ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
***
NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG
Tác Động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý
tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nước
(nghiên cứu trường hợp Đại Học bách khoa hà nội) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.72
Khóa 2005 – 2008
1.2.2. Một số văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN 21
1.3. Tài sản trí tuệ 25
1.3.1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 25
1.3.2. Tác giả tài sản trí tuệ 27
1.3.3. Chủ sở hữu tài sản trí tuệ 28
1.3.4. Tác giả và chủ sở hữu tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn kinh phí nhà
nước 29
1.4. Chính sách KH&CN để quản lý tài sản trí tuệ trong hệ thống giáo dục và đào
tạo 33
1.4.1. Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo 33
1.4.2. Quy định của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 34
1.5. Hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ 35
1.5.1. Hiệu quả thông tin và hiệu quả khoa học 36
1.5.2. Hiệu quả đào tạo 36
1.5.3. Hiệu quả kỹ thuật 36
1.5.4. Hiệu quả kinh tế 37
CHƢƠNG 2. 40
THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ TÀI SẢN TRÍ TUỆ 40
ĐƢỢC TẠO RA TỪ NGUỒN KINH PHÍ NHÀ NƢỚC 40
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 40
2.1. Chính sách đầu tƣ cho hoạt động KH&CN của Trƣờng Đại học Bách Khoa Hà
Nội 40
2
2.1.1. Khái quát về lịch sử phát triển của Trường ĐHBKHN 40
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHBKHN 43
2.1.3. Nhân lực KH&CN chủ yếu của Nhà trường: đội ngũ cán bộ, giảng viên 46
2.1.4. Nhân lực KH&CN của Nhà trường là sinh viên, học viên cao học, nghiên
cứu sinh 48
2.1.5. Trang thiết bị phục vụ hoạt động KH&CN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH&CN khoa học và công nghệ
NCKH nghiên cứu khoa học
SHTT sở hữu trí tuệ
Trƣờng ĐHBK Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội
TSTT tài sản trí tuệ
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh kết cấu giá trị của các sản phẩm và dịch vụ truyền thống
đang ngày càng chuyển biến mạnh mẽ theo hƣớng tăng hàm lƣợng trí tuệ so
với hàm lƣợng tài nguyên và lao động giản đơn, nền kinh tế của nhiều quốc gia
trên thế giới chuyển dần thành nền kinh tế dựa trên tri thức, vai trò của tài sản
trí tuệ cũng ngày càng đƣợc thừa nhận nhƣ một công cụ quan trọng thúc đẩy
hoạt động sáng tạo, đầu tƣ, sản xuất và thƣơng mại trên bình diện quốc gia
cũng nhƣ trong quan hệ quốc tế. SHTT đƣợc coi là một trong những tiêu chí
đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là thƣớc đo đánh
giá tiềm lực và năng lực phát triển KH&CN - yếu tố then chốt quyết định sự
phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc.
Trong những năm qua, Nhà nƣớc đã thực hiện chính sách ƣu tiên đầu tƣ
phát triển KH&CN, trong đó có lĩnh vực SHTT. Hiến pháp 1992 đã chỉ rõ:
“Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Khoa học và công
sách KH&CN đã bộc lộ nhiều bất cập, có thể điểm qua, ví dụ vốn cho
KH&CN dùng không hết, phải trả lại do cơ chế quản lý tài chính, Báo cáo
quyết toán ngân sách năm 2006 trình Quốc hội cho thấy chỉ giải ngân đƣợc
hơn 80% kinh phí ngân sách dành cho KH&CN. Một số quy định về tài chính
hiện nay rất khuôn cứng, mang nặng tính quan liêu, bao cấp, muốn thay đổi
các nội dung trong dự toán kinh phí nghiên cứu cho phù hợp phải làm thủ tục
qua nhiều cấp, rất phức tạp
Những bất cập trên đã ảnh hƣởng tới việc quản lý tài sản trí tuệ đƣợc tạo
ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc. Do đó việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn đánh giá sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hiệu quả
quản lý tài sản trí tuệ đƣợc tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc là cần thiết.
