1
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
_______________________________
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP BỘ NĂM 2009-2012
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
XÂY DỰNG ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ
CHÍNH SÁCH KH&CN
Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ Doãn Trịnh
Thành viên tham gia:
PGS.TS Trần Ngọc Ca
TS. Hoàng Xuân Long
TS. Nguyễn Quang Tuấn
PGS.TS Bùi Thiên Sơn
Ths. Nguyễn Ngọc Dung
Ths. Nguyễn Thị Thu Hường (thư ký)
9527
Hà Nội, năm 2012
2
Chương 2. NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO TIỄN SĨ
TRONG LĨNH VỰC CHÍNH SÁCH KH&CN 24
I. Lịch sử hoạt động đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN trên thế
giới 24
II. Hiện trạng đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ
và Quản lý khoa học và công nghệ tại một số nước trên thế giới 24
1. Đào tạo Chính sách khoa học và công nghệ tại Hoa Kỳ 24
2. Các nước Bắc Âu 25
3. Các nước Đông Âu 26
4. Các nước Tây Âu 28
5. Các nước châu Á 28
Chương 3. XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (Mã số
62.34.70.01) 343
I. Văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đào tạo tiến sĩ 34
1. Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo 34
2. Thông tư số 10 /2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định Quy chế Đào tạo trình độ tiến sĩ 36
II. Khung Chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và
công nghệ 37
định đối với tương lai phát triển của nền kinh tế. S
ứ mệnh quan trọng này của chiến
lược và chính sách sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hiện diện của đội ngũ
chuyên gia hoạch định chính sách khoa học và công nghệ. Chính vì lẽ đó, trong thời
gian gần đây, việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành Chính sách KH&CN trình
độ tiến sỹ trên thế giới đang ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều trung tâm đào tạo
trên đại học chuyên ngành Chính sách KH&CN
đã được hình thành và phát triển ở
các viện nghiên cứu, trường đại học nổi tiếng ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á.
Ở nước ta hiện nay, cùng với việc tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ hoạch
định chính sách kinh tế - xã hội nói chung, việc đào tạo đội ngũ cán bộ hoạch định
chính sách và quản lý khoa học và công nghệ nói riêng cũng ngày càng được chú
trọng. Đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách KH&CN đ
ã và đang thể hiện vai trò
quan trọng trong việc đề ra chủ trương, đường lối và chính sách phát triển khoa học
và công nghệ, gắn kết sự phát triển khoa học và công nghệ với sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
Với nhận thức ngày càng tăng về vai trò, sứ mệnh và tác động của khoa học
và công nghệ đối với sự phát triển đất nước, các hoạt động nghiên cứu và xây dự
ng
chính sách KH&CN ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh. Cùng với sự kiện toàn hệ
thống tổ chức khoa học và công nghệ từ trung ương đến bộ, ngành và địa phương,
số lượng cán bộ cán bộ làm công tác quản lý và hoạch định chính sách khoa học và
công nghệ ở Bộ Khoa học và Công nghệ, các Vụ KH&CN thuộc các Bộ, ngành ở
Trung ương và các Sở KH&CN ở 63 tỉnh thành phố đã tăng lên nhanh chóng. Sự
phức tạp trong qu
ản lý phát triển khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá cũng
đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định
nghiệm đào tạo thạc sỹ Chính sách KH&CN sẽ là cơ sở để Viện thực hiện tốt đào
tạo tiến sỹ
chuyên ngành Chính sách KH&CN.
Trong thời gian qua, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
đã triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quản lý
KH&CN. Đã chủ trì xây dựng hoặc tham gia xây dựng nhiều chủ trương, chính
sách lớn của Đảng và Nhà nước cung như nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan
trọng về KH&CN như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Công nghệ cao và các
Nghị định, Quyết đị
nh của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Việc tiến hành đào
tạo cán bộ chuyên ngành chính sách và quản lý KH&CN trình độ tiến sỹ tại Viện
Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ sẽ tạo điều kiện gắn kết chặt chẽ
giữa nghiên cứu với đào tạo và giữa nghiên cứu, đào tạo với hoạt động thực tiễn.
Thực tiễn hoạt động đào t
ạo tiến sĩ chuyên ngành chính sách ở một số Viện nghiên
6
cứu về chính sách khác ở nước ta đã khẳng định tính đúng đắn và khả thi của chủ
trương này.
