Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ (Nghiên cứu trường hợp cơ sở nghiên cứu và triển khai có sử dụng ngân sách nhà nước - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦATỔ
CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN
KHAI CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60.34.70
Khóa: 2007 - 2010

TRẦN NGỌC HOA
HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦATỔ
CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP CƠ SỞ NGHIÊN CỨU TRIỂN
KHAI CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60.34.70
Khóa: 2007 - 2010
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU TRIỂNKHAI CÓ
SỬ DỤNG NGÂN SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.1. Thiết chế 9
1.1.2. Tự chủ…………… …………………………………………………9
1.1.3. Tự chủ trong hoạt động KHCN 10
1.1.4. Thiết chế tự chủ 10
1.1.5. Thiết chế tự chủ của tổ chức KHCN 10
1.1.6. Hoạt động khoa học và công nghệ 10
1.1.7. Nghiên cứu khoa học…………………… ……………………… 11
1.1.8. Phát triển công nghệ. 11
1.1.9.Triển khai thực nghiệm 11
1.1.10. Sản xuất thử nghiệm. 11
1.1.11. Dịch vụ KHCN 11
1.1.12. Tổ chức KHCN 12
1.1.13. Tổ chức nghiên cứu triển khai 12
1.1.14. Tổ chức nghiên cứu triển khai có sử dụng ngân sách nhà nước
…………………………………………………………………………… 12
1.2. Đặc điểm, vai trò thiết chế tự chủ trong hoạt động KHCN, thiết
chế tự chủ đối với tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước 12
5
1.2.1. Đặc thù của hoạt động KHCN 12
1.2.2. Vai trò, yêu cầu đối với thiết chế tự chủ trong hoạt động KHCN 13
1. 3 Tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước trong nền kinh tế

2.1.4 Về nguồn nhân lực trong tổ chức KHCN 45
5
2.2 Việc thực thi thiết chế tự chủ của tổ chức KHCN, tổ chức R-D có
sử dụng ngân sách nhà nước 47
2.2.1. Hành lang pháp lý về thiết chế tự chủ của tổ chức KHCN, tổ chức
R-D có sử dụng ngân sách nhà nước 47
2.2.2 Việc thực thi các thiết chế tự chủ đối với các tổ chức R-D có sử
dụng ngân sách nhà nước 49
Việc thực hiện thiết chế tự chủ của tổ chức R-D có sử dụng ngân
sách nhà nước trước giai đoạn trước khi ban hành Luật KHCN 49
2.3. Đánh giá việc thực thi thiết chế tự chủ đối với tổ chức R-D có sử
dụng ngân sách nhà nước 63
2.3.1 Những mặt được 63
2.3.2. Một số hạn chế 69
2.4. Phân tích nguyên nhân 71
2.4.1. Nguyên nhân khách quan 71
4.2.2 Nguyên nhân chủ quan 71
2.5 Kết luận Chương 2 74
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA
TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, TỔ CHỨC R-D CÓ SỬ DỤNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 76
3.1. Định hướng phát triển KHCN 76
3.1.1. Định hướng phát triển 76
3.1.2. Mục tiêu hoạt động KHCN trong giai đoạn 2011- 2015 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
KHCN
Khoa học và công nghệ
2
R-D
Nghiên cứu triển khai
3
CHLB
Cộng hòa liên bang
4
SX-KD
Sản xuất, kinh doanh
5
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
6
GERD
Đầu tư cho R-D
7
GBAORD
Phân bổ ngân sách của Chính phủ cho R-D
8
KT-XH
Kinh tế - xã hội


2 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của nghiên cứu
KHCN đóng vai trò quan trọng trong phát triển vào tăng trưởng KT-XH,
quốc phòng và an ninh, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân. Kinh nghiệm của nhiều nước đã và đang phát triển
cho thấy: đầu tư cho KHCN là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất cho phát
triển của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, cùng với giáo dục, KHCN được Nhà nước coi là quốc sách
hàng đầu, điều này đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001). Do vậy, hoạt động KHCN trong những năm qua đã có
những bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng
góp đáng kể cho tăng trưởng KT-XH của đất nước.
Nhằm tạo điều kiện cho phát triển hoạt động KHCN của Việt Nam, nhiều
văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển
KHCN đã được Đảng và Nhà nước ban hành như: Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 2 khoá VIII ngày 24 tháng 12 năm 1996 của Ban chấp hành trung ương
Đảng về định hướng chiến lược phát triển KHCN trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000; Kết luận của Hội nghị Trung
ương 6 khoá IX (2002); Luật KHCN năm 2000; Chiến lược phát triển KHCN
Việt Nam đến năm 2010 (2003); Luật Sở hữu trí tuệ (2004), Luật Chuyển giao
công nghệ (2005), Luật Công nghệ cao (2008) và nhiều văn bản quan trọng
khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý KHCN cũng đã không

