ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
LÊ THỊ THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG
QUÁ TRÌNH TƢ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ (NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG LIÊN HIỆP CÁC
HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Dinh
Hà Nội, 2016
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do nghiên cứu: ...............................................................................................1
2. Tóm tắt lịch sử nghiên cứu: ...............................................................................1
3. Mục tiêu nghiên cứu ...........................................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu: ...........................................................................................3
5. Mẫu khảo sát: .....................................................................................................3
6. Câu hỏi nghiên cứu: ...........................................................................................4
7. Giả thuyết nghiên cứu:.......................................................................................4
1.3.1. Khái niệm chính sách ..............................................................................18
1.3.2. Khái niệm khoa học và công nghệ .........................................................18
1.3.3. Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển xã hội……...21
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THAM GIA VÀO QUÁ TRÌNH TƢ VẤN,
PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TỔ
CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRỰC THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA
HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM .......................................................................24
2.1. Vài nét về Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ................24
2.2.
Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ........................................................................25
2.2.1. Bản chất và sự phát triển .......................................................................25
2.2.2. Lĩnh vực hoạt động .................................................................................27
2.2.3. Cơ sở vật chất ..........................................................................................28
2.2.4. Nhân lực của các tổ chức XHDS............................................................29
2.3. Hoạt động tƣ vấn, phản biện chính sách khoa học và công nghệ của các
tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam ..............................32
2.3.1. Nhận thức ................................................................................................32
2.3.2. Lý do tham gia hoạt động tư vấn, phản biện chính sách khoa học và
công nghệ ...........................................................................................................33
2.3.3. Những lĩnh vực tham gia tư vấn, phản biện ..........................................34
2.3.4. Loại hình chính sách tham gia tư vấn, phản biện .................................35
2.3.5. Phương thức thực hiện ...........................................................................36
2.3.6. Khả năng phối hợp với các cơ quan nhà nước ......................................37
2.3.7. Khả năng phối hợp với các tổ chức ngoài nhà nước .............................40
2.3.8. Khả năng phối hợp, tiếp cận thông tin và truyền tải thông điệp đến các
cơ quan có thẩm quyền .....................................................................................44
trò của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách khoa
học và công nghệ (Nghiên cứu hệ thống Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam)”.
Để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đặng
Ngọc Dinh - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này với sự chỉ bảo
nhiệt tình, sâu sát.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo thuộc
khoa Khoa học Quản lý - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội và các thầy, cô giáo trong trường cũng như Ban Giám hiệu nhà
trường đã tạo môi trường học tập, nghiên cứu bổ ích, thiết thực cho các học viên,
nhiệt tình giúp đỡ các học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Bên cạnh đó, xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các chuyên gia, đồng
nghiệp và bạn bè trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Thủy
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHDS:
Xã hội dân sự
TV,PB:
Tư vấn, phản biện
KH&KT:
Biểu 2.12: Nguồ n tài chiń h từ ngân sách nhà nước ...............................................48
Biểu 2.13: Nguồ n tài chính từ các đa ̣i sứ quán các nước ......................................48
Biểu 2.14: Nguồ n tài chính từ các tổ chức hơ ̣p tác chính thức ..............................49
Biểu 2.15: Nguồ n tài chiń h từ các tổ chức phi chin
́ h phủ nước ngoài ..................49
Biểu 2.16: Số lượng dự án TVCS và giá trị viện trợ theo lĩnh vực .......................53
Biểu 2.17: Hình thức truyền thông của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN ..56
trong hoạt động TV,PB chính sách KH&CN ........................................................56
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt
Nam
...............................................................................................................27
Bảng 2.2: Nhân lực của các tổ chức KH&CN ngoài công lập ..................................29
Bảng 2.3: Trình độ của những người có vai trò quan trọng trong hoạt động TV, PB
của mỗi tổ chức .........................................................................................................31
Bảng 2.4: Cơ quan công tác của những người có vai trò quan trọng trong hoạt động
TV, PB ngay trước khi về tổ chức ............................................................................31
Bảng 2.5: Lý do tham gia thực hiện hoạt động TV,PB chính sách KH&CN ...........33
Bảng 2.6: Các lĩnh vực chính sách có sự tham gia TV, PB của các tổ chức XHDS
trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam...........................................................................34
Bảng 2.7: Loại hình chính sách KH&CN do các tổ chức XHDS trực thuộc ............36
Bảng 2.8: Phương thức thực hiện TV,PB chính sách KH&CN của các tổ chức
XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam ...............................................................37
Bảng 2.9: Số lượng dự án TV,PB chính sách và giá trị viện trợ so với tổng số dự án
và tổng giá trị viện trợ ...............................................................................................51
Bảng 2.10: Số lượng dự án Tư vấn chính sách và giá trị viện trợ theo lĩnh vực ......52
KH&CN và kinh tế-xã hội đất nước.
