Hoàn thiện khung định mức và quy trình lập dự toán điều tra thống kê có sử dụng ngân sách nhà nước. - Pdf 24

Mục lục
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN KHUNG ĐỊNH MỨC VÀ QUI TRÌNH LẬP DỰ
TOÁN ĐIỀU TRA THỐNG KÊ CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG KINH PHÍ 5
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 5
1 Ngân sách nhà nƣớc(NSNN) 5
1.1.Cơ cấu NSNN 5
1.2.Chức năng, vai trò của NSNN 5
1) Điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế 5
2. Tổ chức hệ thống NSNN 6
3. Phân cấp quản lý ngân sách 6
3.1. Phân định nguồn Thu giữa các cấp ngân sách 7
3.2 Phân định chi giữa các cấp ngân sách 7
4. Quá trình NSNN 8
4.1. Lập và phê chuẩn ngân sách 8
4.2. Chấp hành ngân sách 13
4.3. Quyết toán NSNN 13
4.4. Lập dự toán của ngành Thống kê 14
5. Những vấn đề về định mức 15
5.1. Những vấn đề chung về định mức kinh tế kỹ thuật 15
5.2. Những vấn đề chung về định mức tiền lƣơng, tiền công( lao động) 18
5.3. Định mức phân bổ ngân sách nhà nƣớc 18
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG KINH PHÍ 24
1. Đặc điểm hoạt động của hệ thống thống kê nhà nƣớc Việt Nam 24
1.1 Tổ chức thống kê 24
1.2. Hoạt động thống kê và điều tra thống kê 24
1.3 Kinh phí cho điều tra thống kê 25
1.4. Phân loại các cuộc điều tra 25
1.5. Chƣơng trình điều tra thông kê 26

ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều tra thống kê là một công việc hết sức phức tạp và khó khăn, từ khâu
chuẩn bị phương án, tập huấn cho điều tra viên, thu thập số liệu, tổng hợp, phân
tích và công bố số liệu đòi hỏi rất công phu và tỉ mỉ; trong khí đó kinh phí chi trả
cho một số khâu rất thấp; một số cuộc điều tra do tính chất phức tạp, đòi hỏi người
thu thập số liệu phải có trình độ nhất định về nghiệp vụ thống kê mới có thể thực
hiện được, trong khi đó ở các địa phương trình độ điều tra viên có hạn, nếu sử
dụng cán bộ thống kê để tiến hành điều tra thì chỉ được thanh toán như đi công tác,
đây là một khó khăn lớn, trong khi vừa đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của
ngành, vừa đảm bảo không vi phạm chế độ quản lý tài chính.
Quản lý kinh phí điều tra thống kê là một nhiệm vụ hàng đầu của công tác
quản lý tài chính của ngành Thống kê. Việc sử dụng có hiệu quả kinh phí điều tra
thống kê là góp phần vào việc đảm bảo cung cấp số liệu thống kê có chất lượng,
đầy đủ thông tin, chính xác và kịp thời phục vụ yêu cầu quản lý vĩ mô đối với các
cấp, các ngành; dự báo các hiện tượng kinh tế - xã hội đạt hiệu quả cao.
Với tầm quan trọng như vậy, nhưng tính đến hiện nay chưa có công trình khoa
học nào chính thức và đầy đủ nghiên cứu về công tác xác định định mức các công
việc điều tra thống kê để làm căn cứ xây dựng dự toán các cuộc điều tra, đồng thời
là căn cứ cho việc quản lý, thanh, quyết toán kinh phí điều tra của cả Ngành. Tại
Tổng cục Thống kê đã có một số bài viết liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài như: “Công tác quản lý chi tài chính, tăng cường cơ sở vật chất của ngành
Thống kê” đăng trên Tạp chí Con số và Sự kiện số đặc biệt kỷ niệm 60 ngày thành
lập ngành Thống kê của Ô. Dương Danh Tôn - Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính;
“Thực hiện khoán chi hành chính” đăng trên tạp chí Con số và Sự kiện số tháng
5/2007 của Ô. Phạm Hoài Nam - Chuyên viên Vụ Kế hoạch tài chính. Tuy nhiên,
những bài viết này chưa mang tính bao quát và cụ thể và đầy đủ đến các bước thực
thiện của một cuộc điều tra thống kê.
Để góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê và thực hiện có hiệu quả
công tác quản lý tài chính, việc hoàn thiện khung định mức và qui trình lập dự
toán điều tra thống kê có sử dụng ngân sách là rất cần thiết.

