Vai trò của tổ chức xã hội dân sự trong hoạch định và thực thi chính sách khoa học và công nghệ - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN DƢƠNG THỊ KIỀU HƢƠNG VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ
TRONG HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH
SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
TRUNG ƢƠNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 603472


thân tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này. Tác giả luận văn
Dương Thị Kiều Hương
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHDS Xã hội dân sự
TNCS Thanh niên cộng sản
KH&CN Khoa học và Công nghệ
TNNT Thanh niên nông thôn
TNCN Thanh niên công nhân
CN,VC Công nhân, viên chức
BCH Ban chấp hành
CT-XH Chính trị-xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
CNH,HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

MỤC LỤC

CHƢƠNG II 47
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG UƠNG ĐOÀN TNCS HỒ
CHÍ MINH TRONG THAM GIA HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 47
2.1. Một số nét đặc điểm các tổ chức xã hội dân sự của Việt nam 47
2.2. Đặc điểm tính chất XHDS của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 49
2.2.1. Tính chất hai nhiệm vụ của Đoàn TNCS Hồ chí Minh 49
2.2.2. Tính tình nguyện của thanh niên Việt nam trong tổ chức xã
hội dân sự 51
2.2.3. Tính phi lợi nhuận trong tổ chức xã hội dân sự của thanh
niên 52
2.2.4. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ chức hoạt động vì mục
đích chung của tuổi trẻ xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ,
giàu mạnh, công bằng và văn minh
52

2.3. Bản chất về chức năng tổ chức xã hội dân sự của Trung ƣơng
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. 53
2.3.1. Bản chất về chức năng tổ chức XHDS của Trung ương Đoàn.
53
2.3.2. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ chức quần
chúng ngày càng thể hiện rõ nét là tổ chức hoạt động phi lợi nhuận.
55
2.4. Thực trạng hoạt động của Trung ƣơng Đoàn trong việc tham
gia hoạch định, giám sát và phản biện chính sách khoa học và công
nghệ. 57
2.4.1. Kết quả hoạt động trong tham gia xây dựng pháp luật và
chính sách về khoa học và công nghệ có liên quan đến thanh niên.
57
2.4.2. Kết quả hoạt động trong giám sát chính sách khoa học và

3.1.2. Những hạn chế trong việc tham gia góp ý xây dựng và phản
biện chính sách. 100

3.2. Những hạn chế trong chính sách sử dụng và phát triển nhân
lực khoa học và công nghệ của Trung ƣơng Đoàn 101
3.3. Những hạn chế trong công tác tuyền truyền, phổ biến và triển
khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu Khoa học và Công nghệ vào
thực tiễn. 102
3.3.1. Hạn chế trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách
Khoa học và Công nghệ. 103
3.3.2. Hạn chế trong triển khai và ứng dụng chính sách khoa học
và công nghệ. 104
CHƢƠNG IV 106
CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ TỔ CHỨC
XHDS CỦA TRUNG ƢƠNG ĐOÀN TRONG VIỆC THAM GIA
HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ 106
4.1. Nhóm giải pháp 1: Tham gia đề xuất và góp ý phản biện hoạch
định chính sách khoa học và công nghệ. 106
4.1.1. Giải pháp tham gia đề xuất chính sách khoa học và công
nghệ 106
4.1.2. Giải pháp tham gia góp ý, phản biện chính sách Khoa học và
Công nghệ 108
4.2. Nhóm giải pháp 2: Tăng cƣờng vai trò của Trung ƣơng Đoàn
trong tham gia thực hiện chính sách khoa học và công nghệ 109
4.2.1.Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính
sách khoa học và công nghệ trong các đối tượng thanh niên. 109
4.2.2 Giải pháp củng cố tổ chức và xây dựng nhân lực khoa học và
công nghệ tại Trung ương đoàn. 112
4.2.3. Giải pháp quản lý và triển khai ứng dụng các kết quả nghiên

trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân đã
được thực thi trên thực tế. Cuộc sống của nhân dân được cải thiện. Xã hội
dân sự có cơ hội và điều kiện để phát huy vai trò của mình trong cuộc cuộc
phát triển đất nước. Mọi người dân được tham gia một cách chủ động, tự giác
tích cực, thiết thực và đa dạng hơn vào các tổ chức xã hội vì nhu cầu, lợi ích
của chính bản thân người dân và cả cộng đồng trên cơ sở tuân theo pháp luật
và đạo lý của dân tộc Việt Nam. Nhưng để xây dựng và phát huy ngày càng
có hiệu quả vai trò của Nhà nước thì tất yếu phải xây dựng và phát huy mạnh
mẽ vai trò của XHDS trong tham gia hoạch định và thực thi các chính sách
kinh tế-xã hội, trong đó đặc biệt quan tâm đến chính sách khoa học và công
nghệ để phát triển đất nước trong xu thế hội nhập mạnh mẽ như hiện nay.
1.2. Thành phần, bản chất của tổ chức xã hội dân sự
Xã hội dân sự (XHDS) bao gồm các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước,
nằm ngoài các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình,
để liên kết người dân với nhau trong những hoạt động vì mục đích chung.

Thành phần quan trọng của xã hội dân sự là các Hội, hiệp Hội trong dân
chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng
1
. Lịch sử phát triển
của nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh rằng các tổ chức xã hội dân sự
ngày càng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội
của mỗi quốc gia.
Bản chất của xã hội dân sự đó là những tổ chức liên kết cộng đồng có
vai trò rất lớn trong việc thu hút, tập hợp cộng đồng cùng tham gia thực hiện
những hoạt động vì mục đích chung. Mục đích chung mà các tổ chức xã hội
dân sự hướng tới đó là đưa đến những kết quả thúc đẩy sự phát triển của Nhà
nước, xã hội, gia đình và bản thân. Với sự liên kết các thành viên trong tổ
chức của mình, xã hội dân sự có vai trò hỗ trợ và giúp đỡ người dân thực thi
luật pháp luật và phản ánh nguyện vọng của mình trong mục tiêu phát triển vì

Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu Chiến binh. Các tổ chức này có hệ thống
từ Trung ương đến cơ sở, hoạt động theo Điều lệ do Hội nghị toàn thể hoặc
Hội nghị Đại biểu các thành viên thông qua.
Tính đến thời điểm tháng 12/2005 ở Việt Nam có 400 Hội có phạm vi
hoạt động toàn quốc, 2150 Hội có phạm vi hoạt động cấp tỉnh và hàng chục
vạn hội có phạm vi hoạt động cấp quận, huyện, thị, xã mang tính chất các tổ
chức xã hội-nghề nghiệp, các Hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học, kỹ
thuật và công nghệ
2
.
Các tổ chức XHDS nằm trong hệ thống (chính trị-xã hội) này đang trở
thành đối tác quan trọng của Chính phủ và ngày càng khẳng định vai trò của
mình trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đặc biệt trong
công tác xoá đói giảm nghèo. Mục đích hoạt động chung của các tổ chức
chính trị-xã hội là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, góp
phần tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố

2
Báo cáo của Bộ nội vụ năm 2005.
Thể chế
Nhà nước
Thể chế thị
trường
Thể chế xã
hội dân sự

chính quyền nhân dân; giáo dục pháp luật cho các thành viên; phản ánh yêu
cầu, nguyện vọng của các thành viên, đoàn viên, hội viên; tham gia giám sát,
phản biện chính sách hoặc giám sát hoạt động của các cơ quan và cán bộ,

