ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------
LÊ QUỐC HÙNG
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ
HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------
LÊ QUỐC HÙNG
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ
HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Lê Quốc Hùng
Giới tính: Nam
Ngày sinh: 30/6/1991
Nơi sinh: Thanh Hóa
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hoàng Liên
Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu sự tham gia của một số tổ chức
xã hội dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”
1
MỞ ĐẦU
Trong thời gian gần đây, rất nhiều tổ chức xã hội dân sự
(XHDS) đã hình thành và hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường (BVMT) ở Việt Nam. Họ đã chung sức cùng với Nhà nước
tham gia quá trình giám sát, BVMT. Luật Bảo vệ Môi trường được
Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 đã có bước tiến lớn khi dành
riêng Chương 15 quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề
nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác BVMT. Nghị định số
19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ Môi trường dành riêng Chương 8 quy định về cộng đồng dân cư
tham gia BVMT, và Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định các nội
dung về tham vấn cộng đồng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch,
chiến lược bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường. Những
văn bản pháp luật này mở ra cơ hội để sự tham gia của cộng đồng và
các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT được cụ thể hóa bằng hành
+ Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò và sự tham gia của các tổ
chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự
Theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, tổ
chức xã hội dân sự (CSO) là tổ chức của những người hoạt động phi
nhà nước không nhằm mục tiêu lợi nhuận cũng như tìm kiếm quyền
lực quản lý. Các tổ chức XHDS đoàn kết mọi người nhằm thúc đẩy
các mục tiêu và lợi ích chung. Các tổ chức này hiện diện trong đời
sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích và giá trị của các thành viên
trong tổ chức hoặc của những người khác, và thành lập dựa trên cơ
sở đạo đức, văn hóa, tôn giáo hoặc từ thiện.
Tổ chức XHDS bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO),
hiệp hội nghề nghiệp, quỹ, viện nghiên cứu độc lập, tổ chức cộng
đồng (CBOs), tổ chức tín ngưỡng, tổ chức nhân dân, phong trào xã
hội và công đoàn.
1.2. Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt
động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt
động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam gắn liền với lịch sử hình
thành và phát triển của các tổ chức XHDS nói chung. Có thể chia
làm 3 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Gắn liền với xã hội truyền thống
- Giai đoạn 2: Thời kỳ trước đổi mới (1986)
4
tổ chức khoa học – công nghệ ngoài Nhà nước. VUSTA tập hợp,
đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; điều hoà, phối hợp
hoạt động của các hội thành viên trong nhiều lĩnh vực, trong đó có
hoạt động BVMT.
- CPSE là một tổ chức phi chính phủ (NGO) chuyên thực
hiện những dự án nghiên cứu, phát triển bền vững và BVMT cho
đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo vùng trung du, miền núi phía
Bắc.
- ENV là tổ chức xã hội hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực
bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ các loài động vật hoang dã (ĐVHD).
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Sự tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực
BVMT ở Việt Nam, cụ thể là 3 tổ chức VUSTA, CPSE và ENV.
6
- Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức VUSTA,
CPSE, ENV khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức
VUSTA, CPSE và ENV trong lĩnh vực BVMT.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu
Thu thập, tổng quan tài liệu, kế thừa kết quả liên quan đến
vấn đề cần nghiên cứu dựa trên những báo cáo khoa học trong và
ngoài nước, các tài liệu, ấn phẩm, báo cáo dự án về BVMT do
VUSTA, CPSE, ENV cung cấp.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ của các tổ
chức CPSE, ENV, VUSTA để thu thập thêm thông tin.
- Phương pháp phân tích tổng hợp
2
3
4
5
Hoạt động
Phát hiện, tố giác vi phạm về
BVMT
Kiểm tra, giám sát môi trường
Phản biện xã hội về môi trường
Tư vấn, vận động chính sách về
môi trường
Đào tạo, phổ biến, tuyên truyền
về BVMT
8
ENV
CPSE
VUSTA
+ Mức độ hiểu biết pháp luật về bảo vệ ĐVHD của nhiều người dân
và cơ sở kinh doanh còn hạn chế.
9
+ Người dân và tình nguyên viên gặp khó khăn trong việc nhận dạng
các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm.
+ Do số lượng tình nguyện viên quá đông nên ENV gặp không ít khó
khăn trong việc điều phối người đi khảo sát hàng tháng
+ Nhiều cuộc triển lãm, sự kiện về bảo vệ ĐVHD không thuê được
địa điểm.
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi
trường (CPSE)
- Thuận lợi
+ Sự hiểu biết văn hóa dân tộc, kiến thức truyền thống của các dân
tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc như người H'Mông, Dao, Tày…là
thế mạnh của CPSE để cung cấp đầu vào kỹ thuật và tổ chức có hiệu
quả trong các dự án BVMT.