1
Báo cáo tại Hội nghị Chuyên đề về Hợp tác quốc tế và Nghiên cứu khoa học trong các trƣờng đại học và cao
đẳng giai đoạn 2001-2006 và định hƣớng giai đoạn 2007-2015 tổ chức ngày 08.6.2007 tại Hà Nội.
6
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn Tác động của chính sách
khoa học và công nghệ đến hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ được tạo ra bằng
nguồn kinh phí nhà nước (Nghiên cứu trường hợp Đại học Bách khoa Hà Nội)
làm đề tài Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN của
mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc quản lý TSTT đƣợc tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc đã đƣợc
nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm.
Tại Hội nghị tổng kết các chƣơng trình KH&CN trọng điểm cấp nhà
nƣớc giai đoạn 2001 – 2005 do Bộ KH&CN chủ trì tháng 12.2006, các nhà
quản lý khẳng định bƣớc đầu công khai, bình đẳng trong hoạt động KH&CN,
điểm nổi bật của công tác quản lý các chƣơng trình giai đoạn này là hệ thống
văn bản quản lý đƣợc đổi mới và hoàn thiện một cách đồng bộ, rõ ràng, thống
oạt động sở hữu trí tuệ trong cơ sở giáo dục đại học, chỉ đạo các bộ phận liên
quan trong cơ sở giáo dục đại học thực hiện và phối hợp với bộ phận chuyên
trách thực hiện kế hoạch hoạt động sở hữu trí tuệ của cơ sở giáo dục đại học…
Trong các nghiên cứu cá nhân về việc quản lý tài sản trí tuệ trong các
trƣờng đại học, phải kể đến nghiên cứu của TS Phan Quốc Nguyên (Trƣờng
Đại học Bách khoa Hà Nội) với bài Tăng cường chuyển giao công nghệ và
thương mại hóa công nghệ từ trường đại học. Trong nghiên cứu của mình, tác
giả đi từ kinh nghiệm thực tiễn của các nƣớc phát triển nhƣ Đại học Công nghệ
Zurich (Thuỵ Sĩ) trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp KH&CN
trong trƣờng đại học. Đại học Leeds (Vƣơng quốc Anh) đã đầu tƣ tới 20 triệu
bảng Anh nhằm hỗ trợ việc thƣơng mại hóa các kết quả nghiên cứu… Quan
điểm của tác giả có thể tóm tắt là chỉ có thể quản lý tốt tài sản trí tuệ với tƣ
cách là các kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trƣờng đại học bằng cách
thƣơng mại hóa chúng.
8
Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý KH&CN của tác giả
Trần Văn Dũng với đề tài Điều kiện hình thành doanh nghiệp Spin-off trong
các trường đại học ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng có quan điểm tƣơng tự, nghĩa là để
quản lý tốt tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu ứng dụng trong các trƣờng đại
học thì nên hình thành đƣợc doanh nghiệp spin-off trong các trƣờng đại học
với 3 yếu tố cần có, đó là: công nghệ có bản quyền, đội ngũ nhà khoa học có
tinh thần kinh thƣơng và đƣợc đầu tƣ về vốn. Bỏ qua việc sử dụng thuật ngữ
“bản quyền công nghệ” có nhiều điểm phải bàn lại, thì đây là một công trình
khoa học công phu bàn về việc quản lý tài sản trí tuệ là kết quả nghiên cứu ứng
dụng trong các trƣờng đại học.
Tiếp cận ở một góc độ khác, quản lý TSTT trong các trƣờng đại học,
nhƣng đƣợc tạo ra bởi các nguồn kinh phí khác nhau, GS Naohiko Neshima có
một nghiên cứu Bảo hộ quyền SHTT trong các trường đại học (kinh nghiệm
Mục tiêu cấp 2: Đánh giá tác động của chính sách KH&CN đến hiệu
quả quản lý TSTT đƣợc tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc.