đăng trên các tạp chí chuyên ngành về khoa học của thế giới và khu vực chưa
nhiều.
- Nhiều tổ chức R-D của Nhà nước còn chưa thích ứng với hoạt động trong
cơ chế thị trường, nguồn kinh phí nghiên cứu chủ yếu vẫn dựa vào ngân sách
của Nhà nước.
- Hành lang pháp lý về tổ chức và hoạt động của tổ chức KHCN, tổ chức
R-D đã có nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều bất cập.
- Các hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng trong đó
nguyên nhân là do cơ chế quản lý KHCN hiện nay chưa phù hợp. Nâng cao tính
tự chủ của tổ chức KHCN nói chung và của cơ sở nghiên cứu triển khai (R-D)
có sử dụng ngân sách nhà nước là vấn đề quan trọng và cấp thiết để các tổ chức (
1
) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX. 4
này hoạt động có hiệu quả, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, góp phần thiết
thực cho phát triển KT-XH.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức,
ứng phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu và diễn biến bất thường của thời tiết,
biến đổi khí hậu thì vai trò của KHCN hơn bao giờ hết cần phải tiên phong
trong việc giải quyết các vấn đề như dự báo xu hướng phát triển kinh tế; dự báo,
ứng phó với các biến động về thời tiết như biến đổi khí hậu; nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm, hàng hóa, chất lượng cuộc sống người dân…Ở nước ta, các

nước chọn lọc và Việt Nam”, năm 2007.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chủ yếu tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức R-D, điều kiện chuyển đổi tổ chức R-
D sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; về sự phát triển của tổ chức R-D,
kinh nghiệm đổi mới quản lý KHCN của một số nước trên thế giới chưa có
nghiên cứu chuyên sâu việc thực thi tự chủ trong tổ chức KHCN nói chung và
tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước nói riêng trong điều kiện Việt Nam
hiện nay. Do vậy, trong phạm vi luận văn này, ngoài việc kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các công trình đã nêu trên, luận văn sẽ nghiên cứu về thực thi
thiết chế tự chủ của tổ chức KHCN, trọng tâm là tổ chức R-D có sử dụng ngân
sách nhà nước và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thiết chế tự chủ đối
với loại hình tổ chức này ở Việt Nam.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức
KHCN, trọng tâm là tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam
để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này.
4. Phạm vi nghiên cứu, mẫu khảo sát
Trong phạm vi một luận văn cao học và với khả năng cho phép, tác giả tập
trung nghiên cứu về thiết chế tự chủ đối với tổ chức KHCN, trường hợp cơ sở
R-D có sử dụng ngân sách nhà nước (không bao gồm các tổ chức nghiên cứu cơ
bản, tổ chức giáo dục đào tạo; dịch vụ KHCN và tổ chức R-D khu vực tư nhân);
tự chủ của tổ chức R-D của một số nước như Hàn quốc, Trung Quốc, Đức,
Mỹ) để so sánh tương quan.
Về mặt thời gian: Luận văn nghiên cứu thiết chế tự chủ đối với tổ chức
R-D có sử dụng ngân sách nhà nước trong khoảng thời gian 10 năm trở lại 6 7
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý thuyết về quản lý KHCN; khoa
học quản lý, lý thuyết về tổ chức.
- Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu từ các tổ chức R-D sử dụng
ngân sách nhà nước có chọn điểm.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu báo cáo của một số cơ quan
quản lý nhà nước, tổ chức KHCN; tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước.
9. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận, Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về thiết
chế tự chủ đối với tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước trong tình hình
hiện nay với mục đích đưa ra cơ sở lý luận nhằm hoàn thiện thiết chế tự chủ đối
với tổ chức này.
- Về mặt thực tiễn, Luận văn đưa ra một số giải pháp có thể ứng dụng để
góp phần hoàn thiện thiết chế tự chủ đối với các tổ chức KHCN, tổ chức R-D có
sử dụng ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay, có thể sử dụng cho việc
sửa đổi hoàn thiện pháp luật tự chủ của hoạt động KHCN trong thời gian tới.
Như vậy, với kết quả đạt được, Luận văn hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện
về phương diện lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện thiết chế tự chủ đối
với tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam nhằm phát huy
tính chủ động sáng tạo của tổ chức này; đồng thời, góp phần vào việc hoàn
thiện hệ thống văn bản pháp luật về KHCN.
10. Bố cục của Luận văn
Bố cục Luận văn gồm 3 phần.
Phần I: Mở đầu


