Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa hoạt động nấu rượu và môi trường ở làng nghề nấu rượu Đại Lâm xã Tam Đa huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh - Pdf 34

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------

HONG TH HUYấN

Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa hoạt động
nấu rợu và môi trờng ở làng nghề nấu rợu Đại Lâm xã Tam Đa - huyện Yên Phong- tỉnh Bắc NINH

Chuyờn ngnh

: Sinh thỏi hc

Mó s

: 60.42.01.20

LUN VN THC S SINH HC

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. Nguyn Hong Trớ

H NI - 2014


LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập 2 năm tại khoa Sinh, bộ môn Thực vật học và
làm luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp nhiệt tình của các thầy cô,
các anh chị, các em và các bạn. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin
gửi lời cảm ơn chân thành tới :
Các thầy cô trong khoa Sinh- Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là các thầy

Bảng 3: Một số làng nghề tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh.......................................23
Bảng 1.1 : Hiện trạng sử dụng đất của làng Đại Lâm........................................33
Bảng 1.2: Danh lục các cây rau màu điều tra được trên địa bàn thôn Đại Lâm
................................................................................................................................. 34
Bảng 1.3: Danh lục các cây lương thực điều tra được trên địa bàn thôn Đại
Lâm......................................................................................................................... 35
Bảng 1.4: Danh lục các cây thuộc thảm cây bụi, thảm cỏ điều tra được trên địa
bàn thôn Đại Lâm..................................................................................................35
Bảng 1.5: Danh lục các loài cá thả điều tra được trên địa bàn thôn Đại Lâm.. 37
Bảng 2.1: Tình hình biến động dân số và lao động qua một số năm..................38
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất nông nghiệp qua một số năm của xã Tam Đa.......44
Bảng 2.3: Quy trình sản xuất rượu gạo ở làng Đại Lâm....................................46
Bảng 3.1: Tải lượng khí thải do sử dụng nhiên liệu than để đốt........................54
Bảng 3.2: Vị trí đo mẫu khí tại làng nghề Đại Lâm tháng 11/2013....................55
Bảng 3.3: Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí tại làng nghề
Đại Lâm.................................................................................................................. 55
Bảng 3.4: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại làng nghề Đại Lâm năm
2011......................................................................................................................... 56
Bảng 3.5: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại làng nghề Đại Lâm năm
2012......................................................................................................................... 57
Bảng 3.6: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại làng nghề Đại Lâm ......57
năm 2013- 2014......................................................................................................57
Bảng 3.7: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại làng nghề Đại Lâm năm
2011......................................................................................................................... 59
Bảng 3.8: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại làng nghề Đại Lâm năm
2012......................................................................................................................... 60
Bảng 3.9: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại làng nghề Đại Lâm ......60
năm 2013- 2014.....................................................................................................60
Bảng 4.1: Thống kê các loại bệnh chủ yếu của các làng nghề trên địa bàn ......63
tỉnh Bắc Ninh ........................................................................................................63

................................................................................................................................. 62
Hình 3.3: Một số hình ảnh về cống nước thải của làng nghề Đại Lâm..............62
Hình 5.1: Phương pháp xử lý bụi bằng giàn tia nước [30].................................73
Hình 5.2: Phương pháp xử lý bụi bằng ống tay áo [28]......................................74
Hình 5.3: Sơ đồ sử lý chất thải bằng công nghệ Biogas [28]...............................76
Hình 5.4: Sơ đồ sử lý chất thải bằng bình nhựa Biogas composite [28].............76