2. Tóm tắt lịch sử nghiên cứu:
Xã hội dân sự là một chủ đề rất được quan tâm trong những năm gần đây, đã
có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như:
- Các tác phẩm, bài viết đã đề cập đến sự hình thành và phát triển, vị trí, vai trò của
các tổ chức XHDS đối với sự phát triển của đất nước nói chung bao gồm:
1
+ Đặng Ngọc Dinh (2013), Các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam: Vai trò và sự
tham gia trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước thời kỳ 1991-2012, Bài
trình bày tại Hội thảo “Lựa chọn lý luận cánh tả - so sánh quốc tế về kinh nghiệm
của 4 nước xã hội chủ nghĩa”, tổ chức bởi Quỹ Rosa Luxemburg, Cộng hòa Liên
bang Đức và Trung tâm CEPSTA, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội;
+ Đinh Thị Thuý Hằng (2013), Báo cáo nghiên cứu hình ảnh tổ chức xã hội dân sự
trên báo chí Việt Nam;
+ Irene Norlund, Đặng Ngọc Dinh và các cộng sự (2005-2006), Đánh giá nhanh Xã
hội dân sự ở Việt Nam, dự án nghiên cứu được hỗ trợ bởi UNDP Việt Nam;
+ Ngân hàng phát triển Châu Á ADB (2011), Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự Việt Nam;
+ Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2010), Vai trò của các tổ chức xã hội:
Đối với phát triển và quản lý xã hội., Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
+ Nguyễn Minh Phương (2006), Vai trò của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay,
Tạp chí Triết học (số 2), tr.177;
+ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (2011), Hình ảnh các tổ chức xã
hội dân sự trên báo in và báo mạng, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội;
- Các tác phẩm, bài viết đã chỉ ra được sự đóng góp của các tổ chức XHDS trong
quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam nói chung:
+ Trung tâm nghiên cứu và phân tích chính sách (2011), Sự đóng góp của các tổ
chức chính trị-xã hội trong quá trình hoạch định chính sách ở Việt Nam, Nhà xuất
này nhằm góp phần hoàn thiện chính sách KH&CN và Kinh tế-xã hội của đất nước.
4. Phạm vi nghiên cứu:
-
Phạm vi nội dung:
Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Thực trạng tham gia vào quá trình TV,PB chính sách KH&CN của các tổ chức
XHDS tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các tổ chức thuộc Liên hiệp các Hội
KH&KT Việt Nam.
-
Phạm vi thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ khi có Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 về hoạt động TV,PB
của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam đến nay.
5. Mẫu khảo sát:
Các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc LHHVN.
3
6. Câu hỏi nghiên cứu:
Các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam (chủ yếu là các tổ chức KH&CN ngoài
công lập trực thuộc LHHVN) hiện nay tham gia vào quá trình tư vấn, phản biện
chính sách KH&CN như thế nào? Vai trò thực chất của các tổ chức này?
7. Giả thuyết nghiên cứu:
Các tổ chức XHDS ở Việt Nam hiện nay tham gia vào quá trình TV,PB chính
sách KH&CN còn thụ động và hạn chế cả về số lượng và chất lượng, đồng thời còn
gặp những khó khăn, bất cập từ hệ thống chính sách.
KH&CN của các tổ chức KH&CN tại Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam
Chương 3. Phân tích, đánh giá vai trò và đề xuất giải pháp thúc đẩy các tổ
chức xã hội dân sự thuộc LBHVN trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách
KH&CN
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ
HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH TƢ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. Xã hội dân sự
1.1.1. Khái niệm xã hội dân sự
Xã hội dân sự là thuật ngữ được xem xét và định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau trong lịch sử tư tưởng, chính trị, pháp lý thế giới, và hiện nay nó được tiếp cận
dưới những góc độ và bình diện rất khác nhau (kể cả trên thế giới và ở Việt Nam).
Xét nội hàm cơ bản của thuật ngữ, XHDS ở phương Tây có nguồn gốc từ đời
sống xã hội ở Hy Lạp cổ đại: các polis Hy Lạp cổ và các đô thị La Mã cổ với những
“công dân tự do” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử. Thuật ngữ XHDS, theo tiếng
Hy Lạp là koinonia politiké (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civil society và
trong tiếng Nga: grazhdanskoe obchtsestvo, có khi nó được dịch thành xã hội công
dân để nhấn mạnh đến vị trí của các công dân trong xã hội).