của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
1.2.Chức năng, vai trò của NSNN
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định
hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống
xã hộ
1) Điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế
Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,
kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Trước hết, Chính
phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính
phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước
sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh
nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận
lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có
thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt
động kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành
các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc
quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn
hảo.Trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể
được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn

6
định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông
qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách
nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế
sản xuất kinh doanh.
2) Giải quyết các vấn đề xã hội
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn
cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho
các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính


7
Trong nền kinh tế thị trường ngân sách nhà nước trở thành công cụ quan
trọng giúp nhà nước điều hành nền kinh tế xã hộ Hoạt động của ngân sách nằm
trong sự vận động của thị trường. Tạo nguồn thu cho ngân sách phải gắn với mục
tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân sách phải gắn với
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Do đó, việc xác
định cơ cấu thu chi của các cấp ngân sách cũng như phương pháp quản lý các cấp
ngân sách là rất cần thiết. Phân định nguồn thu và các khoản chi của mỗi cấp ngân
sách là nội dung cơ bản của phân cấp quản lý ngân sách nhằm tạo điều kiện về tài
chính cho chính quyền nhà nước các cấp tham gia vào quá trình tổ chức, huy động,
phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để thực hiện các chức
năng nhiệm vụ xác định. Khi phân cấp quản lý ngân sách cần phải tuân thủ các
nguyên tắc cơ bản sau:
- Đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và vị trí độc lập của
ngân sách địa phương trong hệ thống ngân sách nhà nước thống nhất.
- Xác định cụ thể trách nhiệm và quyền hạn thu chi giữa các cấp ngân sách.
- Đảm bảo sự hợp lý và công bằng giữa các địa phương.
3.1. Phân định nguồn Thu giữa các cấp ngân sách
Có 4 phương pháp thực hiện phân phối nguồn thu giữa các cấp ngân sách:
* Phương pháp thu đủ chi đủ: nội dung của phương pháp này là toàn bộ số
thu và các nhiệm vụ chi của ngân sách đều do ngân sách trung ương đảm nhận.
Phương pháp này đảm bảo cho trung ương quyền chủ động nhưng hạn chế khả
năng sáng tạo của địa phương.
* Phương pháp khoán gọn: Trung ương giao cho địa phương được thu một số
khoản thu xác định để đảm bảo nhiệm vụ chi cho địa phương. Phương pháp này
khuyến khích địa phương quan tâm và bồi dưỡng nguồn thu của mình nhưng
không chú ý đến nguồn thu của trung ương.
* Phương pháp dự phần: Theo phương pháp này ngân sách địa phương được
hưởng một phần từ các khoản thu chung được xác định theo tỷ lệ phần trăm hay

điều đó được thể hiện ở chỗ giai đoạn lập và phê chuẩn ngân sách được bắt đầu
trước năm tài chính, giai đoạn quyết toán ngân sách được thực hiện sau năm tài
chính và trong năm tài chính là thời gian chấp hành ngân sách. Quá trình ngân
sách của nước ta được qui định trong luật Ngân sách Nhà nước.