Với các lý do nêu trên, chúng tôi nhận thấy, việc xây dựng Đề án đào tạo
tiến sỹ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa
học và Công nghệ là cần thiết, đáp ứng đòi hỏi và nhu cầu thực tiễn, đồng thời phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ và nă
ng lực của đơn vị. Đề án này thực hiện trong
thời gian 24 tháng với kinh phí là 550 triệu đồng.
Với mục tiêu là xây dựng bộ hồ sơ trình lên các cấp có thẩm quyền để đăng
ký nhận nhiệm vụ đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện Chiến
lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Báo cáo tổng hợp Đề án bao gồm 3
chương:
Chương 1: Luận cứ về việc đào tạo ti
Chương 1.
LUẬN CỨ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN
I. Giới thiệu chung về Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
1. Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quan nghiên
cứu của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, được thành lập theo quyết định số
248/TTg, ngày 23 tháng 4 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất
2 Viện: Viện Nghiên cứu Dự báo và Chiến lược Khoa học và Công nghệ
(NISTFASS); Viện Nghiên cứu Quản lý Khoa học (ISM).
Ngày 8 tháng 6 năm 2009 Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định số
955/QĐ-BKHCN Ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Chiến lược và
Chính sách KH&CN. Quyết định này thay thế Quyết định số 101/Q
Đ-BKHCN
ngày 18/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Ban hành Điều lệ Tổ
chức và hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ.
Cơ cấu tổ chức của Viện bao gồm:
- Ban Nghiên cứu chiến lược và dự báo;
- Ban Chính sách nhân lực và hệ thống tổ chức KH&CN;
- Ban Chính sách đầu tư và tài chính KH&CN;
- Ban Chính sách đổi mới và phát triển thị trường công nghệ;
- Ban Đào tạo sau đạ
i học và thông tin - thư viện;
- Văn phòng;
- Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN.
Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là đơn vị duy nhất đào tạo về Chính
sách khoa học và công nghệ trong cả nước và là đơn vị nghiên cứu khoa học và xây
Viện đã có kinh nghiệm trong công tác đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Chính
sách Khoa học và Công nghệ. Sau 22 năm triển khai chương trình, đã có trên 148
học viên bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Chính sách
Khoa học và Công nghệ - trong đó có 98% học viên bảo vệ luận văn tốt nghiệp đạt
điểm giỏi và suất sắc. Nhiều học viên sau khi tốt nghiệp trong quá trình công tác đã
được bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh
đạo quan trọng trong các cơ quan quản lý khoa
học công nghệ ở địa phương và trung ương. Nhiều học viên sau khi tốt nghiệp đã
tham gia giảng dạy đại học và sau đại học chuyên ngành quản lý, chính sách
KH&CN
Trên những nền tảng về kinh nghiệm và triển vọng phát triển trong thời gian
tới Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN tiếp tục định hướng mở rộng việc hợp
tác đào tạo với các trường đạ
i học, học viện theo nhu cầu của thị trường nhân lực
chất lượng cao hiện nay trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
3. Căn cứ pháp lý cho phép mở chuyên ngành tại Viện Chiến lược và Chính sách
Khoa học và Công nghệ
Việc mở chuyên ngành đào tạo tiến sĩ về chính sách KH&CN tại Viện Chiến
lược và Chính sách KH&CN dựa trên những căn cứ đã có trong văn bản của Nhà
nước như: Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 n
ăm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa
9
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quyết định số 955/QĐ-BKHCN ngày 8 tháng 6 năm
2009 Ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách
KH&CN của Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
II. Phân tích đánh giá năng lực nghiên cứu - đào tạo của Viện Chiến lược và
Chính sách KH&CN
1. Năng lực nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan c
lý thuyết trong quản lý KH&CN cụ thể
như sau:
1.1. Kết quả nghiên cứu khoa học - xây dựng văn bản pháp quy
Viện đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao chủ trì, tham gia nghiên cứu
nội dung khoa học của khoảng 40 văn bản quy phạm pháp luật:
10
- Nghị quyết Bộ Chính trị số 37-NQ/TW năm 1981 về Chính sách Khoa học
và kỹ thuật.
- Quyết định số 175/CP Ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên
cứu Khoa học và kỹ thuật.
- Chiến lược quản lý khoa học kỹ thuật đến năm 2000 (năm 1986)
- Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (năm 1988).
- Nghị quyết Bộ Chính trị số 26/1991 về “Khoa học và công nghệ trong sự
nghiệp đổi mới”
- Luật Đầu tư nước ngoài (năm 2005).