Khái niệm XHDS xuất hiện khá sớm ở châu Âu. Các định nghĩa phổ biến về
XHDS hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc tập
hợp thành các nhóm, hội, câu lạc bộ,... nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá
trị của mình. Khái niệm XHDS xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được
hiểu là những con người sống trong cộng đồng. Sau đó, khái niệm này được tiếp cận
dưới hai góc độ khác nhau. Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ
đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo
hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức hội quần chúng được
thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong
khuôn khổ pháp luật”. Chủ trương này của Đảng đã được triển khai trong thực tế,
trước hết là về phương diện nghiên cứu lý luận. Nhiều công trình nghiên cứu khoa
học, nhiều chuyên khảo, bài viết đã đề cập đến vấn đề XHDS. Và thực tế những
năm gần đây ở Việt Nam, các tổ chức chính trị- xã hội và đoàn thể xã hội, hội nghề
nghiệp, v.v. đã được thành lập, có hình thức và chức năng tương ứng phần nào như
các tổ chức thuộc XHDS ở phương Tây.
Nguyễn Như Phát trong bài Xã hội dân sự và xây dựng xã hội dân sự ở Việt
Nam hiện nay, cho rằng, “khái niệm xã hội dân sự được xem xét trên hai bình diện,
bình diện về một khu vực, một môi trường xã hội được thiết kế và vận hành không
có yếu tố nhà nước …đó là khu vực dân sự (nhằm để phân biệt với khu vực quân
7
sự, tức là khu vực có sự can thiệp của nhà nước)…ở bình diện thứ hai, khái niệm
dân sự (civil) được hiểu là khái niệm văn minh”2. Theo logic đó thì không phải tất
cả những tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước đều là văn minh, cho nên đều không
được nhìn nhận như một thành tố của XHDS. Theo Nguyễn Như Phát, “XHDS
được coi là một trong hai yếu tố của quản trị hiện đại”, một yếu tố thuộc về bộ ba
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), một yếu tố thuộc về các tổ chức
do dân thiết lập mà không cần sự can thiệp của nhà nước.
Tác giả Phạm Thái Việt cho rằng “một xã hội được gọi là XHDS khi tất cả
công dân có khả năng thể hiện công khai thái độ của mình đối với các hoạt động
nào đó của các chính quyền, có thể phản đối các quyết định nào đó của các cơ quan
nhà nước”.3
Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm: “XHDS là diễn đàn nằm
ngoài khu vực gia đình, nhà nước và thị trường, tại đó mọi người tự nguyện liên kết
đình là một nhân tố hình thành nên các mạng lưới xã hội và vốn xã hội. Do đó, gia đình
có thể xem như là một nguồn gốc sâu xa của sự hình thành các tổ chức XHDS.
Nhà nƣớc
Gia đình
Thị trƣờng
XHDS
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ của Xã hội dân sự với các chủ thể xã hội khác (Nguồn.
XHDS - Những vấn đề lí luận và thực tiễn ở Việt Nam. Viện nghiên cứu Quản lí
kinh tế Trung ương, Tháng 11/2008)
1.1.2. Khái niệm tổ chức xã hội dân sự
Cách hiểu đơn giản nhất là “tổ chức là một nhóm người làm việc chung với
nhau”. Hiểu rộng hơn thì “tổ chức là nhiều người tập hợp thành một nhóm, ban, hội,
đoàn nhằm mục đích điều hành hay quản lý một công việc nào đó”.5
Theo Liên minh Thế giới vì sự tham gia của Công dân (CIVICUS), XHDS là
diễn đàn nằm ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi người bắt tay
nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. Theo đó, muốn cải thiện tính hiệu quả của Nhà
nước cần phải dựa vào sức mạnh tương đối của thị trường và các tổ chức XHDS,
các tổ chức XHDS có thể vừa là cộng sự vừa là đối thủ cạnh tranh trong việc cung
5
Đinh Thảo Linh, Định nghĩa một tổ chức xã hội dân sự , đăng ngày 22/02/2012, website
/>
9
7
Viện những vấn đề phát triển (VIDS) (2005), Báo cáo nghiên cứu Dự án Đánh giá nhanh các chỉ số xã hội
dân sự ở Việt Nam.
8
Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) (2009), Xã hội dân sự ở Malaixia và Thái Lan, Nxb Khoa học xã hội.