4.1. Lập và phê chuẩn ngân sách
Mục tiêu của giai đoạn này là để xác định nhiệm vụ động viên, phân phối
tối ưu các nguồn vốn nhằm bảo đảm tính vững chắc, tính khả thi của ngân sách.
Giai đoạn này bao gồm:
1) Lập ngân sách (lập dự toán ngân sách)
Hàng năm vào thời điểm qui định trước khi năm tài chính bắt đầu Chính
phủ và Bộ Tài chính ra thông báo về yêu cầu, nội dung và hướng dẫn lập dự toán
ngân sách cho các bộ, ngành, các cấp. Các đơn vị căn cứ vào hướng dẫn của Bộ
Tài chính lập dự toán ngân sách cho đơn vị mình dựa trên hệ thống luật, định
hướng phát triển kinh tế xã hội của năm kế hoạch và các chính sách, định mức tài
chính.
Các Bộ, ngành và Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố tổng hợp dự toán
ngân sách ở phạm vi mình quản lý gửi cho Bộ Tài chính. Bộ Tài chính sẽ xem xét
dự toán thu chi của các Bộ, ngành và địa phương, tính toán khả năng thu chi, các
giải pháp cân đối ngân sách và tổng hợp thành dự toán ngân sách của năm tài
chính trình Chính phủ. Chính phủ xem xét, thảo luận, điều chỉnh lại các khoản thu
chi nếu thấy cần thiết và trình Quốc hộ
+ Thời gian quy trình xây dựng dự toán ngân sách
Mọi quy trình dự toán ngân sách đều được kết thúc vào ngày cuối cùng của
một năm ngân sách nhưng thời điểm bắt đầu của mỗi nước lại có sự khác nhau, tạo
nên độ dài thời gian xây dựng dự toán ngân sách khác nhau. Quy trình dự toán

9
ngân sách của Việt Nam dài khoảng 6 đến 7 tháng nhưng ở các nước trong khu
vực thường là 10 đến 11 tháng.

lập dự toán Ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương;
Quản lý và chỉ đạo thu Ngân sách Nhà nước; Tổ chức chấp hành ngân sách; Lập
quyết toán ngân sách trung ương và quyết toán Ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính
chịu trách nhiệm về các công việc hạch toán, kế toán, quyết toán thu, chi Ngân
sách Nhà nước, chịu trách về các chính sách, chế độ tài chính; () Bộ Kế hoạch và
Đầu tư chuẩn bị kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Phối hợp với Bộ Tài chính
lập dự toán Ngân sách Nhà nước; Lập phương án phân bổ ngân sách trung ương
trong lĩnh vực phụ trách theo phân công của Chính phủ (phần chi đầu tư); (i) Ngân

10
hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng chiến lược, kế hoạch vay nợ,
trả nợ trong nước và ngoài nước, xây dựng và triển khai thực hiện phương án vay
để bù đắp bội chi Ngân sách Nhà nước.
Tại Malaysia, Bộ Tài chính là một "siêu bộ". Thủ tướng Malaysia kiêm
chức Bộ trưởng Bộ Tài chính, trực tiếp nắm quyền lực cao nhất trong Bộ Tài chính.
Ngoài ra, có một Bộ trưởng khác đảm nhiệm điều hành Bộ Tài chính. Bộ Tài
chính Malaysia chủ trì việc soạn lập dự toán ngân sách, Kho bạc liên bang (trực
thuộc Bộ Tài chính), ngoài các nhiệm vụ quản lý ngân quỹ còn là cơ quan chủ lực
của Bộ Tài chính trong các khâu chuẩn bị, hướng dẫn, soạn thảo dự toán ngân sách
hàng năm.
Tại Thái Lan, có 4 cơ quan chịu trách nhiệm về dự toán ngân sách. Trong
đó: (i) Cục Ngân sách trực thuộc Nội các là cơ quan chủ trì soạn thảo, phân bổ dự
toán chi ngân sách; () Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về các chính sách tài chính,
phần thu ngân sách, phối hợp tham gia các chính sách kinh tế, tiền tệ và dự toán
chi ngân sách; (i) Uỷ ban Phát triển Kinh tế - Xã hội Quốc gia soạn thảo kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắn hạn; tham gia dự thảo dự toán và phân bổ
ngân sách; (iv) Ngân hàng Thái Lan (Ngân hàng TW) chịu trách nhiệm về các
chính sách tiền tệ, tham gia dự thảo dự toán ngân sách.
Tại Hàn Quốc, Bộ Kế hoạch và Ngân sách chủ trì soạn thảo dự toán và các
phương án phân bổ ngân sách; Bộ Kinh tế - Tài chính, chủ trì soạn thảo kế hoạch