- Chỉ thị số 99-CT Sắp xếp và kiện toàn mạng lưới các cơ quan nghiên cứu
khoa học và kỹ thuật (năm 1988).
- Quyết định số 324-CT Tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu Khoa
học và công nghệ (năm 1992).
- Chiến lược kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2000.
- Nghị quyết 03/NQ-TW ngày 06/05/1993 Chiến lược Kinh t
ế Biển.
- Luật Khoa học và Công nghệ 21/2000/QH10.
- Quyết định số 175/CP-KG ngày 22/02/1999 Tầm nhìn Việt Nam đến năm
2020.
- Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31-12-2003 phê duyệt Chiến lược
phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010.
- Nghị định số 122/2003/NĐ-CP Thành lập Quỹ Phát triển khoa học và công
nghệ QG.
với WBI)
- Nghiên cứu về chính sách KH&CN ứng phó với BĐKH (phối hợp với
Rockerfeller)
- Nghiên cứu về phương pháp luận xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN
(phối hợp với Hàn Quốc)
- Nghiên cứu về Chính sách đổi mới trong Khoa học và Công nghệ (phối hợp
với UNIDO, IPP)
2. Về kinh nghiệm trong đào tạo sau đại học chuyên ngành Chính sách khoa học
và công nghệ
Trong vòng 22 năm tham gia hoạt động đào tạo, Việ
n đã đào tạo và phối hợp
đào tạo 148 thạc sĩ chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ, trong đó có
nhiều người đã và đang giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý quan trọng trong các ban,
ngành của Đảng, các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cho đến
các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân.
Đây là nền tảng quan trọng để Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN tiếp
tục đào t
ạo và bồi dưỡng các chuyên gia về quản lý, chính sách khoa học và công
nghệ, cũng như các nhà quản lý có khả năng tác nghiệp trong hoạt động thực tiễn.
Việc tập trung mở rộng bậc đào tạo sau đại học chuyên ngành Chính sách KH&CN
được xem là bước đi phù hợp với xu thế chung của các ngành đào tạo hiện nay, phát
12
triển theo mô hình học viện nghiên cứu tương tự như lộ trình của các Viện nghiên
cứu tại các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới hiện nay.
Trong những năm qua, việc đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách
KH&CN đã tạo cho Viện không những có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu giảng
dạy sau đại học mà còn tạo cho Viện có mạng lưới đối tác rộng là các cơ sở đào tạo
và nghiên cứu trong và ngoài nướ
c, có đội ngũ cán bộ giảng dạy giàu kinh nghiệm,
13
Đội ngũ cán bộ cơ hữu tham gia đào tạo ngành
hoặc chuyên ngành trình độ thạc sĩ/trình độ tiến sĩ của cơ sở đào tạo
1Số
TT
Họ và tên, năm sinh,
chức vụ hiện tại
Học
hàm,
năm
phong
Học vị, nước,
năm tốt
nghiệp
Chuyên ngành
Tham gia đào tạo
SĐH (năm, CSĐT)
Thành tích khoa học (số lượng
đề tài, các bài báo)
1 Tạ Doãn Trịnh
1956
Viện trưởng -
KH&CN, Đại học
Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học
kinh tế quốc dân
4 cấp nhà nước.
4 đề tài cấp Bộ
1
Cán bộ cơ hữu là cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên trong biên chế (đối với các trường công lập) và cán bộ hợp đồng dài hạn (từ 1 năm trở
lên) hoặc cán bộ hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định của Luật lao động sửa đổi. 14
Số
TT
Họ và tên, năm sinh,
chức vụ hiện tại
Học
hàm,
năm
phong
Học vị, nước,
năm tốt
nghiệp
Chuyên ngành
Tham gia đào tạo
SĐH (năm, CSĐT)
Thành tích khoa học (số lượng
đề tài, các bài báo)
3 Hoàng Xuân Long
7 bài báo
5 Bạch Tân Sinh
1961
Trưởng ban Chính sách
Nhân lực và hệ thống tổ
chức KH&CN
TS;
Đan Mạch;
1998.
Kế hoạch và
phát triển
2006,
Viện Chiến lược và
Chính sách
KH&CN
2 đề tài cấp nhà nước
5 cấp Bộ
1 cấp tỉnh
1 dự án
10 bài báo công bố
6 Bùi Thiên Sơn
1954
Trưởng ban Chính sách
Đầu tư và tài chính
KH&CN
PGS
2007
TS;
Việt Nam;
2002.
TS;
Đức;
1983 .