9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA
TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Thiết chế là quy định bắt buộc phải tuân thủ
2
. Thiết chế là khái
niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã
hội. Nhờ các thiết chế mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho
các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng.
1.1.2. Tự chủ là tự điều hành, quản lý mọi công việc của minh không bị
ai chi phối
3
.
Tự chủ là việc chủ động, toàn quyền quyết định các vấn đề thuộc về
10
điều hành của tổ chức mình. Điều này ngược lại với các tổ chức bị chi phối bởi
các hệ quản lý hành chính, với các cấp quản lý hành chính
6
.
Tự chủ về quy trình nghĩa là tự điều hành (self- governance) từ khâu điều
hành kế hoạch hoạt động đến khâu điều hành tài chính, nhân lực và đánh giá tổ
chức.
1.1.3. Tự chủ trong hoạt động KHCN là sự vận dụng những quyền được
giao để thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân cấp nhưng ngoài các nhiệm vụ
này, tổ chức KHCN còn được quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm để
thực hiện tất cả các nhiệm vụ mà pháp luật không cấm
7
là việc chủ động thực
hiện các nhiệm vụ theo quyền và nghĩa vụ được giao theo luật định và chịu
trách nhiệm về các việc thực hiện.
1.1.4. Thiết chế tự chủ được hiểu là toàn bộ các quy định xác lập về
quyền tự chủ cũng như các điều kiện bảo đảm để cho các quyền này được thực
thi, bao gồm cả vấn đề tổ chức thực hiện, các biện pháp bảo đảm cũng như cơ
chế giám sát
8
.
Khi nói về thiết chế, người ta quan tâm nhiều tới khía cạnh tính đồng bộ
giữa quy định và tổ chức thực hiện và mối quan hệ giữa các yếu tố trong thiết
chế này.

9
.
1.1.8. Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công
nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm
và sản xuất thử nghiệm
9
.
1.1.9.Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu
khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới
9
.
1.1.10. Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai
thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản
phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
9
.
Hình 1. Hoạt động KHCN theo UNESCO
FR
AR
D
TT
T
STS
Trong đó:
FR – nghiên cứu cơ bản, tạo ra các lý thuyết.
AR – nghiên cứu ứng dụng, tạo ra các nguyên lý ứng dụng.
D – triển khai, tạo ra các vật mẫu.
TT – chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ.
T – phát triển công nghệ.
STS – dịch vụ KHCN, cung ứng các dịch vụ KHCN

Theo Từ điển Bách khoa (Liên xô cũ), thì tổ chức nghiên cứu phát
triển là cơ quan tiến hành nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ.
1.1.14. Cơ sở nghiên cứu triển khai có sử dụng ngân sách nhà nước
là tổ chức nghiên cứu triển khai do cơ quan nhà nước thành lập, sử dụng một
phần hoặc toàn bộ nguồn kinh phí cho hoạt động R-D, bao gồm tài sản cố
định, kinh phí cho xây dựng cơ bản, cho hoạt động thường xuyên (sau đây
xin gọi là tổ chức nghiên cứu triển khai có sử dụng ngân sách nhà nước)
(*)

1.2. Đặc điểm, vai trò thiết chế tự chủ trong hoạt động KHCN,
thiết chế tự chủ đối với tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước
1.2.1. Đặc thù của hoạt động KHCN
11

Hoạt động khoa học là dạng lao động trí tuệ, gồm tổng thể những hoạt
động của con người nhằm tìm hiểu bản chất của sự vật, quy luật diễn biến của
các hiện tượng tự nhiên, xã hội Khi hoạt động này có hệ thống, liên tục thì gọi
là hoạt động nghiên cứu khoa học, mà kết quả của hoạt động này là tạo ra tri
thức khoa học. Nhìn chung, lao động khoa học có các đặc thù như: tính sáng tạo
cao; tính mạo hiểm, rủi ro cao; tính cá thể; tính kế thừa; có độ trễ và khó lượng
hoá. (*) Lý do: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy dùng cụm từ “tổ chức” được sử dụng thông dụng hơn
cụm từ “cơ sở” khi đề cập đến hoạt động nghiên cứu triển khai, tránh hiểu lầm cơ sở là cấp dưới.
11
TS. Hồ Đức Việt, Chủ nhiệm đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách
và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường KHCN ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa” 2002.