10
phi chính thức và các cá nhân hoạt động xã hội với nhau, mà không chỉ là sự cấu
thành của các tổ chức phi chính phủ đơn lẻ. 9
Tóm lại, từ góc độ tích cực, tổ chức XHDS có thể hiểu là sự tập hợp tự nguyện
của bất kể từ một số cá nhân hoặc một số nhóm, liên kết với nhau để tạo ra những
ảnh hưởng với mục đích thúc đẩy sự thay đổi tích cực, làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, trong một số hãn hữu trường hợp, các tổ chức XHDS có thể bị lợi dụng
theo hướng hoạt động tiêu cực, như phá hoại, gây rối trật tự xã hội. Do giới hạn về nội
dung, luận văn này không quan tâm nghiên cứu các khía cạnh tiêu cực này của XHDS.
1.1.3.
Các loại hình tổ chức xã hội dân sự
Có rất nhiều cách phân biệt các loại hình tổ chức XHDS, tuy nhiên, tác giả
chọn cách phân biệt loại hình tổ chức của tác giả Phạm Bích San10 và tài liệu nghiên
cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB năm 2009 về tổ chức XHDS.
Tác giả Phạm Bích San cho rằng các loại tổ chức XHDS (hoặc gọi chung là
các tổ chức xã hội) ở Việt Nam gồm ba dạng: Các tổ chức được nhà nước tài trợ
hoàn toàn như Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, Cựu chiến binh; Các tổ
chức được nhà nước tài trợ một phần như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật
Việt Nam, Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà báo; và Các tổ chức xã hội dân
sự như các tổ chức phi chính phủ (ngoài công lập), các quỹ tự trang trải, các tổ chức
-
Các quỹ: Là tổ chức từ thiện được thành lập bởi các cá nhân hay đơn vị nào đó
với tư cách là một thực thể pháp lý (một tập đoàn hoặc một quỹ ủy thác) ủng hộ
những sự nghiệp phù hợp với mục tiêu của quỹ. Ví dụ: Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Qga
Khan (Thụy Sỹ)…
-
Các viện nghiên cứu độc lập: Là những tổ chức ngoài công lập (tự trang trải
tài chính) chủ yếu thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phân tích liên quan đến
các vấn đề chính sách công và truyển bá những kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
của mình với hy vọng có thể gây ảnh hưởng lên các nhà hoạch định quyết sách và
những người xác lập chủ trương.
-
Các tổ chức cộng đồng (CBO): Các tổ chức này thường giải quyết ngay những
mối quan tâm của các thành viên. Đặc tính cơ bản của CBO là chúng có thể huy
động các cộng đồng thông qua việc thể hiện các nhu cầu, tổ chức và thực hiện
những quá trình có sự tham gia, tiếp cận các dịch vụ phát triển từ bên ngoài, chia sẻ
lợi ích giữa các thành viên.
-
Các tổ chức tín ngưỡng: Những nhóm có cơ sở tôn giáo được thành lập quanh
một khu vực thờ cúng hoặc giáo đoàn, một cơ sở tôn giáo hoặc một cơ sở có hoặc
không đăng ký có tôn chỉ tôn giáo.
-
phong phú và đa dạng với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau.
Trong lộ trình của EU về cam kết với XHDS tại Việt Nam năm 2014 12, phái
đoàn EU và các nước thành viên EU tại Việt Nam đã đánh giá thực trạng phát triển
XHDS tại Việt Nam như sau: Tại Việt Nam, các tổ chức XHDS nói chung được
chia thành 5 nhóm: (i) các đoàn thể (6 tổ chức chính trị: Công đoàn; Nông dân; Phụ
nữ; Thanh niên; Cựu chiến binh; và Mặt trân Tổ quốc Việt Nam); (ii) các tổ chức
chính trị - xã hội nghề nghiệp (Liên hiệp Hội KH&KT; Hội Nhà văn;...); (iii) tổ
chức phi chính phủ Việt Nam (trong đó cóa các tổ chức KH&CN ngoài công lập
trực thuộc Liên hiệp Hội KH&KT Việt Nam); (iv) các tổ chức dựa vào cộng đồng
(các nhóm thiện nguyện, từ thiện,...); và (v) các tổ chức phi chính phủ quốc tế
(Oxfam, Action Aid,...). Hàng trăm tổ chức ở cấp quốc gia và hàng ngàn tổ chức ở
cấp tỉnh thuộc các nhóm này. Các tổ chức XHDS được thành lập theo các quy định
khác nhau, và thường theo các quy định hoặc của quốc tế, hoặc của Việt Nam.