mình. Hướng dẫn lập dự toán luôn có những nội dung cơ bản như:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân
sách năm hiện hành;
- Dự báo về tình hình kinh tế, tình hình thu, chi ngân sách cho khoảng thời
gian còn lại của năm hiện hành và năm tiếp theo;
- Định hướng xây dựng dự toán ngân sách năm tiếp theo;
* Tại Việt Nam: Căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là:
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng;
- Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan khác ở Trung ương, địa phương;
- Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước; định mức phân bổ ngân sách
nhà nước, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách;
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài
chính về việc lập dự toán ngân sách; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch vốn đầu tư phát triển
thuộc ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn của uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh;
- Số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước do Bộ Tài chính thông
báo và số kiểm tra về dự toán chi đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch và đầu tư
thông báo cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác
ở trung ương và uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ủy
ban nhân dân cấp trên thông báo số kiểm tra cho các đơn vị trực thuộc và uỷ ban
nhân dân cấp dưới;
- Tình hình thực hiện ngân sách các năm.
+ Yêu cầu đối với lập dự toán ngân sách hàng năm:
- Dự toán ngân sách nhà nước và dự toán ngân sách các cấp chính quyền
phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên,
chi đầu tư phát triển, chi trả nợ; khi lập dự toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo
tổng số thu thuế và phí, lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên;

nước trở thành một đạo luật của nhà nước mà mọi pháp nhân và thể nhân trong xã
hội đều có trách nhiệm thực hiện.
Để ban hành được Hướng dẫn lập dự toán, cơ quan chủ trì dự toán ngân
sách phải tổ chức nhiều cuộc thảo luận với các bộ và các đơn vị liên quan. Tại
Thái Lan, việc thảo luận này được tiến hành khá kỹ giữa Cục Ngân sách trực thuộc
Nội các (chủ trì soạn thảo dự toán) với Bộ Tài chính (chủ trì thu ngân sách và
chính sách tài chính), Uỷ ban Phát triển Kinh tế - Xã hội Quốc gia (chủ trì kế
hoạch kinh tế - xã hội) và Ngân hàng Thái Lan (chủ trì chính sách tiền tệ). Thông
qua các thảo luận đó, những vấn đề kinh tế - xã hội, những vấn đề về tài chính,
tiền tệ luôn được thảo luận kỹ càng, có sự phối hợp chặt chẽ, tạo ra những căn
cứ tốt cho cơ quan chủ trì soạn lập ngân sách đưa vào trong hướng dẫn lập dự toán.
Đó cũng chính là cơ sở đảm bảo gắn kết việc thiết lập dự toán ngân sách, gắn kết

13
việc phân bổ, sử dụng ngân sách với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị,
xã hộ

3) Công bố ngân sách nhà nƣớc
Sau khi dự toán ngân sách nhà nước được Quốc hội phê chuẩn sẽ được
chuyển sang cho nguyên thủ quốc gia: Chủ tịch nước để công bố và giao cho
Chính phủ thực hiện bằng cách uỷ nhiệm cho Bộ Tài chính giao các chỉ tiêu pháp
lệnh về thu và chi ngân sách cho từng bộ và từng địa phương để thi hành.

4.2. Chấp hành ngân sách

Dự toán ngân sách được phê chuẩn và được thực hiện khi năm tài chính bắt
đầu. Nội dung của giai đoạn này là tập trung đầy đủ, kịp thời mọi nguồn thu vào
ngân sách và cấp phát cho các nhiệm vụ chi đã xác định nhằm động viên, phân
phối và sử dụng các nguồn tài chính của xã hội để thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội trong năm tài chính. Chấp hành ngân sách bao gồm chấp hành