cách đa dạng, từ nhiều nguồn để thực hiện các nghiên cứu (như cho vay tín
chấp, cơ chế chia sẻ lợi ích trong đầu tư nghiên cứu…).
- Bốn là, hiệu quả hoạt động KHCN, đặc biệt hoạt động nghiên cứu
thường có “độ trễ” nhất định. Vì vậy cần xem xét giá hiệu quả hoạt động
KHCN theo quá trình và tác động tổng thể trên các mặt của KT-XH, trong đó
có cả vấn đề về nhận thức và đầu tư cho KHCN là đầu tư cho phát triển. 14
1.3 Tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước trong nền kinh tế
thị trường
1.3.1 Vai trò của tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước trong
nền kinh tế thị trường
12

Tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà nước là một loại hình tổ chức
KHCN, do nhà nước thành lập, thuộc sở hữu nhà nước. Sau này, bản thân các
tổ chức này liên doanh liên kết hoặc cổ phần hóa nên có sự chuyển đổi về tỷ
lệ sở hữu của Nhà nước. Sự tồn tại các tổ chức R-D do nhà nước thành lập là
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Điều này xuất phát điểm từ việc
nhận thức tầm quan trọng của KHCN đối với phát triển đất nước, các nhà
nước thể hiện vai trò của mình qua việc thành lập, đầu tư cho các tổ chức R-
D nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ KHCN cho các phục vụ mục tiêu phát
triển.
Nhìn chung, các tổ chức R-D do nhà nước thành lập ở các quốc gia
nhằm thực hiện các nhiệm vụ/mục tiêu nghiên cứu chủ yếu sau:
- Theo định hướng chiến lược phát triển đất nước (chủ yếu là các

phải R- D; còn đối với các viện thuộc địa phương cấp quận, huyện thì con số đó
là 80%
13
.
Ở Mỹ, hơn 2/3 phát minh trong thế kỷ XX là của các nhà sáng chế độc
lập và các công ty nhỏ, trong khi đó, phần lớn các nhà bác học lại làm việc
trong những tổ chức lớn, bao gồm cả tổ chức R-D thuộc nhà nước. Hệ thống
phòng thí nghiệm quốc gia ở Mỹ có hai loại, loại giao cho các tổ chức độc lập
và các hãng quản lý theo hợp đồng và loại do chính nhà nước trực tiếp quản lý.
Thực tế cho thấy, loại phòng thí nghiệm quốc gia do Nhà nước trực tiếp quản lý
thì hoạt động ít linh hoạt hơn bởi chịu nhiều hạn chế, ràng buộc bởi các quy
định của Chính phủ. Ở nhiều quốc gia khác, tình hình cũng tương tự. Nguyên
nhân chính của tình trạng này là do sự thiếu tự chủ trong hoạt động của tổ chức
R-D thuộc nhà nước.
Ở Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu thực tế của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, ngay sau khi hòa bình lập lại (năm 1954), các tổ chức R-D
đã được Nhà nước thành lập, cấp kinh phí và thực hiện các nhiệm vụ do Nhà
nước đặt hàng. Hơn 50 năm hoạt động, KHCN Việt Nam đã đóng góp thiết
thực vào phát triển KT-XH của đất nước trên các mặt, đưa nước ta từ một
nước nghèo đói đến nay đã bảo đảm được an ninh lương thực trong nước và
xuất khẩu nông, lâm thủy sản với kim ngạch xuất khẩu trong lĩnh vực này đạt
trên 15,2 tỷ USD/năm (năm 2009); bộ mặt đô thị được cải thiện, chất lượng
cuộc sống người dân được nâng cao (thu nhập bình quân đầu người của Việt 13
Theo Sách trắng KHCN Trung Quốc, 1986 16