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN& PTNT

: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

TCCP

: Tiêu chuẩn cho phép

QCCP

: Quy chuẩn cho phép

CNH- HĐH

: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa

KT- XH

: Kinh tế- xã hội

BOD

truyền thống. Theo thống kê, Bắc Ninh chiếm 18% số làng nghề và trên 10% số
làng nghề truyền thống của cả nước (Nguyễn Thị Thắm, 2012)[26]. Vì vậy sản
lượng làng nghề tạo ra là vô cùng lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ phong phú và đa
dạng của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Đồng nghĩa với nó thì môi trường
làng nghề cũng suy giảm theo. Hiện nay, ở hầu hết các làng nghề, mức thu nhập thì
tăng lên nhưng chất lựơng cuộc sống và sức khỏe người dân lại giảm đi, do vậy nó
đe dọa nghiêm trọng tới tính bền vững làng nghề. Đại Lâm- làng nghề truyền thống
nấu rượu của tỉnh Bắc Ninh cũng nằm trong tình trạng kém bền vững này.
Đại Lâm nằm ở phía Đông Bắc huyện Yên Phong, cách thành phố Bắc Ninh
khoảng 5 km, nằm bên bờ sông Cầu. Với vị trí thuận lợi 3 mặt giáp sông, Đại Lâm
sớm phát triển trong việc buôn bán với các vùng xung quanh, trong đó có nghề nấu
rượu. Đại Lâm là làng nghề truyền thống nên hầu hết các hộ trong làng đều gắn với
nghề nấu rượu. Các chất thải từ sản xuất, chăn nuôi và sinh hoạt đều không được xử
lý và đổ thẳng ra ao hồ hoặc sông Cầu. Vì thế mà môi trường ở đây ô nhiễm trầm
trọng. Do vậy mà việc nghiên cứu môi trường và con người ở đây rất cần thiết. Ở
Việt Nam, trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề như: Phát triển
1


làng nghề Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa nông thôn (Lê Văn Hương, 2010),
Đánh giá hiện trạng môi trường một số làng nghề Bắc Ninh (Nguyễn Thị Thắm,
2011), Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu Vân Hà, Bắc Giang
(Nguyễn Thị Huế, 2011), Môi trường và sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề
(Nguyễn Trinh Hương, 2009), Phát triển du lịch làng nghề bền vững (Huy Anh,
2013)…Tuy nhiên các công trình này đều chú trọng vào phân tích các số liệu ô
nhiễm của môi trường hoặc phát triển theo hướng du lịch mà chưa có cái nhìn tổng
quát về mối quan hệ của con người, sinh vật với sự ô nhiễm đó. Đây là một hướng
khá mới ở Việt Nam.
Xuất phát từ các lý do trên mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa hoạt động nấu rượu và môi trường ở

Ở Việt Nam, làng nghề là mô hình kinh tế rất phát triển ở nông thôn Viêt
Nam. Vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những khía cạnh và
các mục đích khác nhau.
* Trên khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu về
làng nghề ở nhiều cấp. Có một số công trình như: “Làng nghề thủ công truyền
thống Việt Nam” (Bùi Văn Vượng, 1998)[32]. Tác giả đã tập trung trình bày các
loại hình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, rèn, gốm, trạm khắc đá, giấy dó,
tranh dân gian…. Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tư
tưởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân
và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Trong luận án “Phát triển làng
nghề Bắc Ninh theo hướng CNH – HĐH” (Lê Văn Hương, 2010)[11], tác giả đã đề
cập từ lý luận đến thực trạng của một số làng nghề trên địa bàn Bắc Ninh: từ đặc
điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề, với các quan điểm,
giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong CNH – HĐH.
Và nhiều công trình khác của nhiều tác giả như: “Phát triển làng nghề
truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
(Trần Minh Yến, 2003)[33], Làng Đại Bái – Gò đồng Bắc Ninh (Đỗ Thị Hào, 1987)
[8]; …
Ngoài ra còn có các đề tài khoa học về việc “Hoàn thiện các giải pháp kinh tế
tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông

3


Hồng” [Học viện tài chính, 2004]; “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm
2010” (Bộ Thương Mại, 2003)... Đặc biệt phải kể đến là đề tài “Nghiên cứu về quy
hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN
Việt Nam” của Bộ NN & PTNT hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật (2002), đã
điều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về

làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm”
(Nguyễn Thị Thắm, 2012)[26] cho thấy môi trường và tình trạng sức khỏe của các
làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh đều trong tình trạng báo động. Tỷ lệ người lao động
có phương tiện bảo hộ đạt tiêu chuẩn an toàn lao động thấp; 100% các hộ sản xuất
chế biến lương thực- thực phẩm nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống rãnh;
nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong môi trường (H 2S, NH3…) cao; tỷ lệ người
mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa, ngoài da chiếm tỉ lệ cao.
Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các
làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số
giải pháp. Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hầu như chưa
nghiên cứu một cách toàn diện nhất. Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và
thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn. Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô nhiễm
cũng có những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ
thể, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực trạng cũng như xu
hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn.
Với làng nghề nấu rượu, gần đây có đề tài nghiên cứu khoa học về “Đánh
giá hiện trạng môi trường làng nghề nấu rượu Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc
Giang và đề xuất các giải pháp cải thiện” (Nguyễn Thị Huế, 2011)[10]. Công trình
cũng tập trung vào hiện trạng môi trường của làng nghề, một số nguyên nhân gây ô
nhiễm, phân tích tình trạng ô nhiễm và có đưa ra một số giải pháp giảm thiểu ô
nhiễm. Nhìn chung luận văn đã phác thảo được thực trạng ô nhiễm môi trường tại
Vân Hà song việc đánh giá mức độ ô nhiễm một cách tổng quát còn chưa làm được.
Tóm lại, thực tiễn các làng nghề Việt Nam còn có nhiều bất cập. Các sản
phẩm truyền thống của chúng ta không những là những mặt hàng có giá trị kinh tế
cao, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động nông thôn, giảm thiểu thời gian nông
nhàn, mà còn có ý nghĩa văn hóa dân tộc sâu sắc. Việt Nam cũng có nhiều tiềm

5



6


Các số liệu, tài liệu, báo cáo, công trình nghiên cứu liên quan tới môi trường
tự nhiên của khu vực nghiên cứu trong những năm gần đây nhất. Sau khi thu thập số
liệu tiến hành thống kê, phân tích và xử lý các số liệu phục vụ cho mục đích nghiên
cứu. Các số liệu về môi trường tự nhiên gồm:
- Số liệu về đặc điểm khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình.
- Số liệu thống kê, tài liệu về diện tích, thành phần các loài sinh vật đặc
trưng tại khu vực nghiên cứu.
1.6.1.2 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về hệ xã hội
Các số liệu, tài liệu, báo cáo, công trình nghiên cứu liên quan tới hệ xã hội
của khu vực nghiên cứu trong những năm gần đây nhất. Sau khi thu thập số liệu tiến
hành thống kê, phân tích và xử lý các số liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Các
số liệu về hệ xã hội bao gồm:
- Các số liệu thống kê về tình hình kinh tế- xã hội của làng nghề Đại Lâm
như: đặc điểm dân số, hệ thống chính quyền, cở sở hạ tầng, y tế, giáo dục, văn hóa,
an ninh xã hội…
- Các tài liệu, báo cáo có liên quan đến tình hình kinh tế xã hội, sự phát
triển của làng nghề Đại Lâm.
Ngoài ra tác giả còn thu thập các tài liệu về việc giải quyết, đề xuất các giải
pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở những làng nghề khác làm nguồn tư liệu
tham khảo.
1.6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
1.6.2.1 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn
Phương pháp này giúp thu thập, cập nhật thêm những thông tin chưa có tài
liệu thống kê, hoặc muốn lấy ý kiến từ dân cư trong vùng hoặc các đối tượng có liên
quan đến khu vực nghiên cứu. Đây là phương pháp để thu thập các thông tin liên
quan đến hoạt động sản xuất và vấn đề môi trường của làng nghề. Đối với môi
trường tự nhiên và hệ xã hội đều sử dụng phương pháp này nhưng với hệ thống câu

tính ổn định
Theo quy định của Bộ NN & PTNT:
- Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn...
hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề
phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm
8


nghề cũng như mức thu nhập từ nghề với tổng số lao động và thu nhập của làng (Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006) [2].
- Làng nghề truyền thống là làng nghề có các hoạt động ngành nghề được
hình thành từ lâu đời, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay (Sở Công Thương
Bắc Ninh, 2008)[14].
Tuy nhiên, không phải làng nào có ngành nghề phi nông nghiệp đều được gọi là
làng nghề. Làng được gọi là làng nghề khi đã đạt được những tiêu chí nhất định.
1.7.1.2 Tiêu chí công nhận làng nghề
Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT
hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày
07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn đã đưa ra những tiêu
chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau:
- Nghề truyền thống:
+ Là nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận.
+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
- Làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí:
+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành
nghề nông thôn.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận.