Xã hội dân sự là vấn đề không mới với thế giới, song ở Việt Nam đây là
vấn đề khá mới mẻ không chỉ cho những người bình thường mà kể cả những
nhà quản lý và các nhà khoa học. Vì vậy, để tổng quan lại những vấn đề
nghiên cứu, tác giả chưa có tham vọng nêu được nhiều vấn đề mà chỉ đi sâu
tìm hiểu các công trình, đề tài, luận văn khoa học mà một số tác giả trong và
ngoài nước đã đề cập đến vấn đề liên quan trực tiếp đến “XHDS và tổ chức xã
hội dân sự”.
2.1.Trên thế giới
Thế giới đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu về xã hội dân sự
ngay sau khi đại chiến thế giới lần thứ II kết thúc. Tuy nhiên, cách đây gần 30
năm, vào những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển của XHDS bùng nổ như
là một hiện tượng chính trị trong đời sống xã hội của nhiều nước và nhiều nhà
khoa học đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về xã hội dân sự, đặc biệt là đi
sâu nghiên cứu về bản chất, cấu trúc và các loại hình xã hội dân sự.
- Năm 1989, Daniel Bell đã đưa ra công trình nghiên cứu “Vai trò của
xã hội dân sự” (The role of civil Society). Trong công trình này, tác giả chủ
yếu phân tích các vai trò chủ yếu của xã hội dân sự trong đời sống xã hội lúc
bấy giờ.
- Năm 1990 Charles Taylor xuất bản cuốn sách “Các kiểu xã hội dân sự”
(Modes of civil Society)
- Năm 1991 Michael Waltzer có công trình nghiên cứu về “Ý tưởng của
xã hội dân sự” (The Idea of civil Society)
33
Đặng Ngọc Dinh-Vũ Duy Phú,Trần Chí Đức, Nguyễn Vi Khải, Xã hội dân sự, Một số vấn đề chọn lọc,
NXB Tri thức, Tr.51.

- Năm 1991-Edward Shils, có công trình nghiên cứu về “Những ưu điểm


4
Vũ Duy Phú-Đặng Ngọc Dinh, Sđd tr.152
5
Các diễn ngôn quốc tế về XHDS. Hội thảo “XHDS của VN trong thời kỳ hội nhập, HN 4/4/2008

sách. Vì vậy, chính sách được kỳ vọng là đem lại sự đồng thuận, hoà bình và
tốt lành cho tất cả mọi người.
+ Mô hình XHDS 3- Hậu hiện đại – lĩnh vực công.
Đây là mô hình xây dựng được quyền công dân thiết thực. Hoạt động
của XHDS và các tổ chức khác chủ yếu thông qua đối thoại và các cuộc tranh
luận dân chủ được mở rộng, không có mệnh lệnh của Nhà nước.
Đây là mô hình rất mới ở Việt Nam. Vai trò cơ bản của XHDS ở đây là
tạo ra sự chia sẻ chấp nhận nhau, thấu hiểu lẫn nhau và khoan dung giữa các
bên tham gia đối thoại.
2.2. Ở Việt Nam
Xã hội dân sự ở Việt nam xuất hiện từ rất sớm, song để nghiên cứu nó
chỉ trong thời gian gần đây mới xuất hiện một số công trình, đề tài và tham
luận khoa học về XHDS.
- Trước tiên phải kể đến một công trình nghiên cứu do PGS.TS Đặng
Ngọc Dinh và các cộng tác viên Viện Những vấn đề phát triển (VIDS) thực
hiện: “Đánh giá ban đầu về XHDS tại Việt Nam”. Công trình được sự hỗ trợ
của chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), các tổ chức phát triển
của Hà Lan tại Việt Nam và Liên minh thế giới vì sự tham gia của người dân
(CIVICUS). Công trình thực hiện trong 2 năm. Trên cơ sở phân tích bối cảnh
lịch sử của XHDS Việt Nam, các cấu trúc, môi trường, các giá trị và tác động
của XHDS, các tác giả đã đánh giá một số điểm mạnh, yếu của XHDS ở Việt
Nam.
Theo công trình này, điểm mạnh của XHDS ở Việt Nam là đã có cơ sở
pháp lý xây dựng XHDS từ những năm giữa của thế kỷ XX với những mô

giả rất quan tâm đến quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
trong việc phát triển các Hội, Hiệp hội. Tác giả nhấn mạnh thời gian tới Việt
nam có xu hướng phát triển tổ chức XHDS với mô hình tổ chức chính trị-xã
hội là phù hợp nhất.