Cơ cấu XHDS ở Việt Nam đang thay đổi do sự xuất hiện của các tổ chức,
mạng lưới và các nhóm mới đã định hình các cuộc thảo luận về thực trạng của
12
/>cập nhập ngày 10/11/2014
13
XHDS. Mối quan hệ giữa XHDS, Nhà nước và Đảng cũng đã trải qua những thay
đổi đáng kể trong ba thập kỷ qua. Đổi mới và chính sách của Chính phủ về “xã hội
hóa” đã tạo nên một môi trường tốt hơn cho các nhóm công dân. Ngoài ra, tầng lớp
trung lưu đô thị và sự phát triển trong việc sử dụng internet đã tạo điều kiện gia tăng
tiếp cận thông tin và mức độ nhận thức chung, do đó đã tác động tới vai trò chỉ đạo
trực tiếp trước đó của Nhà nước đối với các tổ chức XHDS, và các tổ chức này
được coi như một phần của hệ thống nhà nước. Với sự xuất hiện của các tổ chức
XHDS, nhà nước đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý quy định việc phê duyệt và
nước phải tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quá trình soạn thảo, hoạch định
chính sách. “Nhân dân” ở đây được hiểu bao gồm và không giới hạn ở các đối
tượng: cá nhân công dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội dân sự,
các nhóm lợi ích (doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp…), các chuyên gia, các nhà
khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và các cơ quan nhà nước… Việc bảo đảm sự
tham gia của “nhân dân” trong quy trình soạn thảo, ban hành chính sách không chỉ
làm cho các chính sách, các biện pháp đưa ra hợp lý, nâng cao chất lượng của dự
thảo, mà còn tăng tính khả thi của văn bản ban hành.
Có thể tóm tắt vai trò của các tổ chức XHDS trong việc hoàn thiện chính sách
như sau:
Thứ nhất, vai trò giám sát và kiểm soát xã hội. Sự phát triển ngày càng nhanh
và phức tạp của xã hội khiến cho nhu cầu kiểm soát, giám sát luôn luôn được đặt ra.
Có như vậy xã hội mới được đặt trong một cơ chế hoạt động cân bằng, không thiên
lệch. Điều đó đặt ra nhiệm vụ giám sát lẫn nhau giữa các lĩnh vực, giữa khu vực dân
sự với Nhà nước. Các tổ chức XHDS chính là các tổ chức tự nguyện của người dân,
đại diện cho người dân tham gia và thực hiện quá trình đó. Thông qua các ý kiến
của các tổ chức XHDS, tính chủ quan, độc đoán trong quá trình hoạch định chính
sách sẽ được cải thiện đáng kể. Các cá nhân đã có cơ hội tham gia với tư cách đại
diện cho một nhóm, một tập thể xã hội đối với các vấn đề chính sách; thiên hướng
vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của số đông trở nên mạnh mẽ hơn.
Thứ hai, vai trò tư vấn và phản biện. Các tổ chức XHDS bằng những kinh
nghiệm, kiến thức chuyên môn của mình có thể tham gia góp ý, biện luận, khẳng
định và phê phán một vấn đề, quá trình kinh tế xã hội nào đó nhằm hoàn thiện, đạt
hiệu quả cao hơn cho sự việc và quá trình đó. Gần đây, xã hội đã và đang chú ý đến
vai trò TV,PB của các tổ chức XHDS và hoạt động này đã có những đóng góp thiết
thực vào chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án quốc gia hoặc địa phương.
15
thực trạng đặt ra.
Như vậy, TV,PB về bản chất đều là hoạt động cung cấp thông tin, tư liệu, đưa
ra các ý kiến phân tích, đánh giá của chuyên gia và kiến nghị chỉnh sửa trong đề
xuất, xây dựng, thẩm định, phê duyệt đề án, văn bản chính sách.
1.2.2. Tính chất, mục đích của hoạt động tư vấn, phản biện
16
Quyết định 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định tính chất
của hoạt động TV, PB của Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN) và các đơn vị thành
viên là sự thể hiện trách nhiệm của đội ngũ trí thức KH&CN tham gia vào các hoạt
động của nhà nước, không phải là hoạt động nghề nghiệp, không vì mục đích lợi
nhuận.
Mục đích của hoạt động TV, PB của LHHVN là cung cấp các cơ sở, luận cứ
khoa học độc lập, khách quan trong việc đề xuất, xây dựng, thẩm định dự án, đề án,
chính sách.
Với tính chất và mục đích được xác định như trên, có thể thấy ba đặc điểm
riêng và nổi bật của hoạt động TV,PB của LHHVN, đó là:
-
Tính khoa học
-
Tính độc lập, khách quan
-
Tính xã hội