ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN QUANG PHÚC
SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VỚI BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TỈNH HẢI DƢƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN QUANG PHÚC
SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VỚI BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP TỈNH HẢI DƢƠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.2.2. Vật mang chính sách khoa học và công nghệ ..........................................18
1.2.3. Kiến tạo xã hội của chính sách khoa học và công nghệ ............................20
1.3. Cơ sở lý luận về bảo hộ sở hữu công nghiệp .................................................21
1.3.1. Khái quát về sở hữu trí tuệ .......................................................................21
1.3.2. Đối tƣợng của quyền sở hữu công nghiệp ...............................................23
1.3.3. Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp ........................................26
1.3.4. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp .......................................29
1.4. Mối quan hệ giữa chính sách khoa học và công nghệ với bảo hộ sở hữu công
nghiệp ....................................................................................................................33
1.4.1. Sự tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu
công nghiệp ........................................................................................................33
1.4.2. Sự tác động của bảo hộ sở hữu công nghiệp đến chính sách khoa học và
công nghệ ...........................................................................................................39
Kết luận Chƣơng 1 ................................................................................................42
CHƢƠNG 2. .............................................................................................................43
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ......................43
ĐẾN BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ..............................................................43
3
2.1. Tác động dƣơng tính của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở
hữu công nghiệp ....................................................................................................43
2.1.1. Tác động đến nhận thức về sở hữu công nghiệp .....................................43
2.1.2. Hỗ trợ doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu công nghiệp ........................50
2.1.3. Thu thập thông tin và bổ sung cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp ...........56
2.2. Tác động âm tính của chính sách khoa học và công nghệ đến bảo hộ sở hữu
công nghiệp ...........................................................................................................56
2.2.1. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ....................................................56
2.2.2. Thực thi chính sách không nhất quán ......................................................57
4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1. Danh sách các doanh nghiệp đƣợc hỗ trợ kinh phí bảo hộ sở hữu
công nghiệp năm 2009.......................................................................... trang 48
Bảng 2.2. Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp và số văn bằng
đƣợc cấp................................................................................................ trang 51
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã trở thành yếu tố cốt lõi của sự
phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, KH&CN là
quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển nhanh, bền vững đất nƣớc. Chính sách KH&CN là các chủ trƣơng, biện
pháp của Nhà nƣớc nhằm phát triển KH&CN phục vụ cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Chính sách KH&CN đƣợc xây dựng trên
cơ sở những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với từng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế trong từng giai đoạn phát triển. Với tƣ
cách là động lực chủ yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, Chính sách
KH&CN có tác động sâu sắc, toàn diện và có ý nghĩa quyết định tới sự phát
triển của mọi mặt của đời sống xã hội nói chung cũng nhƣ trong mọi lĩnh vực
của nền kinh tế nói riêng. Chính sách KH&CN tác động trực tiếp tới hiệu quả
của quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt nam trong
với sự hạn chế ít nhiều trong việc tiếp cận các vấn đề lý thuyết về chính sách
KH&CN, về sự tác động đến hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,
đặc biệt với mong muốn đem những kết quả nghiên cứu của mình đóng góp
cho sự phát triển của hoạt động quản lý KH&CN của tỉnh nhà, học viên lựa
chọn đề tài Sự tác động qua lại giữa chính sách KH&CN với bảo hộ sở hữu
công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương) làm nội dung nghiên
cứu cho Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý KH&CN.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, hƣớng nghiên cứu về tác động của chính sách khoa học công
nghệ là một trong những vấn đề then chốt, kinh điển trong khoa học quản lý
nói chung và quản lý khoa học công nghệ nói riêng. Trong đó, phải kể đến
một số nghiên cứu tiêu biểu nhƣ:
- Đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc Khoa học và Công nghệ với việc phát
triển nông nghiệp, nông thôn do GS.TS Chu Tuấn Nhạ chủ trì năm 1997 đã
nghiên cứu vai trò của khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học thể hiện qua
công nghệ để chuyển giao cho nông nghiệp và phát triển nông thôn;
7
- Nghiên cứu của Đàm Văn Nhuệ và Nguyễn Đình Quang (1998) “Lựa
chọn công nghệ thích hợp ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam”, đã phân
tích tình hình công nghệ trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác của
doanh nghiệp.