chức R-D phải tự tìm kiếm các nhiệm vụ nghiên cứu, tìm kiếm nguồn thu cho
trả lương và hoạt động bộ máy. Điều này đặt ra vấn đề vai trò của Nhà nước
và tính độc lập của tổ chức này trong môi trường hoạt động mới.
Là đơn vị do Nhà nước thành lập nên các tổ chức R-D phải thực hiện
các nhiệm vụ do các cơ quan nhà nước giao trực tiếp. Tuy nhiên, do bản chất
của hoạt động KHCN là hoạt động sáng tạo nên bản thân các tổ chức R-D có
thể “thích” hay “không thích” khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu được cấp 14
Báo cáo KT-XH của Chính phủ năm 2010.
15
TS. Mai Hà, Tạp chí hoạt động KHCN, tháng 1/2007
16
TS. Hoàng Xuân Long, TS Hoàng Xuân Long, chủ nhiệm Đề tài cấp bộ về “Nghiên cứu luận cứ khoa học
cho việc xây dựng các cơ chế, chính sách về vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R-D”, 2002. 17
trên giao, đó là chưa kể đến tính “hàn lâm”, “thiếu thực tế” của nhiệm vụ
được giao. Điều này có thể dẫn đến sự trì trệ trong việc nghiên cứu hoặc tạo
ra những kết quả nghiên cứu không bảo đảm chất lượng, không đáp ứng được
các mục tiêu đề ra. Mặt khác, có tình trạng do phải chủ động tìm kiếm nguồn
kinh phí cho hoạt động của bộ máy mà nhiều tổ chức R-D không “mặn mà”
với các nhiệm vụ được giao cho do kinh phí được giao để thực hiện là quá
thấp.
Hai là, mối quan hệ giữa chủ thể sở hữu và chủ thể sử dụng trong việc

đạo, tư vấn và giúp đỡ các doanh nghiệp hoặc liên kết nghiên cứu, ứng dụng
KHCN giữa cơ sở nhà nước và doanh nghiệp. Một số quốc gia khác đã có chính
sách tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên R-D
bằng cách cắt giảm nguồn kinh phí được cấp và buộc các đơn vị này phải tự tạo
ra hoặc tìm kiếm những nguồn vốn khác để hoạt động và phát triển. Chính phủ
Pháp cho phép các nhà khoa học trong cơ quan nhà nước trực tiếp tham gia hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Chính phủ Đức đòi hỏi các cơ quan nghiên nhà
nước phải bảo đảm để các nguồn hỗ trợ tư nhân từ bên ngoài tương đương
mức 50%, Chính phủ Úc đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu của Nhà nước cũng
phải tự trang trải được 30% kinh phí hoạt động, coi đây là tiêu chí để lượng
hóa được giá trị của kết quả nghiên cứu
18
. Thậm chí, Chính phủ Pháp còn cho
phép cán bộ nghiên cứu thuộc cơ quan nhà nước được thành lập doanh nghiệp
từ công trình nghiên cứu, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp, trở thành thành
viên của hội đồng quản trị doanh nghiệp, hoạt động tư vấn cho doanh nghiệp.
Viện KHCN Hàn Quốc (KIST) - một tổ chức R-D điển hình của Hàn
Quốc, nổi bật ở đặc trưng độc đáo là viện nghiên cứu làm việc theo hợp đồng.
Không chỉ KIST tự chủ trước nhà nước mà mỗi bộ phận (phòng, ban) của nó
đều có thể độc lập lãnh đạo một hệ thống nghiên cứu và tự chịu trách nhiệm về
tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện các hoạt động nghiên cứu.
Các nước như Braxin, Mêhicô, Ấn Ðộ và Trung Quốc cũng tích cực đề
cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R-D theo hướng công ty
hóa. Chẳng hạn, dưới sự giúp đỡ của Ngân hàng thế giới, những tổ chức R-D ở
các nước này đang được cơ cấu lại và trang bị phương tiện để trở thành các
công ty công nghệ thực thụ.
Ba là, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức R-D.

tiên của nhà nước, phù hợp với phương hướng và nhiệm vụ của chính sách R-
D của nhà nước.
- Trình độ R-D của các công trình nghiên cứu cũng như các kết quả đã
đạt được mức độ tương thích và trình độ quốc tế, khu vực.
- Tiềm lực nghiên cứu cứu của cơ quan có đủ năng lực giải quyết các
nhiệm vụ thuộc lĩnh vực nghiên cứu nhằm theo kịp trình độ tiên tiến của khu
vực và quốc tế.
- Tình hình kinh tế - tài chính của tổ chức xét theo khả năng thực hiện
nhiệm vụ với tư cách là cơ quan KHCN quốc gia trong điều kiện kinh tế thị
trường
19
.
1.4 Các mặt tự chủ của các tổ chức R-D có sử dụng ngân sách nhà
nước
20

Nhìn chung, các tổ chức R-D thuộc nhà nước đều có những quy chế hoạt
động được quy định tương đối rõ ràng làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các 19
Trần Chí Đức, Sdd.
20
Luật KHCN, Nghị định 80/2002/NĐ-CP, Nghị định 115/2005/NĐ-CP.

Trích đoạn Cộng hoà Liờn bang Đức Trung Quốc CHLB Nga Về tổ chức và hoạt động của tổ chức R-D cú sử dụng ngõn sỏch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status