Hóa học 1997,Trường Đại
học Khoa học xã
hội và nhân văn,
Viện Chiến lược và
Chính sách
KH&CN
1 đề tài cấp tỉnh
3 đề tài cấp Nhà nước
4 đề tài cấp tỉnh
6 bài báo
8 Nguyễn Thị Anh Thu
1956
Nguyên Phó trưởng ban
Chính sách Đầu tư và
tài chính KH&CN
TS;
Nga; 1992.
Kinh tế học 1997,
Đại học Quốc gia,
Viện Chiến lược và
Chính sách
KH&CN, Đại học
khoa học xã hội và
nhân văn
3 đề tài cấp Bộ
2 đề tài cấp Nhà nước
5 bài báo
Tham gia đào tạo
SĐH (năm, CSĐT)
Thành tích khoa học (số lượng
đề tài, các bài báo)
10 Mai Hà
1954
Vụ trưởng Vụ hợp tác
Quốc tế - MOST
PGS
2011
TS;
Nga;
1980.
Điều khiển học
kinh tế
1996,
Viện Chiến lược và
Chính sách
KH&CN, Trường
Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn;
Đại học văn hóa
1 đề tài cấp Nhà nước;
2 đề tài cấp tỉnh;
3 đề tài cấp Bộ
3 bài báo
11 Nguyễn Văn Học
1949
Nguyên Trưởng ban
Chính sách Nhân lực và
nhân văn
3 đề tài cấp nhà nước,
nhiều đề tài cấp bộ và cơ sở
Nhiều bài báo 17
4. Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học
Hiện nay, Viện đã có quan hệ và hợp tác nhiều Viện nghiên cứu, trường đại
học, tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách
KH&CN trên thế giới. Ngoài các nước có quan hệ truyền thống như CHLB Nga,
Trung quốc, các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch), Viện đ
ã mở rộng mối quan
hệ với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaysia, Philippin.v.v… và
các nước phát triển khác như CHLB Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc. Viện cũng có
quan hệ với các tổ chức quốc tế như: CIDA Canada, Sida Thuỵ điển, World
Bank,… Đó là các yếu tố rất thuận lợi để Viện phát triển và nâng cao năng lực
nghiên cứu và đào tạo của Viện.
Một số hoạt động h
ợp tác quốc tế điển hình mà Viện đã tiến hành trong thời
gian gần đây là:
- Chủ trì Dự án “Tư vấn chính sách về chiến lược,chính sách khoa học, công
nghệ và đổi mới 2011-2020 và thực hiện Luật Công nghệ cao”; Cơ quan tài trợ:
UNIDO.
- Chủ trì dự án “Hỗ trợ xây dựng khung chiến lược KH&CN theo cách tiếp
cận hệ thống đổi mới và cơ chế điều chỉnh”; Cơ quan tài trợ
: “Đối tác Đổi mới Sáng
tạo Việt Nam - Phần Lan”.
- Chủ trì và là cơ quan điều phối dự án “Mạng lưới các thành phố châu Á có
Máy tính và nối mạng Internet đến các phòng học lớn. Phòng học đa năng,
máy tính nối mạng Internet, máy chiếu, hệ thống âm thanh, đảm bảo giảng viên có
thể áp dụng các phương pháp giảng dạy mới.
Các máy tính ở
các phòng, ban nghiên cứu đều có hệ thống máy tính cấu
hình cao, được nối mạng nội bộ và Internet 24/24h. Giảng viên có thể khai thác,
trao đổi, cập nhật thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cũng như
các công tác quản lý.
Hiện nay, Viện đã lắp đặt mạng Internet không dây để phục vụ nhu cầu truy
cập thông tin của cán bộ, giảng viên và học viên. Viện có 2 phòng hội thảo 1 phòng
khai thác mạng với trên 45 máy tính được kết nối m
ạng Internet.
- Thư viện, phòng đọc
Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là thư viện chuyên ngành
đặc biệt lưu trữ, phổ biến và cung cấp các thông tin chuyên ngành về quản lý, chính
sách, nghiên cứu dự báo khoa học và công nghệ. Với Khung phân loại tài liệu
chuyên ngành đặc biệt được xây dựng và hoàn thiện từ năm 1997. Viện đã dành cho
thư viện 4 phòng tại tòa nhà B với tổng diện tích sử dụng 200m
2
, gồm 1 phòng cho
mượn và 1 phòng đọc (1 phòng đọc tổng hợp, 1 phòng đọc báo, tạp chí và 1 phòng
đọc đa năng). Mỗi năm thư viện được bổ sung từ 400 – 500 cuốn sách chuyên
ngành về dự báo, chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, trên 40 loại báo
và tạp chí trong nước và nước ngoài.