6
Nguyễn Minh Phương-Tạp chí Triết học số 2 (177) tháng 2/2006

- Đinh Văn Ân TS kinh tế, Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương và Thạc sỹ Lương thị Minh Anh có bài viết: “Các tổ chức XHDS
trong hoạch định và thực thi chính sách kinh tế-xã hội tại Việt Nam
7
. Bài viết
đã phân tích, nhận dạng vai trò của các tổ chức XHDS trong quá trình hoạch
định và thực thi chính sách kinh tế-xã hội. Các tác giả đã phân tích 5 nội dung
hoạt động cơ bản của các tổ chức XHDS ở Việt Nam trong thời gian qua là:
+ Tham gia đóng góp, phản biện xã hội đối với các chính sách kinh tế-
xã hội của Nhà nước.
+ Giám sát, góp ý hoạt động của bộ máy Nhà nước và phẩm chất, hành
vi của công chức.
+ Tham gia vào việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội.
+ Cung cấp dịch vụ công.
+ Cầu nối quan trọng cho quá trình mở cửa hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, các tác giả cũng thấy điểm hạn chế của các tổ chức này là
vai trò trong tham gia hoạch định, phản biện các chính sách còn mang tính
hình thức, còn quan tâm nhiều hơn đến những chính sách nằm trong quyền lợi
và hoạt động của mình.
- Tại cuộc hội thảo “Vai trò của các Hiệp hội trong phát triển XHDS ở
Việt Nam - Một số định hướng nghiên cứu”
8

thi các chính sách kinh tế-xã hội, trong đó đặc biệt quan tâm đến chính sách
KH&CN. Đây chính là khoảng trống trong nghiên cứu về vai trò của tổ chức
xã hội dân sự của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong tham gia hoạch định và
thực thi chính sách KH&CN mà luận văn cần tập trung khai thác để phát huy
tiềm năng của thanh niên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Phân tích làm rõ vai trò của Trung ương Đoàn trong tham gia hoạch
định và thực thi chính sách Khoa học và Công nghệ.
3.2. Làm rõ những bất cập và hạn chế trong việc tham gia hoạch định và
thực thi chính sách Khoa học và Công nghệ.

3.3. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy vai trò của Trung ương Đoàn trong
tham gia hoạch định và thực thi chính sách Khoa học và Công nghệ.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là một tổ chức chính trị - xã hội
của thế hệ trẻ với hai chức năng cơ bản đó là chức năng Nhà nước thông qua
hoạt động chính trị của thanh niên để thực hiện các nhiệm vụ của Đảng và
Nhà nuớc và chức năng xã hội để phát huy vai trò xã hội trong thanh niên.
Trong phạm vi một luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vai trò tổ
chức xã hội dân sự của Trung ương Đoàn ở khía cạnh chức năng xã hội dân
sự trong việc tham gia hoạch định và thực thi chính sách Khoa học và Công
nghệ. Cụ thể :
- Nghiên cứu khía cạnh tham gia hoạch định chính sách KH&CN
- Nghiên cứu khía cạnh thực thi và phản biện chính sách KH&CN
- Phạm vi thời gian: Thời gian từ năm 2000 đến nay
5. Mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát sẽ được thực hiện trong các đơn vị phòng, ban có tham
gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh. Cụ thể: Viện Nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm phát triển Khoa học -

thể từng khía cạnh. Phân tích các dữ liệu cần thiết để làm rõ vai trò là một tổ
chức xã hội dân sự của Trung ương Đoàn trong việc hoạch định và thực thi
chính sách KH&CN.
+ Loại tài liệu được sử dụng để phân tích:
- Các đề tài khoa học, sách, báo, tạp chí, kỷ yếu, tài liệu tham khảo các
báo cáo hàng năm về hoạt động KH&CN của Trung ương Đoàn.