Mục tiêu cấp 3: Nhận diện các điểm chƣa hợp lý trong các chính sách
KH&CN tác động không tích cực đến việc quản lý TSTT đƣợc tạo ra bằng
nguồn kinh phí nhà nƣớc, phân tích các nguyên nhân dẫn đến các hiện tƣợng
này và đề xuất giải pháp khắc phục chúng.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: 2002-2006
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ 01.2008 đến 10.2008
5. Mẫu khảo sát
Trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội
10
6. Câu hỏi nghiên cứu
Cần phải có những giải pháp gì để quản lý có hiệu quả tài sản trí tuệ
đƣợc tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau đây:
- Chính sách KH&CN có tác động đến hiệu quả quản lý tài sản trí tuệ
đƣợc tạo ra bằng nguồn kinh phí nhà nƣớc;
- Việc cân bằng lợi ích giữa tác giả và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu có
tác động tích cực đến việc tạo ra nhiều TSTT có chất lƣợng;
- Thƣơng mại hóa các kết quả nghiên cứu có tác động tích cực đến việc
tạo ra nhiều TSTT có chất lƣợng;
- Cần chỉnh sửa những điểm bất cập trong chính sách KH&CN để có thể
quản lý có hiệu quả TSTT.
8. Phƣơng pháp chứng minh giả thuyết
- Phương pháp phân tích tài liệu: Luận văn đã phân tích và tổng kết các
tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu do Phòng KH&CN Trƣờng Đại học
Bách khoa Hà Nội cung cấp;
đã đƣa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình
hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết
những vấn đề mà họ quan tâm”.
"Chính sách là những sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích
nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra"
4
hoặc "Chính sách là các chủ trƣơng và các biện pháp của một đảng phái, một
chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội"
5Khái niệm chính sách đƣợc xem xét từ các cách tiếp cận: tiếp cận chính
trị học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận
lý thuyết trò chơi, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng
hợp.
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến
những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc
chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp
2
Trong mục này, tác giả Luận văn sử dụng lý thuyết Khoa học chính sách của Vũ Cao Đàm, Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2008
3
James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec. 1983)
4
Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng. 1988. Tr.157
5
Nguyễn Nhƣ Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá – Thông tin.1999. tr.369.
14
Nhƣ vậy, nói về một quyết định chính sách, ngƣời quản lý có thể hiểu
nhƣ sau:
- Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích
thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành
chính hoặc một biện pháp ƣu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội.
- Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá dƣới dạng các
đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật, nhƣ nghị định, thông tƣ,
chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức
(doanh nghiệp, trƣờng học, v.v…)
- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và
nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một
mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc,
nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính
sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v.v… Mỗi
nhóm đƣợc đặc trƣng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo
động cơ cho đối tƣợng chính sách.
- Chính sách phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trƣờng, mục tiêu phát triển
của một địa phƣơng, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia, v.v…
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, ngƣời quản lý cần
xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là chuẩn bị giải pháp ứng phó trong
một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng
trong cuộc chơi, nhƣng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác
cảm thấy đƣợc chia sẻ lợi ích thoả đáng, không dồn đối tác vào đƣờng cùng để
đón lấy những mối họa tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp theo.
16
định tới sự thành bại của một chính đảng, thậm chí của quốc gia, khi đảng trở
thành đảng cầm quyền.
1.1.3. Phân loại theo mục tiêu tác động của chính sách
Dù thuộc chủ thể nào, mỗi chính sách đều nhằm vào một hoặc một số
mục tiêu. Chọn mục tiêu nào là tuỳ yêu cầu của mỗi giai đoạn phát triển của hệ
thống xã hội.
- Chính sách đối ngoại của quốc gia
Không một quốc gia nào trong thế giới ngày nay có thể tồn tại một cách
cô lập với thế giới. Chính đó là lý do đồi hỏi các quốc gia phải có một chính
sách đối xử với các quốc gia khác nhau trong khuôn khổ một chính sách đối
ngoại nhất định, trong đó xác định những đồng minh, những liên minh, những
đối tác và những đối thủ phải canh chừng. Tất nhiên chính sách phải thƣờng
xuyên điều chỉnh, bởi vì không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng nhƣ không có đồng
minh trong mọi quan hệ.
- Chính sách xoá đói giảm nghèo
Chính sách xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao mức sống tối thiểu của
dân chúng vƣợt trên ngƣỡng đói nghèo của thế giới. Chính sách này đƣợc thực
hiện có thể bằng cách dạy nghề và tạo việc làm cho ngƣời dân, hỗ trợ ngƣời
dân tìm kiếm việc làm, bao gồm cả chính sách xuất khẩu lao động ra nƣớc
ngoài.