- Nghiên cứu của Trần Ngọc Ca (2000) “Nghiên cứu cơ sở khoa học
cho việc xây dựng một số chính sách và biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới
công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam”,
đã đề cập về 2 mảng chính sách (tài chính và nhân lực) ảnh hƣởng đến đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp. Bên cạnh những điểm tích cực của những
chính sách này cũng cho thấy có sự chƣa phù hợp của môi trƣờng chính sách
với nhu cầu của hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp;
Quản lý KH&CN, ĐHKHXH&NV, 2011)
- Chính sách phát triển công nghệ theo hướng thị trường kéo nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghiên cứu
trường hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải
Dương), (Luận văn thạc sĩ của học viên cao học Vũ Ngọc Dƣơng, chuyên
ngành Quản lý KH&CN, ĐHKHXH&NV, 2012)
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách
khoa học và công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả
và quyền sở hữu công nghiệp.
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên
cứu đã công bố, đề tài nghiên cứu của học viên sẽ đề cập tới việc nghiên cứu
một cách toàn diện những tác động của chính sách KH&CN tới hoạt động bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Hải Dƣơng, từ đó đề xuất
những giải pháp nhằm tăng cƣờng những tác động tích cực của chính sách
KH&CN tới hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, nâng cao hiệu quả
của hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn cũng nhƣ đƣa ra
những kiến nghị góp phần hoạch định, hoàn thiện chính sách KH&CN có liên
quan đến lĩnh vực sở hữu công nghiệp từ những nhu cầu thực tế phát sinh
trong hoạt động này tại địa phƣơng.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu sau đây:
9
Chính sách KH&CN có tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp,
ngƣợc lại bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là công cụ trong việc thực
hiện chính sách KH&CN, đồng thời tác động trở lại quá trình điều chỉnh
chính sách KH&CN.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
điều chỉnh chính sách KH&CN
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu chủ đạo: Chính sách KH&CN, bảo hộ sở hữu
công nghiệp đã tác động qua lại lẫn nhau nhƣ thế nào?
- Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
1. Chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp nhƣ
thế nào?
2. Bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò gì đối với việc thực hiện
chính sách KH&CN?
3. Bảo hộ sở hữu công nghiệp đã tác động trở lại quá trình điều chỉnh
chính sách KH&CN nhƣ thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết nghiên cứu chủ đạo: Chính sách KH&CN đã tác động
dƣơng tính đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngƣợc lại bảo hộ sở hữu công
nghiệp là một công cụ thực hiện chính sách KH&CN.
- Các giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
1. Chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp thể
hiện trên các khía cạnh: tác động đến nhận thức của doanh nghiệp/cá nhân về
sở hữu công nghiệp; hỗ trợ cho doanh nghiệp/cá nhân xác lập quyền sở hữu
công nghiệp.
2. Bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng vai trò là một công cụ quan trọng
để thực hiện chính sách KH&CN.
3. Bảo hộ sở hữu công nghiệp đã tác động trở lại quá trình điều chỉnh
chính sách KH&CN, thể hiện trên các khía cạnh: bổ khuyết, sửa đổi các quy
định của chính sách KH&CN.
11
Xin lưu ý: giả thuyết nghiên cứu cụ thể số 1 mà Luận văn đã nêu là
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1. Cơ sở lý luận về chính sách
1.1.1. Khái niệm chính sách1
Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó có:
tiếp cận chính trị học, tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã
hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ
thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp. [4;11]
Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến
những yếu tố sau đây:
- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc
chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chế hoá thành những quy định có giá trị
pháp lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà
chủ thể quyền lực mong đợi.
- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể
quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự
phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số)
nhóm xã hội nào đó.
- Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động
của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các
mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống
theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra.
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời
khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm
những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối
thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ
thống (hệ thống xã hội).
1
cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo
động cơ cho đối tƣợng chính sách.
- Chính sách phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói
trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trƣờng, mục tiêu phát triển
của một địa phƣơng, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,...
14
Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, ngƣời quản lý cần
xác định rõ các đặc điểm sau:
- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó
trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn
thắng trong cuộc chơi, nhƣng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà
đối tác cảm thấy đƣợc chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn
đối tác vào đƣờng cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng
chơi tiếp sau.
- Cuối cùng, một chính sách đƣa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố
bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhƣng đến lƣợt mình, chính sách lại làm
xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới. Nhƣ vậy, quá trình làm chính sách
thực chất là tạo ra những bƣớc phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này
tới những bất đồng bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao
giờ ảo tƣởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối. ổn định, có nghĩa là không còn
phát triển.
- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt đƣợc là tạo ra những
biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra. Khái niệm
“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây đƣợc sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung
lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhƣng lại là “tồi
tệ” theo một nghĩa nào đó.
Định nghĩa của Luận văn
- Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính
sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngƣợc lại với mục tiêu của
chính sách.
- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một
chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ
quan quyết định của chính sách. Trong tác động ngoại biên, ngƣời ta lại có thể
thấy xuất hiện tác động ngoại biên dƣơng tính và tác động ngoại biên âm tính.
Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng
cao hiệu quả của chính sách.
2
Tham khảo từ: Vũ Cao Đàm (2011), sđd
16
Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm
thiểu hiệu quả của chính sách.
1.1.3. Chuỗi tác động của chính sách
Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau.
Các tác động này có thể dƣơng tính, âm tính, ngoại biên. Chính đây là nguyên
nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một
chính sách.
- Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau
khi chính sách đƣợc công bố. Tác động trực tiếp có thể là dƣơng tính, âm tính,
ngoại biên.
- Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nối tiếp diễn ra sau tác
động trực tiếp. Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một
vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn. Tác động nối tiếp cũng có
Nhƣ vậy, chính sách KH&CN đƣợc thể hiện theo những khía cạnh:
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN.
- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dƣới
dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dƣới luật, nhƣ nghị định, chỉ thị của
chính phủ; thông tƣ hƣớng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt
động KH&CN.
- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá
nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN.
- Chính sách KH&CN phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã
hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế xã hội nói chung.
1.2.2. Vật mang chính sách khoa học và công nghệ
Vật mang chính sách trong định nghĩa trên bao gồm:
a. Hiến pháp: Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất.
b. Luật và pháp lệnh
Trong Luận văn này, văn bản luật với tƣ cách là vật mang chính sách
KH&CN bao gồm:
- Luật KH&CN đƣợc Quốc hội thông qua năm 2000;
18
- Luật SHTT đƣợc Quốc hội thông qua năm 2005, sửa đổi bổ sung năm
2009;
- Luật chuyển giao công nghệ đƣợc Quốc hội thông qua năm 2006;
- Luật Công nghệ cao đƣợc Quốc hội thông qua năm 2008.
c. Nghị định
Trong Luận văn này, nghị định với tƣ cách là vật mang chính sách
KH&CN bao gồm:
- Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 Quy định chi tiết và
hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp.
- Nghị định 133/2008/NĐ-CP ngày 31.12.2008 Quy định chi tiết và
nhân tạo) được thiết chế hóa trong hệ thống xã hội. Kiến tạo xã hội được tạo
dựng bởi các thành viên tham dự trong một nền văn hoá hoặc xã hội đặc thù,
trong đó người ta chấp nhận những hành vi hiện hữu hoặc đi theo những quy
luật của tập quán. [23]
Kiến tạo xã hội của chính sách đƣợc thể hiện thông qua 9 nội dung sau
đây (xếp theo thứ tự tác động):
- Biến đổi tập quán, đó là biến đổi những thói quen hằng ngày.
- Biến đổi lối sống dạng đơn giản là những biến đổi tác phong, cách
sống, và cao nhất là biến đổi triết lý về lối sống.
- Biến đổi quan hệ giữa con ngƣời là biến đổi cách thức xử sự giữa con
ngƣời với nhau, những quan hệ truyền thống giữa con ngƣời bị biến dạng,
những kiểu quan hệ truyền thống mất đi, những kiểu quan hệ mới xuất hiện,
có thể tốt hơn hoặc xấu hơn so với một chuẩn mực đạo đức nào đó.
- Biến đổi các chuẩn mực xã hội là một trong những biến đổi sâu sắc
nhất trong đời sống và quan hệ giữa con ngƣời.
- Biến đổi văn hóa, nhƣ biến đổi phong tục, tập quán, lối sống,…
- Biến đổi thiết chế là biến đổi cả một hệ thống chuẩn mực, những hệ
thống chuẩn mực truyền thống dần biến mất, thay vào đó là một hệ thống
chuẩn mực mới, nghĩa là những thiết chế mới.
- Biến đổi cấu trúc xã hội.
