ năm
2005 đến nay.
6. Vấn đề nghiên cứu
Chính sách KH&CN của Việt Nam từ năm 2005 đến nay tác động như thế nào
tới bảo hộ sáng chế?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Chính sách KH&CN của Việt Nam từ năm 2005 đến nay đã về cơ bản có những
tác động tích cực tới bảo hộ sáng chế:
- Đối với hoạt động sáng tạo: thúc đẩy hoạt động sáng tạo;
- Đối với hoạt động xác lập quyền: tăng số lượng đơn SC, giảm số lượng đơn
SC bị từ chối trong giai đoạn thẩm định hình thức;
- Đối với hoạt động thương mại hóa: bước đầu tạo môi trường pháp lý và thực
tiễn cho thương mại hóa SC, gia tăng số lượng SC được khai thác thương mại;
- Đối với hoạt động thực thi quyền: số lượng các vụ tranh chấp liên quan tới SC
có dấu hiệu giảm từ năm 2006 đến nay.
Tuy nhiên các tác động tích cực này chưa thực sự được phát huy triệt để, do đó
vẫn có những hạn chế của tác động, thậm chí có thể biến thành các tác động ngoại biên
âm tính:
11


- Phương pháp thống kê: Tác giả thống kê số liệu về hoạt động bảo hộ SC ở
Việt Nam từ năm 2005 đến nay và các số liệu khác làm cơ sở thực tiễn để chứng minh
giả thuyết nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, mô hình hóa: Trong quá trình phân tích để chứng minh
giả thuyết nghiên cứu, tác giả tiến hành các so sánh và mô hình hóa các số liệu thành
các biểu đồ cho thấy rõ hơn xu hướng phát triển cũng như mối quan hệ giữa các đối
tượng được biểu thị qua số liệu.
- Phương pháp chuyên gia:
+ Đối tương phỏng vấn: Tác giả luận văn tiến hành phỏng vấn sâu chuyên gia,
nhà quản lý trong lĩnh vực hoạch định chính sách, sở hữu trí tuệ, nhằm thu thập các
thông tin về tác động của chính sách KH&CN tới bảo hộ sáng chế.
+ Cách phỏng vấn: gửi trước yêu cầu phỏng vấn bằng văn bản, tác giả Luận văn
trực tiếp nghe và trao đổi với người được hỏi. Đảm bảo tính khuyết danh của người trả
lời theo đúng quy định.
10. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
còn có phần nội dung bao gồm các chương sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận của Luận văn
Chương 2. Đánh giá tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ của Việt
Nam tới bảo hộ sáng chế
Chương 3. Tổng kết và khuyến nghị 13

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1. 1. Tổng quan về sáng chế

SC dạng vật thể
SC dạng vật thể bao gồm: tất cả các loại đồ vật, dụng cụ, máy móc, linh kiện
máy móc, vật dụng hàng ngày, mà óc sáng tạo của con người tạo nên bằng cách biến
đổi, sắp xếp lại, phối hợp các vật thể hoặc chất thể có sẵn trong tự nhiên nhằm giải
quyết một nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra hoặc nhằm đạt được mục đích nhất định nào
đó.
Đặc trưng của SC dạng vật thể là tồn tại trong SC đó mối quan hệ về hình dạng,
vị trí, kích thước, vật liệu giữa các bộ phận/thành phần của vật thể và sự thống nhất của
mối tương quan đó với chức năng kỹ thuật/công dụng của vật thể thông qua phương
thức đạt được chức năng, công dụng đó.
Ví dụ về SC vật thể: để bổ sung cho những
hạn chế của vật dụng cắt, dụng cụ hai lưỡi cắt đã
được ra đời và đó chính là SC tên “cái kéo” được
ra đời:
Hình bên:
1) H1: dao – dụng cụ cắt một lưỡi
2) H2: kéo – dụng cụ cắt hai lưỡi
SC dạng chất thể
SC dạng chất thể bao gồm tất cả các loại sản phẩm dạng vật chất còn lại (tức là
sau khi loại trừ các sản phẩm dạng vật thể nêu trên) do óc sáng tạo của con người tạo
ra: các hóa chất, vật liệu, thuốc chữa bệnh, đồ ăn, thức uống, cũng như SC dạng vật
thể, SC dạng chất thể là kết quả của việc biến đổi, sắp xếp lại, phối hợp, các chất thể
có sẵn trong tự nhiên nhằm một mục đích nhất định nào đó.
15

Đặc trưng của SC dạng chất thể là tồn tại trong SC đó mối tương quan về thành
phần, bản chất hóa học, cấu trúc của các loại vật chất (đơn chất, hợp chất, hỗn hợp