- Các văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về XHDS và xây
dựng xã hội dân sự ở Việt nam.
+ Phương thức tiến hành:
Tra cứu, đọc và phân tích tài liệu tại Thư viện Quốc gia, Viện Những
vấn đề phát triển, tại Trung tâm phát triển khoa học công nghệ và Tài năng trẻ;
Viện Nghiên cứu Thanh niên, Học viện Thanh Thiếu Niên Việt nam- Trung
ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tìm kiếm trên mạng Internet.
8.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
+ Phỏng vấn sâu tìm hiểu bản chất vấn đề
Đây là đề tài nghiên cứu về vai trò tổ chức xã hội dân sự của Trung ương
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong việc tham gia hoạch định và thực hiện chính
sách Khoa học và Công nghệ. Chính vì vậy, đề tài sẽ tập trung khai thác sâu các
cuộc trả lời phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu bản chất vấn đề đó là khai thác khía
cạnh XHDS của một tổ chức đại diện cho thế hệ trẻ trong tham gia hoạch định
và thực hiện chính sách KH&CN. Thời gian qua, Trung ương Đoàn đã tiến hành
được những hoạt động nào trong việc hoạch định và thực thi chính sách khoa
học và công nghệ có liên quan đến thanh niên. Lý giải những nguyên nhân dẫn
đến hạn chế trong hoạch định và thực thi chính sách khoa học và công nghệ.
Những thông tin thu được rất có giá trị để sử dụng trong quá trình phân tích và
viết báo cáo.
+ Phương thức tiến hành:
- Thiết kế 2 loại mẫu phỏng vấn sâu dành cho 2 đối tượng: Một dành cho
cán bộ quản lý khoa học và công nghệ, các thành viên Hội đồng khoa học, các

động, tích cực tham gia hoạch định các chính sách có liên quan đến thanh
niên, đặc biệt là chính sách khoa học và công nghệ.

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và công tác chỉ đạo của Trung ương
Đoàn đối với hoạt động khoa học và công nghệ.
Phần II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm xã hội dân sự và các tổ chức xã hội dân sự
1.1.1. Khái niệm “Xã hội dân sự”
Xã hội dân sự là một khái niệm được xuất hiện rất sớm ở nhiều nước
trên thế giới, nhất là các nước châu Âu vào khoảng 1400. Trong nghĩa ban
đầu, xã hội dân sự (XHDS) cùng nghĩa với xã hội công dân, sự hình thành và
phát triển XHDS đánh dấu một bước tiến trong cách tổ chức xã hội, bao gồm
các thiết chế công quyền, các công dân, các luật lệ và các quy tắc nhà nước
của đời sống xã hội
9
. Sau đó trong một số lý thuyết như lý thuyết của các nhà
triết học Scottish (ở thế kỷ thứ XVIII) thì cho rằng “XHDS có nghĩa là xã hội
văn minh với một nhà nước không độc đoán”. Đến thế kỷ thứ XIX, ở nước
Đức, Hêghen cho rằng: XHDS là những tổ chức phân biệt với nhà nước.
Hêghen mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu
tố gia đình, xã hội và Nhà nước, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích
riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận.
Ở nước ta theo một số nhà nghiên cứu thì vào những năm 90 của thế kỷ XX

người dân. XHDS là tổ chức của những người tuân theo pháp luật nhà Nước,
tuân theo quy luật thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác
tính nhân văn, tính cộng đồng
11