- Biến đổi toàn bộ paradigma, là giai đoạn cuối cùng cao nhất, triệt để
nhất của biến đổi xã hội. Đó là sự biến đổi sâu sắc, bao gồm, từ gốc là triết lý
20
phát triển xã hội, đến hệ quan điểm phát triển xã hội, hệ chuẩn mực phát triển
xã hội và cuối cùng là những hệ khái niệm đƣợc sử dụng trong xã hội.
- Biến đổi hệ thống quản lý. [4;131]
Trong mối quan hệ với bảo hộ sở hữu công nghiệp, kiến tạo xã hội của
chính sách KH&CN đã tác động đến bảo hộ sở hữu công nghiệp, sự tác động
Khoản 1 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và
quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối
với giống cây trồng”.
Nhƣ vậy, có thể thấy các thuật ngữ: tài sản trí tuệ, sở hữu trí tuệ, quyền
sở hữu trí tuệ trong nhiều trƣờng hợp đƣợc sử dụng với cùng một nghĩa. Kể từ
đây, bài giảng sử dụng thuật ngữ sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ.
Ngày nay, vai trò của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển khoa học và
công nghệ, cũng nhƣ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc khẳng định
ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cụ thể là:
- Sở hữu trí tuệ thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ,
khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể thuộc mọi thành phần
kinh tế.
- Sở hữu trí tuệ khuyến khích các hoạt động đầu tƣ, chuyển giao công
nghệ.
- Sở hữu trí tuệ hỗ trợ tích cực, hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu triển
khai. Trƣớc hết phải nói tới vai trò của thông tin sáng chế. Trong tất cả các
dạng thông tin kỹ thuật đƣợc công bố, thông tin sáng chế là dạng thông tin kịp
thời, đầy đủ và toàn diện nhất. [3; 57]
Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp đối với tài sản trí tuệ. Công
ƣớc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 1967 (WIPO) quy định
rằng sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: Các tác phẩm văn học, nghệ
3
Article 2.viii (Convention Establishing the World Intellectual Property Organization) definitions:
“intellectual property” shall include the rights relating to: literary, artistic and scientific works;
performances of performing artists, phonograms, and broadcasts; inventions in all fields of human endeavor;
scientific discoveries; industrial designs; trademarks, service marks, and commercial names and
designations; protection against unfair competition; and all other rights resulting from intellectual activity in
- Sáng chế
Đối tƣợng bảo hộ là giải pháp kỹ thuật dƣới dạng sản phẩm hoặc quy
trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
23
nhiên. Sáng chế có thể đƣợc bảo hộ dƣới dạng yêu cầu cấp Bằng độc quyền
sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích.
Để đƣợc bảo hộ dƣới dạng Bằng độc quyền sáng chế, giải pháp kỹ
thuật phải đáp ứng ba điều kiện: có tính mới (so với trình độ kỹ thuật trên thế
giới); có trình độ sáng tạo (tính không hiển nhiên) và có khả năng áp dụng
công nghiệp (có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt).
Để đƣợc bảo hộ dƣới dạng Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, giải
pháp kỹ thuật liên quan phải đáp ứng các điều kiện: không phải là hiểu biết
thông thƣờng và có tính mới, có khả năng áp dụng công nghiệp.
- Kiểu dáng công nghiệp
Đối tƣợng bảo hộ là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, đƣợc thể hiện
bằng hình khối, đƣờng nét, mầu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. Kiểu
dáng đƣợc thể hiện trên sản phẩm, bộ sản phẩm. Để đƣợc bảo hộ, kiểu dáng
công nghiệp phải đáp ứng ba điều kiện: có tính mới (so với thế giới), có tính
sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Đối tƣợng bảo hộ là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối
liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn. Để đƣợc bảo hộ, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn phải đáp ứng hai điều kiện: có tính nguyên gốc
và có tính mới thƣơng mại.
- Bí mật kinh doanh
Đối tƣợng bảo hộ là thông tin thu đƣợc từ hoạt động đầu tƣ tài chính, trí
tuệ, chƣa đƣợc bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Để đƣợc bảo
hộ, thông tin liên quan phải đáp ứng các điều kiện sau: không phải là hiểu biết
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh
doanh khác nhau trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Khu vực
kinh doanh đƣợc hiểu là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng,
khách hàng hoặc có danh tiếng. Để đƣợc bảo hộ, tên thƣơng mại phải có khả
năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thƣơng mại đó với chủ thể kinh
doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
25