CÁC BƯỚC VÀ QUY TRÌNH LẬP DỰ ÁN HỒ SƠ
THIẾT KẾ MỘT CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC.
HỒ SƠ CỦA ĐỒ ÁN THIẾT KẾ KIẾN TRÚC.
A.MỞ ĐẦU:
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; để thực hiện được chủ đề sáng tác của tác giả
phải sử dụng các phương tiện hoặc thể hiện chính xác để có thể biểu diễn được tác
phẩm.
- Đối với thơ ca: Con người cảm thụ được ý đồ của tác giả thông qua ngôn ngữ văn
học hay giọng thơ ngâm của nghệ sĩ. Như vậy, phương tiện “ mang tin” là chữ viết
– một dạng ký hiệu.
- Đối với âm nhạc: Chủ đề của bản nhạc được truyền cảm tới thính giả qua sự hoà
âm, phối khí của dàn nhạc dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng. Vởy để biểu diễn được
tốt, dàn nhạc phải có phương tiện mang tin là nốt nhạc và dấu nhạc.
- Đối với điện ảnh: ý đồ tư tưởng, chủ thể của vở kịch hay bộ phim từ tác giả
truyền cảm tới khán giả thông qua tình tiết biểu diễn của diễn viên. Để diễn viên
thể hiện được chuẩn xác, phải có các ký hiệu thể hiện, động tác, sự diễn cảm.
- Đối với lĩnh vực kiến trúc cũng như vậy: ý đồ sáng tác của kiến trúc sư ( tư duy
trìu tượng) được thể hiện bằng phương tiện kỹ thuật, tay nghề thành thạo của con
người và sự phối kết các loại vật liệu dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư và kỹ sư thi
công xây dựng. Để diễn đạt ý đồ sáng tạo phải có “ vật mang thông tin” - đó là đồ
án thiết kế kiến trúc. Vậy đồ án thiết kế kiến trúc là những bản vẽ trong đó có các
sơ đồ, hình vẽ, kí hiệu kỹ thuật, mĩ thuật, và phân thuyết minh, tính toán để diễn
đạt các yêu cầu của kiến trúc. Phần bản vẽ và phần thuyết minh có tác dụng hỗ trợ
cho nhau một cách đầy đủ chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
công trình.
B. HỒ SƠ THIẾT KẾ KIẾN TRÚC
Lập hồ sơ thiết kế kiến trúc là giai đoạn đầu tiên và rất quan trọng, vì trong
giai đoạn này người kiến trúc sư phải đầu tư suy nghĩ nhiều về mọi mặt:
- ý đồ tư tưởng chủ đạo về công trình.
- Xã hội học, tâm – sinh lý học của con người.
- Đặt điểm tính chất của công trình.
khí.
- Dự kiến về kinh phí xây dựng công trình.
- Kế hoạch, thời gian thiết kế và xây dựng công trình.
- Bước lập nhiệm vụ thiết kế này có thể do bên A làm hoặc giao cho bên B làm để
bên A xem xét.
2. Địa điểm dự kiến xây dựng công trình
Ngày xưa, để xây dựng ngôi nhà trên mảnh đất nào đó, ông cha ta phải mời
“thầy địa lý” xem đất, đặt hướng để gia đình sống trong ngôi nhà đó được an
khang, thịnh vượng cho cả đời con cháu về sau. Điều này không chỉ là vấn đề thần
thánh hoá, mê tín dị đoan, mà người đời xưa cũng có kinh nghiệm lưu truyền mang
tính triết lý của khoa học nhân văn.
Ngày nay, kiến trúc sư sáng tác một công trình kiến trúc cũng cần chú ý đến
địa điểm xây dựng, thể hiện ở:
- Vị trí địa lý của khu đất xây dựng: Công trình kiến trúc được đặt ở nơi nào: thành
phố, nông thôn, miền núi, trung du, đông bằng hay ven biển… Vị trí địa lý có liên
quan đến nhiều yếu tố khác.
- Hình dáng, kích thước, địa hình ( có thể hiện “ đường đồng mức”) của khu đất
được thiết kế để xây dựng công trình.
- Hướng của khu đất xây dựng, định vị phương hướng tự nhiên ( đông, tây, nam,
bắc) phía trước, phía sau, bên phải và bên trái khu đất có ảnh hưởng đến sự chon
hướng của công trình, vì nó có ảnh hưởng của gió, nắng, bão, mưa, nhiệt trong các
mùa.
- Cơ sở hạ tầng: các tuyến giao thông, đường dây điện, đường ống cấp thoát nước,
mạng lưới thông tin, liên lạc.
- Các công trình đã xây dựng, nhà cửa, cây cối, hồ nước, sông ngòi, phong cảnh
thiên nhiên xung quanh nơi sẽ xây dựng công trình kiến trúc mới.
- Các tài liệu về địa chất công trình và địa chất thuỷ văn của khu đất xây dựng, cấu
tạo địa tầng, sức chịu tải của đất, mực nước ngầm.v.v.
- Tài liệu về khí tượng như: nhiệt độ ngoài trời ( Tmin, Tmax, Tbt) trong các mùa, độ
ẩm tương đối của không khí, gió (hướng gió, tốc độ gió có hoa gió của địa