Trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ ( Nghiên cứu trường hợp Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ GẤM
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Quản lý KH&CN


KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quản lý KH&CN
Mã số: 60 34 72

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh Hà Nội-2011

1

1.2.6. Lợi ích của trách nhiệm xã hội 36
Chương 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN
40
2.1. Tổng quan về Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn. 40
2.2. Trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn: bản chất và quá
trình thực hiện. 42
2.2.1. Bản chất trách nhiệm xã hội của đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn. 42
2.2.2. Trách nhiệm xã hội trong công tác đào tạo. 42

2
2.2.3. Trách nhiệm xã hội trong hoạt động khoa học và công nghệ. 50
2.2.4. Trách nhiệm xã hội trong công tác hậu cần, hành chính. 61
2.2.5. Trách nhiệm xã hội trong các chính sách đối với cán bộ, giảng viên, học
viên. 67
2.2.6. Chính sách hậu cần, hậu phương quân đội và các hoạt động từ thiện,
phúc lợi xã hội. 70
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN
74
3.1. Ảnh hưởng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với hoạt động của
Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn. 74
3.1.1. Thu hút lượng lớn thí sinh có chất lượng tham gia dự thi và học tập tại
Trường. 74
3.1.2. Sự tín nhiệm của đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo và nghiên cứu khoa
học và các đối tác trong và ngoài nước. 77
3.1.3. Thu hút và phát huy năng lực đội ngũ nhân lực khoa học chất lượng
cao. 79
3.2. Khuyến nghị nhằm thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ
thuật Lê Quý Đôn. 83
3.2.1. Xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa quản lý phù hợp với giai đoạn mới.

của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn (2003-2008).
4. Bảng 2.4: Các mức hỗ trợ đăng báo cho cán bộ, giảng viên của Đại học Kỹ thuật Lê
Quý Đôn.
5. Bảng 2.5: Phân bổ cho các quỹ của Nhà trường từ nguồn thu các hợp đồng dịch vụ
khoa học và công nghệ (%).
6. Bảng 3.1: Số lượng người dự thi và nhập học hệ đại học vào Đại học Kỹ thuật Lê
Quý Đôn giai đoạn 2003 - 2008.
7. Bảng 3.2: Số lượng đề tài nghiên cứu của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng viên
Nhà trường giai đoạn 2003-2008.
8. Bảng 3.3: Số lượng đề tài nghiên cứu các cán bộ tham gia đảm nhiệm (2003-2008).
9. Bảng 3.4: Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước của cán bộ
nghiên cứu Nhà trường (2003 -2008).
10. Bảng 3.5: Doanh thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn (2003-2008).

5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do nghiên cứu.
Trong bối cảnh hiện nay, khoa học và công nghệ đang phát triển như vũ bão tạo
nên những công cụ đắc lực làm cho sức mạnh con người được nhân lên gấp bội, mang
lại nhiều thành tựu lớn cho đời sống con người, nhưng bên cạnh đó cũng đem lại nhiều
thách thức và mối đe dọa như tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng giữa các
quốc gia đang tiếp tục gia tăng mạnh hơn, khủng hoảng sinh thái đang là nguy cơ đe
dọa sự sống còn của loài người. Kinh tế thị trường đang có những tác động đa chiều
đến các quốc gia và đời sống của con người. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ngày
càng lan rộng và trở nên nghiêm trọng hơn. Nhân loại đang đứng trước những nguy cơ
lớn về khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng lương thực, trái đất ấm lên do hiệu ứng
khí thải. Tất cả các hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về
trách nhiệm xã hội của Chính phủ, của các tổ chức chính trị - xã hội, của doanh