Tuy nhiên chính sách xoá đói giảm nghèo cũng có thể có biện pháp
khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tƣ vào khu vực đƣợc xem là đói nghèo
của đất nƣớc, tạo việc làm cho dân nghèo, nâng cao đời sống của họ.
Trong chính sách này, tuy nhắm vào mục tiêu “xoá đói, giảm nghèo”,
nhƣng đối tƣợng tác động không chỉ có dân nghèo, mà có cả dân giầu, gồm
các nhà kinh doanh.
- Chính sách công nghiệp hoá
17
của Công ty Ford (con) ở Việt Nam là chính sách vi mô; trong một tỉnh, có thể
xem cấp tỉnh là vĩ mô, cấp cơ sở là vi mô.
- Chính sách vi mô
Đây là chính sách của các đơn vị cơ sở. Chẳng hạn, các doanh nghiệp đƣa
ra chính sách khuyến mại; một doanh nghiệp khác đƣa ra chính sách không
khuyến mại mà đề cao chất lƣợng với khẩu hiệu “Chúng tôi không khuyến
mại, Chúng tôi chỉ chất lƣợng”.
Các chính sách vi mô luôn phải đặt trong khuôn khổ của chính sách vĩ
mô. Ví dụ, chính sách trả lƣơng của doanh nghiệp (vi mô) phải dựa trên chính
sách tiền lƣơng của Nhà nƣớc (vĩ mô).
Tuy nhiên, chính sách vi mô cũng có tính độc lập tƣơng đối so với chính
sách vĩ mô. Ví dụ, trong khi Nhà nƣớc chƣa có quy định gì về việc một doanh
nghiệp có thể lựa chọn trƣớc những sinh viên giỏi để đào tạo cho doanh nghiệp
mình, thì một số doanh nghiệp đã làm công việc đó với các trƣờng đại học.
1.1.5. Phân loại theo thời hạn
Có thể phân loại chính sách theo thời hạn hiệu lực của chính sách, trong
đó, có chính sách dài hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn và chính
sách nhất thời, rất ngắn hạn để ứng phó với một tình huống đột xuất nào đó.
Thật ra, khái niệm dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn cũng mang ý nghĩa
hết sức tƣơng đối, không có một ranh giới quá chặt chẽ.
- Chính sách dài hạn
Chính sách dài hạn là chính sách có hiệu lực trong một giai đoạn dài,
chẳng hạn, từ 10 năm trở lên. Chính sách dài hạn đảm bảo cho việc thực hiện
chiến lƣợc dài hạn của hệ thống .
- Chính sách ngắn hạn
19
Chính sách ngắn hạn chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian đủ thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, thƣờng trong khoảng 5 năm.
- Chính sách trung hạn
xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển
của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.”
- Nghị quyết của Quốc hội đƣa ra những chính sách KH&CN mang tính
định hƣớng để các ngành, các cấp nghiên cứu xây dựng các chính sách
KH&CN cụ thể áp dụng trong từng ngành và lĩnh vực, phù hợp với từng thời
kỳ phát triển.
- Cam kết quốc tế: Các cam kết trong các điều ƣớc quốc tế song phƣơng,
đa phƣơng về KH&CN mà Việt Nam là thành viên là những chính sách mang
tính định hƣớng hoặc cụ thể. Điểm nổi bật nhất là cam kết gia nhập WTO của
Việt Nam, trong đó có việc thực hiện Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến
thƣơng mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS).
- Chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển KH&CN của từng
ngành và lĩnh vực.
Nhƣ vậy có thể thấy, chính sách KH&CN đƣợc thể hiện ở nhiều nguồn
và ở khía cạnh hình thức, nội hàm của khái niệm chính sách KH&CN rộng hơn
nội hàm của khái niệm pháp luật về KH&CN.