Ngoài ra thư viện còn là địa chỉ thụ hưởng tài liệu từ Quỹ Châu Á và Thư
viện Quốc gia Việt Nam.
- Thông tin tư liệu trong và ngoài nước
Thư vi
ện Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN có khoảng 7.000 cuốn
sách chuyên ngành về chính sách, quản lý, dự báo KH&CN, (trong đó trên 2.500
nhiên, chính đội ngũ này đang rất cần bổ sung và cập nhật những kiến thức quản lý
KH&CN ở bậc học cao hơn để có thể tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn
cũng như giảng dạy trong lĩnh vực liên tục có những biến động lớn này.
Các thạc sĩ Chính sách KH&CN đã tốt nghiệp hơn hai mươi năm đang làm
nhiề
u việc khác nhau thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ là những đối tượng
đang có nhu cầu cấp thiết tiếp tục được đào tạo lên bậc tiến sĩ. Đây là một nhu cầu
rất lớn đòi hỏi Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, một cơ sở đào tạo lớn cần
có những chiến lược phù hợp đáp ứng kịp thời.
Bên cạnh đó, nguồ
n nhân lực được đào tạo đảm bảo tính khác biệt đối với
các chương trình đào tạo hiện nay ở trong nước. Dựa trên khối lượng kiến thức cơ
bản và chuyên ngành, Chương trình được thiết kế có tham khảo các đề án đào tạo
tương tự trong và ngoài nước, kết hợp hài hòa với phương pháp giảng dạy tích cực
theo dự án, tiến hành phân tích các tình huống nghiên cứu cụ thể (case-study) và
20
thực tập thực tế (field - trip).Với một kết cấu hiện đại chương trình sẽ tạo dựng cơ
hội cho nghiên cứu sinh tiếp cận kiến thức quản lý khoa học và công nghệ một cách
hệ thống và cơ bản, nâng cao kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình
huống trong thực tiễn.
Với nhu cầu về đào tạo như vừa trình bày, những nghiên c
ứu sinh được cấp
bằng Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN có khả năng đáp ứng những đòi hỏi
ngày càng cao hơn của việc lập kế hoạch, tổ chức, triển khai các hoạt động cũng
như tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu thuộc lĩnh vực chính sách, quản lý khoa
học và công nghệ trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay.
Tiến bộ khoa học và công nghệ cung cấp các c
ơ sở năng lực cạnh tranh quốc
tế và chiếm phần lớn sự tăng trưởng quốc gia và cải thiện chất lượng cuộc sống trên
Một trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định thì “Phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”(Sđd, tr.106) được
xem là khâu đột phá thứ hai.
Các nghiên cứu khoa học về chính sách KH&CN được thực hiện ở rất nhiều
quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Hàn
Quốc…Đặc biệt trong cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, với sự nổi lên của một số quốc
gia nhờ vào sự phát triể
n của khoa học và công nghệ như Hàn Quốc, Trung Quốc,
Nhật Bản đã gây ra những cú sốc cho các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ,
Đức… Họ đã thành lập các trung tâm nghiên cứu về chính sách phát triển khoa học
và công nghệ của các nước mới nổi. Từ đó rút ra các bài học cho chính bản thân họ,
khuyến cáo chính phủ cần có chính sách đổi mới trong hoạt động nghiên cứu khoa
học cũng như quản lý khoa học và công nghệ và từ
đó xây dựng các chiến lược phát
triển khoa học và công nghệ cho quốc gia.
Chính đó là lý do dẫn đến nhu cầu đào tạo những nhà khoa học có khả năng
nghiên cứu, phân tích, đánh giá và quản lý chuyên nghiệp trong lĩnh vực KH&CN.
Năm 1989 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 1539/QĐ-SĐH ngày
8/11/1989 về việc mở ngành đào tạo Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện
Quản lý Khoa học, nay là Viện Chiế
n lược và Chính sách KH&CN thuộc Bộ
KH&CN. Như vậy, tính đến nay Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là đơn vị
đầu tiên và lâu năm nhất đã có hơn 22 năm kinh nghiệm đào tạo sau đại học về
chuyên ngành chính sách KH&CN với số lượng hơn 148 thạc sĩ
2
.