toán phải được đối chiếu và được kho bạc nhà nước nơi giao dịch xác nhận. Thủ
trưởng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, xử lý quyết toán thu, chi
ngân sách của các đơn vị trực thuộc, lập quyết toán thu, chi ngân sách thuộc phạm
vi mình quản lý gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan tài chính các cấp ở
địa phương xét duyệt quyết toán thu chi ngân sách của các cơ quan cùng cấp, thẩm
tra quyết toán ngân sách cấp dưới, tổng hợp lập quyết toán ngân sách địa phương
trình uỷ ban nhân dân cùng cấp để uỷ ban nhân dân cùng cấp xem xét trình hội
đồng nhân dân cùng cấp phê chuẩn và gởi cho Bộ tài chính.
Bộ Tài chính kiểm tra xem xét quyết và tổng hợp quyết toán thu, chi ngân
sách của các bộ, ngành ở trung ương và địa phương, sau đó tổng hợp và lập tổng
quyết toán ngân sách nhà nước trình Chính phủ để Chính phủ đệ trình Quốc hộ
Quốc hội sau khi nghe báo cáo kiểm tra của cơ quan Tổng kiểm toán quốc gia sẽ
xem xét và phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nước.
4.4. Lập dự toán của ngành Thống kê
Sau khi có Thông tư hướng dẫn lập dự toán kinh phí của Bộ Tài chính,
Tổng cục Thống kê hướng dẫn các đơn vị cấp dưới và các Vụ nghiệp vụ của Tổng
cục lập dự toán chi ngân sách nhà nước gửi về Vụ Kế hoạch tài chính (Tổng cục
Thống kê). Trên cơ sở những bảng dự toán năm của đơn vị và dự toán kinh phí
điều tra của các vụ nghiệp vụ, Vụ Kế hoạch tài chính sẽ tiến hành xem xét, thẩm
định dự toán của các đơn vị trực thuộc, sau đó tổng hợp để lập dự toán chi ngân
sách nhà nước toàn ngành gửi Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bảng dự
toán của các đơn vị cấp dưới bao gồm:
+ Phần thu ngân sách nhà nước
- Thu của các đơn vị hoạt động sự nghiệp gồm thu phí, lệ phí và các khoản
thu khác.
+ Phần chi ngân sách nhà nước
Chi cho lĩnh vực quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, khoa học quản lý
giáo dục, sự nghiệp nghiên cứu khoa học và chương trình mục tiêu.
- Kinh phí định mức theo biên chế và khu vực: Các đơn vị căn cứ vào kế
hoạch biên chế được Tổng cục giao và Định mức phân bổ kinh phí theo khu vực

chất lượng như ISO, HACCP, SA 800…Hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong
nền kinh tế quốc dân bao gồm nội dung kinh tế-kỹ thuật sau:
- Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu, bao gồm định mức tiêu dùng kim
loại, định mức tiêu dùng gỗ, định mức tiêu dùng vật liệu xây dựng, định mức tiêu
dùng bông, sợi, hàng dệt,…
- Định mức tiêu dùng nhiên liệu, điện năng, bao gồm định mức tiêu dùng
điện năng, định mức tiêu dùng xăng dầu, định mức tiêu dùng than,…
- Định mức tiêu dùng các sản phẩm hoá chất, bao gồm định mức tiêu dùng
axit, định mức tiêu dùng bazơ, định mức tiêu dùng sơn, định mức tiêu dùng chất
dẻo,…
- Định mức sử dụng máy móc thiết bị, bao gồm định mức sử dụng thời gian,
định mức sử dụng theo công suất
- Tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm, bao gồm tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu
chuẩn cơ sở,…
- Quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm quản lý chất lượng theo ISO-9000,
quản lý chất lượng theo HACCP, quản lý chất lượng theo SA 8000, quản lý chất
lượng theo TQM,…

16
- Các quy định của Chính phủ về việc sản xuất, lưu thông, tiêu dùng các sản
phẩm bao gồm các quy định về việc cấm sản xuất, lưu thông, sử dụng, các quy
định về việc sản xuất, lưu thông có điều kiện, các quy định trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh về tiêu chuẩn chất lượng, về vệ sinh an toàn, về bảo vệ môi
trường…
Định mức kinh tế kỹ thuật phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm là căn cứ tương đối chính xác để xây dựng và thực hiện tốt kế
hoạch, quản lý kinh tế, tài chính và quản lý kỹ thuật;
- Phù hợp với các điều kiện tổ chức - kỹ thuật của từng thời kỳ kế hoạch;
- Bảo đảm sự thống nhất giữa các loại định mức và phương pháp xây dựng
định mức.