1.1.2. Mối quan hệ giữa sáng tạo, sáng chế và phát triển công nghệ
Theo cách tiếp cận hệ thống, có thể coi SC là đầu ra của hoạt động sáng tạo
trong lĩnh vực KH&CN, đồng thời là đầu vào của phát triển công nghệ. Như vậy, sự
phát triển của hệ thống công nghệ quốc gia chính là chuỗi tương tác giữa sáng tạo – SC
và phát triển công nghệ. Muốn hệ thống công nghệ quốc gia phát triển, chính phủ quốc
gia đó cần quan tâm, hỗ trợ và đầu tư cho chuỗi tương tác này, nhằm tạo ra một hiệu
quả tổng hợp cao nhất.
Ở đây, chuỗi tương tác này không phải là một đường thẳng đơn điệu mà là một
vòng xoáy với mỗi vòng xoáy sau là sự phát triển nối tiếp của vòng xoáy trước. Ta có
thể thấy chu trình sáng tạo trí tuệ qua hình vẽ sau:

Hoạt động sáng tạo càng được phát triển thì càng tạo ra nhiều SC mới và là điều
kiện cần để phát triển công nghệ. Mặt khác, thông tin SC mô tả chi tiết các giải pháp
công nghệ, là thành quả của các hoạt động sáng tạo và được các cơ quan SHCN quốc
gia và quốc tế công bố rộng rãi. Bản mô tả SC chứa đựng thông tin SC do người nộp
đơn đăng ký SC lập ra và được các cơ quan SHCN xem xét, yêu cầu người nộp đơn
chỉnh sửa lại theo các quy định bắt buộc, trong đó yêu cầu cần trình bày rõ ràng tình
trạng kỹ thuật hiện tại và chỉ ra những điểm mới khác biệt so với các giải pháp kỹ thuật
trước đó và cần nêu rõ yêu cầu bảo hộ. Theo thống kê của Tổ chức SHTT thế giới, số
đơn đăng ký SC nộp hằng năm của thế giới là khoảng một triệu rưỡi. Cho đến nay, ước
Bảo hộ
Khai thác để thu hồi
vốn đầu tư, thu lợi
nhuận để tái đầu tư
cho sáng tạo
bảo hộ, có tên gọi riêng là Bằng độc quyền SC (bằng độc quyền SC). Để đạt được điều
này, trước hết SC đó phải được người có quyền đăng ký tiến hành các thủ tục đăng ký
với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
18

Văn bằng bảo hộ SC là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ
chức, cá nhân nhằm xác lập quyền SHCN đối với SC. Phạm vi hiệu lực của văn bằng bảo hộ SC theo pháp luật Việt Nam:
- Phạm vi không gian: trên toàn lãnh thổ Việt Nam
- Phạm vi thời gian: có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 20 năm kể từ
ngày nộp đơn (đối với Bằng độc quyền SC), có hiệu lực từ ngày cấp và kéo
dài đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn (đối với Bằng độc quyền GPHI)
Mục đích hàng đầu của hệ thống pháp luật bảo hộ SC chính là thúc đẩy, kích
thích việc tạo ra và ứng dụng công nghệ mới. Nghĩa là thông qua việc bảo đảm các
điều kiện thuận lợi, ưu đãi cho những người tạo ra SC để họ yên tâm khai thác các đối
tượng đó, nhờ đó kích thích hoạt động đầu tư cho việc tạo ra các công nghệ mới. Để
đạt được mục đích đó, pháp luật đảm bảo người được cấp một bằng độc quyền sử
dụng, khai thác SC trong một thời gian nhất định. Trong thời gian đó, bất kỳ người thứ
ba nào khai thác SC mà không được phép của chủ thể bằng độc quyền SC đều bị coi là
xâm phạm độc quyền SC của chủ thể này và bị pháp luật xử lý. Trong thời gian độc
quyền, bất kỳ ai muốn sử dụng SC đều phải xin phép chủ bằng độc quyền SC và khi
được cho phép thường phải tuân thủ theo những điều kiện do chủ bằng độc quyền SC
áp đặt, trong đó có việc phải trả tiền cho việc khai thác SC.
Hệ thống pháp luật bảo hộ độc quyền SC không chỉ mang lại những lợi ích riêng
cho chủ bằng độc quyền SC, mà còn mang lại cho xã hội những lợi ích không nhỏ.
19