Trước nhu cầu ngày càng cao về đào tạo chuyên gia có trình độ cao đáp ứng
yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước, Viện Chiến lược và Chính sách
KH&CN đã có hợp tác liên kết đào tạo với Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Học Viện Khoa học và Xã hội thuộc
Bảng 2. Đánh giá về mức độ cần thiết của kiến thức về chính sách khoa học và
công nghệ đối với công việc hiện tại của người được hỏi.
Mức độ cần Kiến thức về
chính sách KH&CN
Rất cần Cần Không cần Khác
Tổng 70 112 14 40
Tỷ lệ % 29.66 47.46 5.93 16.95
Qua số liệu bảng 2 chúng ta thấy, số người trả lời rất cần các kiến thức về
quản lý, chính sách KH&CN chiếm tỉ lệ rất cao 29,66%, số người cần kiến thức này
cũng chiếm tới 47,66%, qua đó chúng ta thấy gần 77% số người được hỏi đều coi
trọng và có nhu cầu cao về kiến thức về chính sách cũng như quản lý KH&CN.
Điều nay cho thấy Viện cần tích cự
c hơn nữa trong việc tổ chức các khoá học
truyền bá kiến thức về chính sách KH&CN và nhu cầu kiến thức về chính sách
KH&CN trong xã hội, đặc biệt là tại các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy và quản lý,
thực thi chính sách KH&CN là rất bức súc.
Số người được hỏi có nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính
sách KH&CN được thể hiện qua Bảng 3 sau đây.
Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạ
c sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN
Ý định học Ths TS CS KHCN
Tổng 85 47 40
Tỷ lệ % 36.02 19.92 16.95
Số liệu điều tra cho thấy số người có nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ trong
5-10 năm tới là rất lớn. Trong số 240 phiếu thu về có 36,02% số người trả lời có
nhu cầu học cao học, 19,92% số người được hỏi có nhu cầu tiếp tục làm nghiên cứu
sinh, đặc biệt trong số đó có 16,95% số người trả lời tương đương với 40 người trả
lời có nhu cầu làm nghiên c
ứu sinh (Tiến sĩ) chuyên ngành chính sách KH&CN.
như xã hội học, kinh tế học, lịch sử khoa học, khoa học quản lý,… Đến nay, bên
cạnh việc vẫn tồn tại các luận án về lĩnh vực chính sách KH&CN được bảo vệ trong
các lĩnh vực trên, nhiều nước đã có chương trình đào tạo tiế
n sỹ riêng về lĩnh vực
này với các tên gọi có thể khác nhau, ví dụ: “Chính sách KH&CN" ở Đan Mạch,
Thụy Điển, Anh ; “Kinh tế, quản lý tiến bộ khoa học - kỹ thuật” ở CHLB Nga,
Ukrain… và nhiều nước SNG.
II. Hiện trạng đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ
và Quản lý khoa học và công nghệ tại một số nước trên thế giới
1. Đào tạo Chính sách khoa học và công nghệ tại Hoa Kỳ
Tại Hoa kỳ có các địa chỉ sau tham gia đào tạo tiến sĩ về chính sách khoa học
và công nghệ:
Đại học Arizona State-Hiệp hội Khoa học, Chính sách và kết quả
Đại học Colorado, Trung tâm Nghiên cứu chính sách Khoa học và Công
nghệ
Đại học George Washington- Elliot Khoa học quốc tế và Chương trình chính
sách công
Đại học Harvard Kennedy -Khoa học, Công nghệ và Chương trình chính
sách công
Đại học Massachusetts, Amherst-Trung tâm chính sách công và Quản trị
25
Đại học Michigan, Ford Trường Chính sách công
Đại học Minnesota, Hubert H. Humphrey Học Viện Chính sách Công
Đại học Princeton-Woodrow Wilson trường công cộng và vấn đề quốc tế
Tại các trường đại học và học viện nghiên cứu tại Hoa kỳ, chính sách khoa
học và công nghệ được nằm trong ngành khoa học về chính sách công. Các nghiên
cứu sinh ngành chính sách công sẽ chọn chuyên ngành nghiên cứu về chính sách
khoa học và công nghệ hoặc trong ngành khoa học về chính sách.
2. Các nước Bắc Âu
(WTMC) đang cộng tác thường xuyên với các nhà nghiên cứu Hà Lan nghiên cứu
sự phát triển của khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại với các chương trình đào
tạo, nghiên cứu liên quan đến: phương thức thiết kế và tổ chức của KH&CN được
kết hợp với sự phát triển của các xã hội và nền văn hoá hiện đại, hợp lý hoá; Những