+ Dự án BVMT được cơ quan chức năng địa phương ủng hộ, có sự
đóng góp từ phía địa phương, đảm bảo tính bền vững về mặt môi
trường trong toàn bộ quá trình dự án
+ Cộng đồng địa phương được tham gia vào mọi mặt của dự án, bao
gồm cả quá trình ra quyết định. Các mục tiêu và kết quả dự kiến về
BVMT đều có thể đạt được và có tác động lâu dài.
+ Các dự án BVMT của CPSE giúp người dân có cơ hội tiếp xúc với
chính sách BVMT theo nhiều chiều từ dự án.
- Hạn chế, khó khăn
10
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghê, BVMT và ứng phó với
biến đổi khí hậu.
+ Các tổ chức thành viên của VUSTA có mặt ở tất cả các tỉnh thành
trong cả nước và tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng nên việc tuyên
truyền, vận động cộng đồng tham gia hoạt động BVMT mang lại
nhiều hiệu quả.
+ Hoạt động bảo vệ môi trường của VUSTA phong phú, có tính liên
ngành và đa dạng.
+ Nguồn tài trợ của VUSTA khá đa dạng bao gồm: ngân sách sự
nghiệp môi trường, quyên góp từ khu vực tư nhân, nhà tài trợ quốc
tế, tiền bán hàng hóa, phí dịch vụ.
+ VUSTA luôn coi trọng và tăng cường mối quan hệ hợp tác với các
bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương và các cơ quan khác.
VUSTA là đối tác có uy tín đối với nhiều tổ chức quốc tế, tham gia
tích cực vào công tác ngoại giao nhân dân của Nhà nước.
- Hạn chế, khó khăn
+ Số lượng tổ chức thành viên của VUSTA tuy có phát triển về số
lượng nhưng thiếu thống nhất, chất lượng và hiệu quả hoạt động còn
hạn chế, phương thức hoạt động chậm đổi mới. Nhiều tổ chức gặp
khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động.
12
+ Công tác đào tạo, nâng cao năng lực tổ chức, quản lý hội, hỗ trợ
hoạt động chuyên môn về tư vấn, phản biện và giám định xã hội,
khoa học, công nghệ và môi trường, phổ biến kiến thức,…của Liên
hiệp Hội Việt Nam đối với các hội thành viên còn chưa được quan
tâm đúng mức, đặc biệt là đối với các hội thành viên mới gia nhập
VUSTA.
+ Hoạt động tư vấn, phản biện về môi trường của các hội thành viên
tuyên truyền. Hỗ trợ nhà báo trong việc tiếp cận với các nhà lãnh đạo
và thông tin về các vụ việc xử lý vi phạm thành công.
- Cần gia tăng những tham vấn có hiệu quả đối với các nhà hoạch
định chính sách về bảo tồn ĐVHD, tăng cường tính hiệu quả của
hoạt động giám sát, BVMT.
- Nâng cao năng lực hoạt động của các tình nguyện viên bằng các
khóa tập huấn, đào tạo. Đội ngũ tình nguyện viên sẽ có nhiều đóng
góp trong việc tuyên truyền bảo vệ ĐVHD cho người thân và những
người xung quanh.
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi
trường (CPSE)
- Do hiện tại CPSE chưa có trang web riêng và ấn phẩm xuất bản
định kỳ, nên trước mắt trung tâm có thể quảng bá hình ảnh, giới thiệu
tổ chức, chia sẻ kinh nghiệm BVMT với các NGO khác và nhà tài
14
trợ thông qua những diễn đàn về môi trường, hoặc trang mạng xã
hội.
- CPSE có thể nâng cao năng lực về BVMT cho cán bộ bằng cách tự
tổ chức các khóa tập huấn và đào tạo, hoặc cử cán bộ tham dự khóa
học về BVMT được tổ chức bởi các nhóm, mạng lưới phi chính phủ
Việt Nam như: Nhóm hợp tác Phát triển (CDG), Nhóm các Tổ chức
Phi chính phủ Việt Nam (VNGOG), Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái
Nhân văn Vùng cao (CHESH), Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ
Việt Nam và biến đổi khí hậu (VNGO&CC). Đồng thời, các cán bộ
phải chủ động vươn lên học hỏi dưới sự hướng dẫn, chia sẻ kinh
trình độ chuyên môn và lòng nhiệt tình, trách nhiệm để đưa ra những
ý kiến tư vấn, phản biện và đóng góp xây dựng chính sách BVMT
mang tính khoa học, độc lập và có chất lượng. Thiết lập mối quan hệ
hợp tác với cơ quan Nhà nước, đặc biệt là những cơ quan thuộc đối
tượng đặt yêu cầu tư vấn, phản biện.