Chính sách phát triển KH&CN của một đất nƣớc, một địa phƣơng, hoặc
một đơn vị cụ thể, trong đó có những lĩnh vực nghiên cứu và những công nghệ
đƣợc ƣu tiên phát triển theo hai hƣớng:
- KH&CN phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt là
công nghệ phải phục vụ cho mục tiêu cạnh tranh của hệ thống sản xuất.
- KH&CN phải đƣợc phát triển đi trƣớc, có những lĩnh vực phải đáp ứng
21
tức thời nhu cầu cạnh tranh của sản xuất công nghiệp.
1.2.2. Một số văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN
Đối với một quốc gia, chính sách không thể chỉ đƣợc tuyên bố bằng lời,
mà phải đƣợc thể hiện trên một loại văn bản của Nhà nƣớc, gọi chung là văn
bản quy phạm pháp luật. Có thể điểm chính sách KH&CN đƣợc thể hiện qua
các văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể ở trung ƣơng ban hành:
KH&CN ƣu tiên từng thời kỳ; các chính sách lớn thúc đẩy phát triển KH&CN;
các dự án văn bản pháp quy của Nhà nƣớc về KH&CN; các chỉ tiêu lớn của kế
hoạch KH&CN 5 năm và hàng năm, bao gồm cả ngân sách dành cho KH&CN;
các chƣơng trình KH&CN cấp Nhà nƣớc;
- Nghị định số 35/HĐBT ngày 28.01.1992 của Hội đồng Bộ trƣởng quy
định về công tác quản lý KH&CN. Có thể coi năm 1992 là năm ban hành các
văn bản các văn bản quản lý nhà nƣớc quan trọng về KH&CN đầu tiên của
Việt Nam. Lần đầu tiên thuật ngữ KH&CN đƣợc xuất hiện chính thức, thay
cho các thuật ngữ khoa học và kỹ thuật, khoa học kỹ thuật, tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Trong đó một số quy định về quản lý các hoạt động KH&CN có thể
đƣợc coi là “tuyên ngôn”, lần đầu tiên đƣợc công bố trong một văn bản quy
phạm pháp luật chính thức của Nhà nƣớc, đáng chú ý là:
+ Tất cả các cơ quan Nhà nƣớc, các đơn vị vũ trang, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội và mọi công dân đều đƣợc quyền tổ chức và thực hiện các hoạt
động KH&CN, áp dụng các thành tựu KH&CN mới vào sản xuất và đời sống;
đƣợc quyền bình đẳng trong việc dự tuyển để chủ trì hoặc tham gia thực hiện
các chƣơng trình, đề tài, đề án về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
của Nhà nƣớc đƣợc các cơ quan có thẩm quyền định kỳ công bố.
+ Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc
thành lập các đơn vị nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trực thuộc.
23
+ Các tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực KH&CN có quyền tự
do và dân chủ trong nghiên cứu, sáng tạo, trong việc thực hiện các vấn đề
nghiên cứu; đƣợc khai thác và trao đổi các thông tin liên quan đến hoạt động
nghiên cứu của mình…
- Pháp lệnh ngày 05.12.1988 của Hội đồng Nhà nƣớc quy định về
chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam. Trong đó đáng chú ý là
quy định Nhà nƣớc khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài chuyển
giao công nghệ vào Việt Nam trên nguyên tắc bình đẳng và các bên cùng có
Với Quyết định số 171/2004/QĐ -TTg, Chính phủ khẳng định quyết tâm
tạo ra sự thay đổi căn bản trong quản lý KH&CN, đẩy nhanh sự phát triển
KH&CN, giải quyết bằng đƣợc những nhiệm vụ cơ bản đã đƣợc khởi xƣớng
trong nhiều năm trƣớc, đặc biệt từ khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ
năm 2000. Cụ thể là những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
+ Hoàn thiện cơ chế xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN;
+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN;
+ Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tƣ tài chính cho hoạt động KH&CN
+ Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực KH&CN;
+ Phát triển thị trƣờng công nghệ;
+ Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nƣớc về
KH&CN.
- Luật SHTT năm 2005, quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và
việc bảo hộ các quyền đó. Trong đó nhấn mạnh chính sách của Nhà nƣớc về sở
hữu trí tuệ là:
+ Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ
sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công
cộng; không bảo hộ các đối tƣợng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự
công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.