kế hoạch.
Đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản: Định mức dự toán xây dựng cơ bản (gọi
tắt là định mức dự toán) là định mức kinh tế - kỹ thuật xác định mức hao phí cần
thiết về vật liệu, lao động và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng
công tác xây lắp tương đối hoàn chỉnh như 1m3 tường gạch, 1m2 lát gạch, 1m2
mái nhà v.v từ khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây lắp (kể cả những hao
phí cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thi công xây
lắp liên tục, đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật)
Căn cứ để lập định mức dự toán là các định mức sản xuất (còn gọi là định
mức thi công) về sử dụng vật liệu, lao động, máy thi công trong xây dựng cơ bản.
Các quy chuẩn xây dựng, quy phạm kỹ thuật về thiết kế - thi công - nghiệm thu;
mức cơ giới hoá chung trong ngành xây dựng; tình hình trang thiết bị kỹ thuật, tổ
chức lực lượng của các đơn vị xây lắp, cũng như kết quả đưa áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật trong xây dựng thời gian vừa qua như sử dụng các vật liệu mới, cao
cấp, thiết bị và công nghệ thi công tiên tiến.
Định mức dự toán bao gồm mức hao phí vật liệu, mức hao phí lao động,
mức hao phí máy thi công. Mức hao phí vật liệu chính được tính bẳng số lượng
theo đơn vị thống nhất của nhà nước, mức hao phí vật liệu phụ khác được tính
bằng % tính trên chi phí vật liệu chính; Mức hao phí lao động chính và phục được
tính bằng số ngày công theo cấp bậc của công nhân trực tiếp xây lắp bình quân;
Mức hao phí máy thi công chính được tính bằng số lượng ca máy sử dụng, mức
hao phí máy thi công phụ khác được tính bằng tỷ lệ % trên chi phí sử dụng máy
chính.
Định mức dự toán được áp dựng để lập đơn giá xây dựng, làm cơ sở để lập
dự toán xây lắp công trình xây dựng cơ bản thuộc các dự án đầu tư xây dựng.
Đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh: Mục đích của hoạt động sản xuất
kinh doanh là đảm bảo hiệu quả cao, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia
và quốc tế với chi phí kinh doanh thấp được thị trường chấp nhận. Muốn đạt được
mục đích ấy, trong sản xuất kinh doanh phải xây dựng các định mức, các tiêu
chuẩn chất lượng của nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phụ tùng,…Để đảm bảo

- Định mức tiền lương cho cán bộ công chức, viên chức,
Cán bộ công chức được hưởng tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, công
vụ được giao, nhà nước đã ban hành chi tiết hoá các thang, bảng lương cho cán bộ,
công chức, viên chức thuộc các lĩnh vực và các ngành nghề hoạt động thực hiện.
- Định mức lao động trong sản xuất
Định mức lao động trong doanh nghiệp nhà nước là cơ sở để kế hoạch hoá
lao động, tổ chức sử dụng lao động phù hợp với quy trình công nghệ, nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; là cơ sở để xây dựng đơn giá tiền lương và
trả lương gắn với năng suất chất lượng và kết quả công việc của người lao động,
định mức được xây dựng trên cơ sở; kiến thức và kỹ năng; trí lực; thể lực và
cường độ lao động; môi trường; trách nhiệm trên cơ sở đó thiết lập, thang, bậc
lương để đơn vị trả lương theo thời gian hoặc sản phẩm nhằm khuyến khích sản
xuất phát triển.
5.3. Định mức phân bổ ngân sách nhà nƣớc
Ngân sách nhà nước là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ
"Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi
quốc gia, ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong
một giai đoạn nhất định của quốc gia. Ở nước ta Luật Ngân sách Nhà nước đã
được Quốc hội Việt nam thông qua năm 1996 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là
toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ quan chính phủ

19
có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện
các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ.
Ngân sách nhà nước có vai trò là một công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều
chỉnh đời sống xã hộ
Chi Ngân sách nhà nước là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động
ngân sách nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ
ngân sách nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho

2004 thấp hơn mức dự toán chi năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã giao thì được
bổ sung để bảo đảm không thấp hơn mức dự toán năm 2003.