Tiến sĩ kinh tế Đinh Văn Ân và thạc sĩ Lương Thị Minh Anh (Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương) thì cho rằng: “Tổ chức xã hội dân sự
là tổ chức của những người cùng sở thích, cùng nghề nghiệp hay cùng chính
kiến, tự nguyện tập hợp và hoạt động hướng đến bảo vệ lợi ích chung cho các
thành viên”. Cũng có ý kiến cho rằng xã hội dân sự là “Diễn đàn giữa gia đình,
Nhà nước và thị trường, nơi mà mọi người bắt tay nhau thúc đẩy quyền lợi
chung.”
12

Trong bài viết “Xã hội dân sự”: “Khái niệm và các vấn đề”, PGS-TS
Bùi Quang Dũng-Phó viện trưởng Viện Xã hội học đưa ra khái niệm:
“XHDS” được tạo lập bởi các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền

11
PGS.TS Đặng Ngọc Dinh-XHDS-bản chất, cấu trúc và xu h ướng phát triển ở nước ta. Bài tham luận t ại
Hội thảo về “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về XHDS”, Viện nghiên cứu khoa học, Bộ Nội vụ, Hà Nội,
2007
12
Tạp chí quản lý kinh tế-Các tổ chức XHDS trong hoạch định và thực thi chính sách kinh tế-xã hội tại
VN,tr/3

lợi hiện đại như công đoàn và các đoàn thể có tính chuyên nghiệp và những tổ
chức truyền thống dựa trên mối quan hệ họ hàng, dân tộc, văn hoá và khu vực
giũa các tổ chức chính thức và phi chính thức, những đoàn thể tự nguyện làm
việc vì quyền lợi chung. Nói một cách đơn giản, các tổ chức xã hội dân sự là


Đặc trưng cơ bản của “XHDS” bao gồm:
- Tinh thần cộng đồng
- Tính tự nguyện của các thành viên
- Tính phi lợi nhuận
- Hoạt động vì một mục đích chung
Tuy nhiên, khi nghiên cứu về XHDS ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu
quốc tế và cả Việt Nam rất lúng túng khi phân loại các tổ chức XHDS ở Việt
Nam vì có một tiêu chí rất khó áp dụng đó là tiêu chí “độc lập với nhà nước”
để xác định tổ chức XHDS. Điều đó được thể hiện ở không ít các tổ chức xã
hội, kể cả các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam đều có vấn đề là một số hoặc
một ít thành viên, hội viên của tổ chức đó phụ thuộc vào nguồn lực của Nhà
nước cả về tài chính và nhân lực (ví dụ: Người đứng đầu tổ chức đó được Nhà
nước bổ nhiệm và ăn lương Nhà nước, hoặc nguồn kinh phí hoạt động của tổ
chức đó được Nhà nước cung cấp). Trong đó nổi bật nhất là hệ thống tổ chức
xã hội dân sự theo kiểu chính trị - xã hội (Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Đoàn
TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Tổng liên đoàn Lao
động Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân…)

Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, khái niệm XHDS là tổ chức dân
sự nằm ngoài Nhà nước, ngoài thị trường và ngoài gia đình thì tiêu chí “nằm
ngoài” này cũng chỉ mang tính tương đối mà thôi.
Từ những nội dung của các khái niệm về XHDS phân tích ở trên, tác
giả luận văn cho rằng bản chất cơ bản của XHDS trong bối cảnh hiện nay ở
Việt Nam có thể được khái niệm một cách chung nhất là: XHDS bao gồm tất
cả các tổ chức xã hội được hình thành theo nguyên tắc tự nguyên, tự quản
trong khuôn khổ đạo lý và pháp lý, hoạt động một cách tương đối độc lập với
nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của mỗi thành viên và của toàn xã hội.
1.1.2.Khái niệm tổ chức xã hội dân sự
Các tổ chức XHDS thường được hình thành trên cơ sở các nhóm lợi ích,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status