nên các doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm và thực hiện tốt hơn vấn đề này để
mang lại sự phát triển bền vững cho bản thân mình và cho toàn xã hội.
Vấn đề trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ở nước ta đã được quan tâm
như vậy, nhưng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ thì vấn đề này chỉ mới
được bàn đến khá ít. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet, các tài
liệu, sách tham khảo, chúng ta có thể dễ dàng tra cứu và bắt gặp những thông tin về
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhưng với các tổ chức khoa học và công nghệ thì
dường như chưa có hoặc có rất ít. Phải chăng các tổ chức khoa học và công nghệ của
Việt Nam không cần quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã hội? Hay là các tổ chức
này đã thực hiện rất tốt nên không cần bàn tới nữa? Thực tế hiện nay có nhiều tổ chức
khoa học và công nghệ trong đó có nhiều trường đại học chưa thực hiện tốt trách
nhiệm xã hội của mình mà biểu hiện dễ nhìn thấy nhất là các nhà trường cung cấp sản
phẩm đào tạo chất lượng thấp, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Điều đó không
chỉ gây ảnh hưởng xấu đến danh tiếng, thương hiệu của các tổ chức, các nhà trường
mà còn gây lãng phí các nguồn lực và ảnh hưởng xấu, lâu dài đến xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường và toàn cầu hóa hiện nay, nếu các trường đại học không khẳng định
được uy tín, chất lượng và lấy được niềm tin của người học thì sẽ không thể cạnh tranh
được với các trường ở nước ngoài và sẽ dễ dàng bị mất một lượng lớn học sinh, sinh
viên đi du học thay vì chọn hình thức học tập trong nước. Điều đó đặt ra một yêu cầu
bức thiết hiện nay là các trường đại học cần phải thực hiện trách nhiệm xã hội tốt hơn
để phát huy hiệu quả của các nguồn lực, tạo sự phát triển bền vững cho mình cũng như
đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội.
Với những suy nghĩ, băn khoăn như vậy, tác giả muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu
bản chất của trách nhiệm xã hội, vai trò, ý nghĩa của nó đối với các tổ chức, đối với sự
phát triển của xã hội đặc biệt là trách nhiệm xã hội của các tổ chức khoa học và công

7
nghệ trong đó chú trọng đến trách nhiệm xã hội của trường đại học với trường hợp
nghiên cứu là Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn.
2. Lịch sử nghiên cứu.

nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội” và “Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị

8
trường”. Tháng 10 năm 2007 tại Hà Nội diễn ra cuộc hội thảo với chủ đề “Công bằng
xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội”. Từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 2 năm
2009 tại Đồ Sơn, Hải Phòng, Viện Triết học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam
cùng phối hợp với Hội hành động vì sự phát triển con người của Giáo hội Thiên chúa
giáo Đức (MISEREOR) và Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa
học quốc tế với chủ đề “Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường” – một
chủ đề có ý nghĩa lý luận quan trọng và giá trị thực tiễn đặc biệt to lớn, là một trong
những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của những nhà hoạt động chính trị, các nhà
khoa học, mà của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Hội thảo này là sự tiếp tục và phát triển những nội dung đã được đặt ra từ Hội thảo
“Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội”. Hội thảo đã tổng hợp
được nhiều bài viết của các độc giả trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến
trách nhiệm xã hội. Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được hơn 90 báo cáo khoa học tập
trung vào 4 chủ đề chính về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường:
Trách nhiệm xã hội của nhà nước; Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; Trách
nhiệm xã hội của các tổ chức xã hội, và Trách nhiệm xã hội của công dân.
Các báo cáo được trình bày trong hội thảo và rất nhiều ý kiến phát biểu thảo
luận vấn đề trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường đã được các đại biểu
tham dự Hội thảo phân tích từ nhiều góc độ khác nhau: triết học, kinh tế học, luật
pháp, đạo đức, lịch sử tư tưởng, giá trị học, xã hội học, tôn giáo, kinh nghiệm nước
ngoài,… Có thể nói, gần như tất cả các khía cạnh khác nhau của vấn đề trách nhiệm xã
hội đã được xới lên trong Hội thảo này.
Nhưng những báo cáo tại hội thảo cũng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích chung
chung và bàn tới những vấn đề mang tính vĩ mô. Những vấn đề cụ thể về trách nhiệm
xã hội của một tổ chức thì lại chưa được bàn luận đến đặc biệt là trách nhiệm xã hội
của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, tác giả muốn đi tìm
hiểu một cách thống nhất những vấn đề chính liên quan đến trách nhiệm xã hội: trách

như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu.
- Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn luôn quan tâm và cố gắng đáp ứng tốt nhất
những nhu cầu, quyền lợi chính đáng của các bên liên quan, luôn sử dụng hiệu quả các
nguồn lực để đạt kết quả cao nhất trong các hoạt động, tích cực tham gia phát triển
cộng đồng và góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.
- Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội đã tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động
của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, làm cho lực lượng cán bộ, nhân viên thêm yêu
nghề và gắn bó với đơn vị, thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, trong đó có hoạt động khoa
học và công nghệ và tạo được niềm tin tưởng, mong muốn hợp tác của các bên liên
quan.
8. Phương pháp chứng minh luận điểm.
10