20
Định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính năm 2004 bao gồm tiền
lương, các khoản có tính chất lương, các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, trích theo lương, chi nghiệp vụ, đoàn ra, đoàn vào và các
khoản mua sắm, sữa chữa thường xuyên.
Quyết định này quy định đối với cơ quan quản lý ngành dọc (trong đó có
Tổng cục Thống kê) thì định mức được phân bổ dự toán chi ngân sách năm 2004
là 20 triệu đồng/biên chế/năm.
Về cơ bản, định mức này phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính công bằng,
công khai và minh bạch các nhiệm vụ chi ngân sách của từng bộ, ngành, cơ quan
trung ương và các địa phương theo quy định của Luật ngân sách, góp phần thúc
đẩy tiết kiệm, khuyến khích xã hội hóa, cải cách hành chính trong công tác xây
dựng và quản lý dự toán ngân sách nhà nước.
Qua quá trình thực tế thực hiện hệ thống định mức phân bổ chi thường
xuyên của ngân sách Nhà nước năm 2004 đã đạt được những kết quả quan trọng
như: Cơ bản đã đảm bảo tính công bằng, hợp lý; đảm bảo tính công khai, minh
bạch của ngân sách Nhà nước. Đồng thời đã thể hiện ưu tiên đối với vùng miền
núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn và vùng kinh tế trọng
điểm; Phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước, bảo đảm thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường
công tác quản lý tài chính, sử dụng ngân sách có hiệu quả, tiết kiệm.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện hệ thống định mức phân bổ chi thường
xuyên của ngân sách Nhà nước năm 2004 còn một số hạn chế: Chưa điều chỉnh
kịp thời tình trạng lạm phát của quốc gia, chỉ số giá tiêu dùng tăng hàng năm,
phạm vi hệ thống định mức phân bổ chưa bao quát hết các lĩnh vực chi thường
xuyên của ngân sách nhà nước; các vùng miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân
tộc khó khăn mặc dù đã được ưu tiên trong hệ thống định mức phân bổ ngân sách;

mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách
địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ
phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên.
- Thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cải cách hành chính nâng
cao chất lượng dịch vụ công, sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước góp phần đổi
mới quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp công, khuyến khích xã hội hoá,
huy động các nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế - xã hộ
- Các tiêu chí của định mức phân bổ ngân sách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu,
dễ thực hiện và kiểm tra, đảm bảo công bằng, công khai và minh bạch, từng bước
phù hợp với thông lệ quốc tế.
Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước ban hành
kèm theo Quyết định này đã bao gồm toàn bộ tiền lương theo quy định tại Nghị
định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004, Nghị định số
118/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm 2005 và Nghị định số 119/2005/NĐ-CP
ngày 27 tháng 09 năm 2005 của Chính phủ. Định mức này là cơ sở để xây dựng
dự toán chi ngân sách của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
các cơ quan khác ở Trung ương, dự toán chi ngân sách của từng tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (bao gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã).
Định mức phân bổ năm 2007 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những kết
quả của định mức phân bổ chi Ngân sách Nhà nước theo Quyết định 139 về hệ
thống tiêu chí phân bổ, về phân vùng (đô thị; đồng bằng; vùng miền núi, đồng bào
dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu; vùng cao - hải đảo); bổ sung định mức phân bổ
ngân sách đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường; thực hiện chính sách trợ giá, trợ
cước; tăng mức ưu tiên hơn đối với vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc khó
khăn. Đối với chi ngân sách địa phương, tiếp tục lấy chỉ tiêu dân số là tiêu chí chủ
yếu, đồng thời sử dụng các tiêu chí bổ sung đối với từng lĩnh vực chi ngân sách để

22
đảm bảo tính đặc thù đối với từng vùng, từng địa phương; bảo đảm kinh phí thực
hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đã ban hành và nhu cầu kinh phí thực

kê thành phố thuộc tỉnh đồng bằng: 31,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống
kê huyện, thị xã khu vực núi thấp - vùng sâu: 34,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống
kê huyện, thị xã khu vực núi cao - hải đảo: 37,0 triệu đồng/biên chế/năm.