Song song với nguyên tắc độc quyền, hệ thống pháp luật bảo hộ độc quyền SC còn

thể loại trừ việc bảo hộ SC đối với một số loại SC nhất định, ví dụ những SC mà việc
khai thác thương mại sẽ trái với đạo đức hoặc trật tự xã hội, an ninh xã hội, cụ thể như:
vũ khí hủy diệt, bom nguyên tử,
Luật SHTT quy định các đối tượng sau không được bảo hộ với danh nghĩa SC:
Điều 59. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa SC
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa SC:
1. Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc,
huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
3. Cách thức thể hiện thông tin;
4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
5. Giống thực vật, giống động vật;
6. Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà
không phải là quy trình vi sinh;
7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.
Tiêu chuẩn bảo hộ
Giống như các tiêu chuẩn bảo hộ của pháp luật về bảo hộ SC trên thế giới, Luật
SHTT Việt Nam Việt Nam, tại Điều 58.1 quy định rõ các điều kiện chung đối với SC
được bảo hộ là:
Điều 58. Điều kiện chung đối với SC được bảo hộ
1. SC được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền SC nếu đáp ứng các điều
kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có trình độ sáng tạo;
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.
2. SC được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền GPHI nếu không phải là
hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tính mới;
b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.
21

22

khác được đảm bảo. Hoạt động này ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền
đối với quyền SHTT đã được xác lập. Theo điều 126, Luật SHTT Việt Nam, hành vi
được coi là xâm phạm quyền đối với SC xảy ra trong 2 trường hợp:
- Sử dụng SC được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không
được phép của chủ sở hữu;
- Sử dụng SC mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định
tại Điều 131 (Quyền tạm thời đối với SC, KDCN, thiết kế bố trí) của Luật này.
Khi có dấu hiệu xâm phạm quyền đối với SC nói riêng, chủ thể quyền hoặc Nhà
nước có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ quyền như sau:
- Biện pháp tự bảo vệ: cho phép chủ thể quyền được tiến hành các biện pháp
trong khuôn khổ pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ liên
quan đến đối tượng của quyền SHTT, ở đây là SC Biện pháp này xuất phát từ
nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của pháp luật Việt Nam, được ghi
nhận tại Điều 9, quyền tự bảo vệ tài sản tại điều 255, Bộ luật Dân sự và được cụ
thể hóa tại Điều 198, Luật SHTT.
- Biện pháp hành chính: được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng để
xử lý những hành vi xâm phạm quyền SHTT của cá nhân, tổ chức mà chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc cơ bản của việc xử lý vi phạm
hành chính liên quan đến quyền SHTT được quy định tại Mục 1, Chương XVII,
Luật SHTT, quy định riêng đối với các đối tượng SHCN như SC tại Nghị định
số 97/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy
định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực SHCN. Ưu điểm của biện pháp này là
nhanh chóng, đơn giản, ít tốn kém. Tuy nhiên, cũng có những hạn chế liên quan
đến biện pháp này cần được xem xét như việc chồng chéo trách nhiệm của các
cơ quan thực thi quyền SHTT trong quá trình xử lý các xâm phạm.
- Biện pháp dân sự: được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của
chủ thể quyền hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể

của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” [12, tr. 369].
Tổng hợp từ nhiều cách tiếp cận, tác giả Vũ Cao Đàm trong nghiên cứu của
mình đã đưa ra 1 định nghĩa khá toàn diện về chính sách và đây là khái niệm được tác
giả chọn để sử dụng trong luận văn này: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được

1
James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec. 1983)
24

thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự
ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng
hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát
triển của một hệ thống xã hội”. Cũng theo tác giả, nói về một quyết định chính sách có
thể hiểu như sau [4, tr. 26-27]:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích
kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một
biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.
- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật,
pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính
phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, .…)
- Chính sách phải tác động đến động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã
hội.
- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nêu trên vào
một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội.
1.3.2. Chính sách Khoa học và Công nghệ
Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp quốc (UNESCO) đưa ra
khái niệm: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp
được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục
tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.
Như vậy, chính sách KH&CN trước tiên đó là những quy tắc, nguyên tắc, quy

các thành tựu KH&CN của thế giới nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra
đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất,
nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế;
góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.”
- Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra định
hướng chính sách phát triển KH&CN. Để thực hiện các định hướng này cần phải
nghiên cứu và ban hành hàng loạt chính sách cụ thể có liên quan như chính sách đầu tư
cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ, chính sách chuyển giao công nghệ,

Trích đoạn Tác động tới hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế Tác động tới hoạt động thực thi quyền đối với sáng chế Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động sáng tạo Tác động của chính sách Khoa học và Công nghệ tới hoạt động khai thác Đào tạo nhân lực về sáng chế và nâng cao năng lực các thẩm định viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status