- Tiến hành thêm những dự án nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa
học – công nghệ vào sản xuất, đời sống kết hợp với BVMT.
- Đa dạng hóa hoạt động giáo dục, đào tạo, truyền thông về thực thi
các chính sách pháp luật liên quan đến BVMT cho người dân và cán
bộ chức năng.
- Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong lĩnh vực phát triển
bền vững và BVMT.
16
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Thời gian gần đây, đi đôi với quá trình phát triển kinh tế thì
Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đã và đang phải đối mặt
với nhiều vấn đề môi trường và suy thoái tài nguyên thiên nhiên.
Công tác BVMT đã thu hút được sự quan tâm của xã hội. Bên cạnh
nỗ lực của các cơ quan quản lý Nhà nước thì sự tham gia của cộng
đồng và các tổ chức XHDS có ý nghĩa rất quan trọng.
Các tổ chức XHDS ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực
BVMT bắt đầu hình thành và phát triển từ nửa đầu thập niên 1990 và
phát triển mạnh mẽ nhất từ năm 2000 đến nay. Những tổ chức này
được ví như “cánh tay nối dài” của Nhà nước, có kết nối mạnh mẽ
với cộng đồng và do đó có thể đóng vai trò như là một cầu nối giữa
Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong công tác BVMT.
Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA),
- Đối với tổ chức CPSE
+ Cần tập trung vào tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa lĩnh vực
ưu tiên, tìm ra sứ mệnh của tổ chức trong lĩnh vực BVMT. Xây dựng
18
những dự án, hoạt động, chương trình gắn liền với quá trình hoạch
định chính sách của Nhà nước và địa phương.
+ Liên kết với các tổ chức XHDS khác thành một mạng lưới để dễ
dàng chia sẻ thông tin, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, phối hợp với
nhau thực hiện các dự án BVMT.
+ Cần tăng cường hợp tác với khu vực tư nhân, khuyến khích sự
tham gia của khu vực tư nhân.
+ Xây dựng mối quan hệ tin tưởng, hợp tác với những chủ thể hoạch
định và thực thi chính sách, bao gồm tổ chức và cá nhân đại diện cho
Nhà nước.
+ Thực hiện những nghiên cứu độc lập, cung cấp luận cứ khoa học
vững chắc, thuyết phục cho hoạt động tư vấn, vận động chính sách
liên quan đến môi trường.
+ Nâng cao năng lực BVMT cho cán bộ của trung tâm, tổ chức các
đợt tập huấn, đào tạo đội ngũ giảng viên, tuyên truyền viên, cộng tác
viên hiểu biết về môi trường và quyền môi trường.
- Đối với tổ chức VUSTA
+ Củng cố và phát triển hệ thống tổ chức VUSTA vững mạnh ở cả
Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đổi mới
nội dung và phương thức hoạt động nằm tập hợp, đoàn kết rộng rãi,
thu hút trí thức tham gia các hoạt động BVMT.
19
2. CIVICUS (2006), Xã hội dân sự đang nổi: đánh giá ban đầu về xã
hội dân sự tại Việt Nam, Hà Nội.
3. Trần Thị Giang, Tạ Thùy Linh (2015), “Vai trò của giám sát xã
hội đối với hoạt động bảo vệ môi trường”, Tạp chí Môi trường, số
1+2/2015, Viện Khoa học Môi trường.
4. Đinh Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thành Lợi, Nguyễn Thị Minh Hiền,
Vũ Thị Phương Thảo (2011), Hình ảnh các tổ chức xã hội dân sự
trên một số báo in và báo mạng, ISEE, NXB Thế Giới.
5. Trần Đình Hoan (2006), Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống
chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và chủ động hội nhập quốc tế, Báo cáo kết quả nghiên
cứu của các đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.10
6. Trương Quang Học (2011), Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến
đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
21
7. Vũ Thị Hiền (2012), Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong
phát triển bền vững, Bản tin FSSP, sô 34-35 tháng 7/2012, tr 13-14
8. Nguyễn Đắc Hy (2011), Môi trường và con đường phát triển,
NXB Công an Nhân dân.
9. Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Ngọc Lâm (2014), Bộ nguyên tắc
thực hành cho các tổ chức xã hội Việt Nam khi tham gia đóng góp
xây dựng chính sách, Trung tâm nghiên cứu quản lý và phát triển bền
vững (MSD)
10. Ngân hàng Phát triển Châu Á (2008), Tài liệu cơ bản về Tổ chức
Xã hội Dân sự: Tài liệu hướng dẫn nhân viên về hợp tác với các tổ
chức xã hội dân sự, Mandaluyong, Philippines.
11. Hoàng Văn Nghĩa (2011), Vai trò và hoạt động của các tổ chức