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, thống kê, tổng hợp tài liệu sơ
cấp và tài liệu thứ cấp (kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước) có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra thực tế: Tác giả luận văn tìm hiểu thực trạng thực hiện
trách nhiệm xã hội tại Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn, thu thập, thống kê, tổng hợp và
xử lý các số liệu liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Đại học kỹ thuật
Lê Quý Đôn cũng như những tác động của việc thực hiện này đối với hoạt động của
Nhà trường.
- Phương pháp phỏng vấn: Để thu thập thông tin định tính và hiểu sâu hơn về
quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội của Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn cũng như
những ảnh hưởng của nó đến hoạt động của Nhà trường đặc biệt là hoạt động khoa học
và công nghệ, tác giả luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và cán bộ
nghiên cứu của Nhà trường cũng như các bên có liên quan đến các quyết định và hoạt
động của Nhà trường.
Yêu cầu của phỏng vấn sâu: Mỗi cuộc phỏng vấn sâu đều có bảng hỏi phát
trước cho từng đối tượng. Tác giả luận văn trực tiếp phỏng vấn sâu.

Cách hiểu tổ chức như vậy cũng vẫn còn đơn giản và nhiều khi còn gây ra tranh
cãi, đặc biệt trong giới khoa học. Tổ chức là nơi có nhiều cá nhân tập hợp lại, liên kết
lại để cùng nhau thực hiện một mục tiêu chung nào đó. Mục tiêu đó nếu các cá nhân
đứng riêng lẻ thì sẽ không thể thực hiện được. Tổ chức giúp nhân sức mạnh của con
người lên gấp bội để thực hiện những mục tiêu chung cao cả.
Trong khoa học tổ chức thì:
“Tổ chức là một thực thể xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm kết hợp để thực
hiện mục tiêu chung, có 3 đặc trưng cơ bản ngang nhau:
- Tổ chức được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu chung của cộng đồng.
- Có cấu trúc phân công lao động nghĩa là mọi người tham gia tổ chức không
phải đều được nhận việc như nhau mà được giao những việc phù hợp với yêu cầu của
tổ chức, trình độ và năng lực cá nhân. Tổ chức càng phát triển thì phân công lao động
càng triệt để.
- Có một ban quản lý: Ban quản lý có bổn phận đại diện cho cộng đồng với
công việc trong và ngoài tổ chức. Ban quản lý chịu trách nhiệm đảm bảo sự điều phối
và thực hiện mục tiêu của tổ chức”. [45, tr. 1]
Các tổ chức được phân thành 2 loại dựa trên: tính năng động, mềm dẻo hay
cứng nhắc của cơ cấu, của chính sách, thủ tục, phong cách hoạt động, sự kiểm soát và
12

thậm chí cả triết lý và chủ thuyết của chúng. Những tổ chức nào thể hiện chi li, chi tiết
các quyền lực với quan hệ đẳng cấp, những thủ tục làm việc với phương pháp cứng
nhắc thì được liệt vào loại tổ chức cơ học. Những tổ chức có tính thích ứng cao hơn về
cơ cấu của chúng, về các thủ tục, phương pháp và chính sách thì được xếp vào loại tổ
chức hữu cơ. Trong khi những tổ chức được xây dựng trên các nguyên tắc truyền
thống đều rơi vào loại cơ học thì các tổ chức hiện đại thường được hình thành theo lý
thuyết tổ chức hữu cơ. Gần đây với sự phát triển của công nghệ thông tin thì dần hình
thành những loại hình tổ chức mới mà người ta tạm gọi là tổ chức ảo.
1.1.2. Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ.
Tổ chức khoa học và công nghệ có thể được định nghĩa như sau:

tạo;
- Phát huy khả năng lao động và sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ,
tự chủ.
Trong thực tiễn hiện nay có rất nhiều kiểu phân loại tổ chức khoa học và công
nghệ khác nhau tùy theo tiêu chí, mục tiêu đã định. Thông thường có một số cách phân
loại sau:
- Phân loại theo lĩnh vực khoa học và công nghệ, có thể chia thành các loại sau:
+ Khoa học tự nhiên
+ Khoa học kỹ thuật
+ Khoa học xã hội và nhân văn
+ Khoa học nông nghiệp
+ Khoa học y, dược học
- Phân loại theo các hoạt động khoa học và công nghệ, có 3 hoạt động khoa học
và công nghệ chính đó là: Nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ và dịch vụ
khoa học và công nghệ, tương ứng với 3 loại hình hoạt động là các loại hình tổ chức
khoa học và công nghệ.
- Phân loại theo chủ thể sở hữu:
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực Nhà nước
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực tư nhân
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực tập thể
+ Tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khu vực đa quốc gia.
- Phân loại theo Luật Khoa học và công nghệ của Việt Nam, có các loại hình tổ
chức khoa học và công nghệ sau:
+ Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển);
+ Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (sau đây gọi chung là trường
đại học) ;
+ Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ.
14

định vai trò quan trọng của trường đại học trong phát triển giáo dục, phát triển kinh tế -
xã hội.
Các nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động khoa học và công nghệ của trường đại
học bao gồm:
15

- Thực hiện các đề tài, dự án thuộc các chương trình khoa học và công nghệ,
các chương trình khoa học xã hội và nhân văn cấp Nhà nước; các đề tài, dự án sản xuất
thử nghiệm độc lập cấp Nhà nước, các đề tài hợp tác với nước ngoài theo Nghị định
thư, các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp cơ sở và các hoạt động khoa học và công nghệ khác
(thông tin khoa học, sở hữu trí tuệ, hội nghị, hội thảo khoa học, sinh viên nghiên cứu
khoa học ).
- Gắn kết quả nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học;
liên kết giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp trong việc
phục vụ sản xuất và đời sống.
- Nghiên cứu ứng dụng, triển khai các thành tựu khoa học và công nghệ phục
vụ phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chú trọng
các ứng dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, bảo vệ sức khỏe
cộng đồng và phòng chống thiên tai.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống giáo
dục đại học Việt Nam đã có những bước phát triển mới cả về lượng và chất, cung cấp
nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các trường đại học đã
có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo và sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn nhiều
trường đại học chưa nghiêm túc trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, chất
lượng đào tạo còn thấp, sản phẩm đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn.
Điều đó đang đặt ra một yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường
đại học để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội.

khác, có nghĩa là đối với môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức dù đó là môi
trường con người, xã hội, kinh tế, môi sinh hay sinh thái.
Con người ngày càng nhận thức được các quy luật khách quan của tự nhiên, xã
hội thì năng lực chi phối tự nhiên, xã hội càng lớn và trách nhiệm con người đối với
hành vi của mình càng lớn hơn.
Theo Từ điển Triết học (Nxb Mátxcơva, 1986):
“Trách nhiệm là phạm trù đạo đức và luật học phản ánh thái độ đạo đức, pháp
luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung). Thái độ này biểu thị ở
sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình và các tiêu chuẩn pháp luật”
3
.
Khái niệm này cũng như khái niệm trách nhiệm được đề cập đến trong từ điển
Bách khoa đều nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức và pháp luật của trách nhiệm. Trách
nhiệm là phải hoàn thành các nghĩa vụ đạo đức và tiêu chuẩn pháp luật. Nếu một cá

1

2
www.vientriethoc.com.vn, Lê Thi, Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cường ý thức trách nhiệm của
Nhà nước.