23
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống
kê các Quận của thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, thành phố Cần Thơ:
31,0 triệu đồng/biên chế/năm.
Định mức này là căn cứ để các đơn vị trực thuộc Tổng cục xây dựng dự
toán cho thời kỳ ổn định ngân sách bắt đầu từ năm 2007. Định mức trên đã bao
gồm: tiền lương, các khoản có tính chất lương, các khoản trích theo lương theo
Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004, Nghị định số 118/2005/NĐ-CP
ngày 15/9/2005 của Chính phủ; chi nghiệp vụ, chi đoàn ra, đoàn vào và các khoản
mua sắm sửa chữa thường xuyên, định mức này vừa là cơ sở để lập dự toán hàng
năm, đồng thời cũng là căn cứ quan trọng để phân bổ ngân sách cho các đơn vị
trực thuộc. Vì vậy việc xây dựng định mức phân bổ kinh phí đóng vai trò quan
trọng trong quản lý, điều hành ngân sách nhà nước.
6. Một số văn bản qui phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực quản lý,
sử dụng và quyết toán kinh phí điều tra thống kê có sử dụng ngân sách nhà
nƣớc và quy định chung về lĩnh vực tài chính đối với cơ quan Nhà nƣớc
6.1.Văn bản quy định về thu, chi lập quyết toán NSNN có liên quan đến
điều tra thống kê (Phụ lục 1)
6.2. Văn bản về một số định mức
Một số những văn bản quy định về định mức, tiêu chuẩn áp dụng đối với cơ
quan nhà nước ở một số nội dung chi như: lương phụ cấp, điện thoại, trang thiết bị,
sử dụng trụ sở, công tác phí, hội nghị vv (Chi tiết xem tại Phục lục 2).
phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê;
+ Điều tra thống kê để bổ sung thông tin từ các tổ chức có thực hiện chế độ
báo cáo thống kê;
+ Điều tra thống kê để thu thập những thông tin từ hộ hoặc cơ sở kinh
doanh cá thể, hộ gia đình, cá nhân;

25
+ Điều tra thống kê để thu thập những thông tin thống kê khi có nhu cầu
đột xuất.
1.3 Kinh phí cho điều tra thống kê
Kinh phí điều tra thống kê được quy định tại điều 12 Nghị định
40/2004/NĐ-CP:
1. Kinh phí để thực hiện các cuộc điều tra thống kê do ngân sách nhà nước
đảm bảo và được bố trí trong dự toán ngân sách của các cơ quan theo quy định của
Luật Ngân sách Nhà nước (bao gồm cả nguồn kinh phí khác do tổ chức quốc tế tài
trợ theo các chương trình dự án) theo quy mô, tính chất của từng cuộc điều tra.
2. Kinh phí bảo đảm cho các cuộc điều tra thống kê ngoài chương trình điều
tra thống kê quốc gia do Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thống kê và
các Bộ, ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định theo quy định hiện
hành.
3. Kinh phí đảm bảo cho các cuộc điều tra thống kê do Uỷ Ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định do ngân sách địa phương đảm
bảo.
4. Kinh phí đảm bảo cho các cuộc điều tra thống kê phải được lập và gửi
cho cơ quan tài chính để trình cấp sơ thẩm quyền xem xét, quyết định.
5. Cơ quan tài chính các cấp căn cứ dự toán kinh phí các cuộc điều tra được
tiến hành theo quy định tại Điều 8, Điều 9, của Nghị định và khoản 1, khoản 2,
khoản 3 Điều này để đảm bảo kinh phí cho các cuộc điều tra, hướng dẫn việc quản
lý, sử dụng, quyết toán kinh phí điều tra thống kê theo quy định của Luật Ngân
sách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status