3
www.vientriethoc.com.vn, Lê Thi, Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cường ý thức trách nhiệm của
Nhà nước
17

nhân nào đó không hoàn thành các nghĩa vụ đạo đức hay các tiêu chuẩn pháp luật thì
cá nhân đó chưa thể là người có trách nhiệm được.
Luật học xác định các khái niệm trách nhiệm khác nhau, như trách nhiệm hành
chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm tài


Trách nhiệm của nhóm là một hình thức trách nhiệm tập thể lạc hậu, từ lâu đời.
Trách nhiệm của nhóm là “chỉ một tình hình trong đó các thành viên của một nhóm
chịu hình phạt vì lỗi của một người”[50, tr.202].
Khái niệm này về mặt lịch sử mà nói là loại hình cổ nhất. Nó đã tồn tại dưới
thời Cổ đại, dưới tên gọi: “hòa bình kiểu Macédoine”: nếu một người sống ở thành phố
Athens bị kết án vì tội giết người mà nhận được sự trợ giúp trong một thành phố
Macédoine, thành phố Athens có thể bắt tất cả người dân Macédoine đang ở trong
thành phố Athens và trừng phạt họ. Việc phải trả tiền phạt hộ người khác không bị coi
như bất công bởi vì nhóm có quyền lực khá lớn đối với các thành viên của nhóm.
Người ta biện hộ cho loại hình trách nhiệm này thông qua một “quan niệm hữu cơ về
trách nhiệm”: một thành phố có khả năng thống nhất và liên tục như một cơ thể sống.
Vì vậy nó không ngừng chịu trách nhiệm và kế tục những tinh hoa của mọi hành động
đã cùng nhau hoàn thành trong quá khứ cũng như trong hiện tại.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, khi đề cập đến trách nhiệm tập thể chúng ta
thường hay đề cập đến trách nhiệm của tổ chức.
“Trách nhiệm của tổ chức là việc truy cứu trách nhiệm không nhằm vào các
thành viên của tổ chức mà chính bản thân tổ chức đó (cơ quan nhà nước, tổ chức quân
sự, doanh nghiệp,…) được quan niệm như có sự tồn tại khác biệt với các thành viên
của nó”. [50, tr.206]
Trách nhiệm của tổ chức đòi hỏi một tổ chức có thể chịu trách nhiệm về những
hành vi diễn ra nhân danh tổ chức. Điều đó đòi hỏi tổ chức là một pháp nhân hay một
đoàn thể. Tổ chức hoạch định các chính sách chung làm cơ sở cho một số hoạt động cụ
thể. Tổ chức hành động theo lợi ích riêng của mình độc lập với lợi ích riêng của các
nhà quản lý. Các cá nhân chỉ là nơi chứa đựng các lý do hành động và chỉ là người
thừa hành. Chính tổ chức là người chịu trách nhiệm về tinh thần của hành động chứ
không phải là người thừa hành. Mỗi tổ chức được coi như một cơ thể sống. Mọi cơ thể
sống đều có khả năng nhận biết mình “khả năng nhận thức được vị trí của mình trong
tương quan với thế giới xung quanh trong lĩnh vực lòng tin và giá trị. Như vậy, một tổ
chức sống luôn luôn tự hỏi về quan hệ giữa hệ thống giá trị của mình và hệ thống giá

.
Theo đó, trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh,
có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được
coi là có trách nhiệm xã hội thì nó phải luôn coi trọng lợi ích của những người liên
quan và của toàn xã hội. Mọi hoạt động của nó đều phải được cân nhắc kỹ lưỡng, phù
hợp với lợi ích của các bên liên quan cả trong doanh nghiệp (nhân viên, cổ đông) và
ngoài doanh nghiệp (nhà cung ứng, khách hàng, cộng đồng, môi trường). Doanh
nghiệp không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà phải luôn luôn đặt lợi ích của
mình bên cạnh lợi ích của các bên liên quan, phải làm sao để đáp ứng được lợi ích của
tất cả các bên hay nói một cách khác là các bên luôn luôn cùng nhau chia sẻ lợi ích.

4
www.dddn.com.vn, Nguyễn Diệp, Trách nhiệm xã hội – Công cụ phát triển bền vững của doanh nghiệp
28/3/2010.
20

Doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội sẽ không bao giờ vì lợi ích của bản thân mà chèn
ép, bỏ qua hay lấy đi lợi ích của các bên liên quan khác. Khi thực hiện trách nhiệm xã
hội tốt, doanh nghiệp mới có thể phát triển ổn định, lâu dài và góp phần vào sự phát
triển bền vững của xã hội.
“Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là phương pháp tiến hành tự nguyện có tầm
nhìn về phát triển bền vững, kết hợp xã hội và khả năng cạnh tranh”
5
.
Ở khái niệm này, trách nhiệm xã hội bao gồm những tác động liên quan đến xã
hội, môi trường và kinh tế. Trách nhiệm xã hội được các doanh nhiệp thực hiện tự
nguyện để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình cũng như đóng góp vào sự phát
triển bền vững của doanh nghiệp và toàn xã hội nói chung. Theo khái niệm này thì
trách nhiệm xã hội mang tính chất tự nguyện. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi
xét trách nhiệm xã hội ở khía cạnh luật pháp thì trách nhiệm xã hội không chỉ dừng lại


21

phát triển cộng đồng… Trách nhiệm xã hội nó cũng có khía cạnh bắt buộc bên cạnh sự
tự nguyện của doanh nghiệp đó là việc tuân thủ các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp
hiện hành và các tiêu chuẩn quốc tế.
Cụ thể hơn, chúng ta có thể hiểu một doanh nghiệp hiện đại chỉ được xem là có
trách nhiệm xã hội khi:
- Doanh nghiệp đó phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác
hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường
trong quá trình sản xuất, hoạt động của mình. Đây là một tiêu chí rất quan trọng đối
với người tiêu dùng châu Âu hiện nay. Họ tẩy chay những sản phẩm mà họ cho là có
ảnh hưởng tới môi trường sinh thái như đồ gỗ chẳng hạn vì gỗ chắc chắn được lấy từ
rừng, mà phá rừng để lấy gỗ tức là đã làm nguy hại đến môi trường sinh thái của địa
phương và toàn cầu.
- Doanh nghiệp đó phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho
mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần. Buộc người lao động làm
việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình là
điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp đó phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, tức là không được
phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa
trên sự công bằng về năng lực của mỗi người.
- Doanh nghiệp đó không được phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, không được
phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc
quá khứ của họ, tức là tổ chức không được từ chối hoặc trả lương thấp vì lý do sắc tộc
hoặc vì lý do khiếm khuyết hay lành lặn về mặt cơ thể hay quá khứ của người lao
động.
- Doanh nghiệp đó phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây
tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng. Những doanh nghiệp chỉ vì lợi nhuận mà bất
chấp sức khỏe của người tiêu dùng là những doanh nghiệp không có trách nhiệm xã

vi ;
- Được tích hợp trong tổ chức và thực hành trong các mối quan hệ của nó”.
[37, pg. 3]
Trong khái niệm về trách nhiệm xã hội này chúng ta cần lưu ý đến một số thuật
ngữ:
Môi trường là môi trường tự nhiên xung quanh một tổ chức hoạt động, bao gồm
cả không khí, nước, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, hệ thực vật, động vật, con người,
không gian bên ngoài và mối quan hệ của nó. Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
thì môi trường của tổ chức kéo dài từ bên trong tổ chức ra hệ thống toàn cầu.
Hành vi đạo đức là hành vi theo các nguyên tắc được cho là đúng đắn trong
từng bối cảnh, tình hình cụ thể và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành vi.
23

Minh bạch là sự cởi mở về các quyết định và hoạt động có ảnh hưởng đến xã
hội, kinh tế và môi trường, và sẵn sàng thảo luận về những vấn đề này một cách rõ
ràng, chính xác, kịp thời, trung thực và đầy đủ.
Tác động của một tổ chức là tác động thay đổi tích cực hoặc tiêu cực cho xã
hội, kinh tế và môi trường từ các quyết định và hoạt động trong quá khứ và hiện tại
của một tổ chức.
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh
hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững là
tổng hợp các mục tiêu về một cuộc sống có chất lượng cao, sức khỏe, sự thịnh vượng
với công bằng xã hội và duy trì năng lực của trái đất để hỗ trợ cuộc sống trong sự đa
dạng của nó. Những mục tiêu xã hội, kinh tế, môi trường phụ thuộc lẫn nhau và tăng
cường cho nhau.
Các bên liên quan là cá nhân hoặc nhóm có quan tâm đến bất kỳ một quyết
định hoặc hoạt động nào của một tổ chức. Tổ chức xác định và cam kết với các bên
liên quan là nền tảng cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Một tổ chức nên xác định
xem ai có quan tâm trong các quyết định và hoạt động của mình để có thể hiểu những
tác động có thể xảy ra và làm thế nào để giải quyết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status