- Phân loại theo số lượng làng nghề:
+ Làng một nghề là làng ngoài nghề nông ra chỉ có thêm một nghề phi nông
nghiệp xuất hiện, tồn tại và chiếm ưu thế tuyệt đối.
+ Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỉ trọng các
nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau. Loại làng nhiều nghề gần đây mới
có xu hướng phát triển mạnh
- Phân loại theo thời gian làm nghề:
+ Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời
với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ cho đến
ngày nay.

10


+ Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao
đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa phương (chủ yếu là
giải quyết vấn đề lao động). Các làng nghề mới hình thành này do còn hạn chế về
các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường có chất lượng thấp hoặc
ở các công đoạn thô.
- Phân loại làng nghề theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Trong những
năm gần đây, sự phát triển “nóng” của các làng nghề đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm
môi trường ở nhiều làng nghề trong cả nước. Căn cứ theo nguồn thải và mức độ ô
nhiễm có thể phân ra các nhóm làng nghề sau:
+ Làng nghề ô nhiêm nặng là làng nghề có ít nhất một thông số môi trường đặc
trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn 5 lần TCCP.
+ Làng nghề ô nhiễm trung bình là làng nghề có ít nhất một thông số môi
trường đặc trưng cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải cao hơn từ
2- 5 lần TCCP.
+ Làng nghề ô nhiễm nhẹ là làng nghề có các thông số môi trường đặc trưng
cho loại hình làng nghề được xem xét trong dòng thải không quá 2 lần TCCP.

Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà
còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Làng nghề là nơi hội tụ những thợ thủ
công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm trong làng. Ngoài ra,
làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên vật liệu, là nơi tập trung những tinh
hoa trong sản xuất sản phẩm của làng. Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ phục vụ
sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm các sản phẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ
sản xuất...nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường khu vực lân cận ( Nguyễn
Thị Thắm, 2012)[26].
Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế
thị trường , các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc
áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản
xuất tại các làng nghề đã tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các
công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến. Các làng nghề mới và các
cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng
trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn.
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự
nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố
và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều, thường tập

12


trung vào những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông
nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn. Trên cả nước, làng nghề phân
bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại ở
miền Trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) (Bộ Tài nguyên
và Môi trường ,2009)[3].
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường
nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta thành

đồ da

phẩm

138
24
11
173

134
42
21
197

61
24
5
90

404
121
93
618

Vật liệu
xây dựng,
gốm sứ
17
9
5

Phần lớn các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm là làng nghề truyền thống
nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu
xanh...với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn và gắn với hoạt động chăn nuôi
ở quy mô gia đình.
• Làng nghề tái chế phế liệu
Các làng nghề thuộc nhóm này chủ yếu là mới hình thành nhưng lại rất
phát triển. Đây là nhóm làng nghề tận dụng phế liệu làm nguyên liệu cho sản
xuất, nhờ đó mà giảm chi phí đầu tư, giảm lượng chất thải gây ô nhiễm môi
trường. Các làng nghề tái chế được chia thành 3 loại cơ bản: tái chế giấy, tái chế
kim loại và tái chế nhựa, tập trung chủ yếu ở miền Bắc với số lượng vượt trội của
các làng nghề tái chế kim loại.
• Làng nghề thủ công mỹ nghệ
Đây là nhóm làng nghề chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số làng nghề của
cả nước (tổng số 618 làng nghề, chiếm 42,62%). Sản xuất thủ công mỹ nghệ là
ngành sản xuất gắn liền với truyền thống lâu đời, nhiều sản phẩm có giá trị văn hóa
14


cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ có yêu
cầu chất lượng cao cả về giá trị thẩm mỹ nghệ thuật nên các lao động trong cơ sở
sản xuất phải có tay nghề cao. Tại một số làng nghề, quá trình sản xuất được chuyên
môn hóa chặt chẽ, lao động chuyên môn được lựa chọn kỹ càng. Tuy nhiên, công
nghệ sản xuất hầu như mang tính thủ công.
• Làng nghề vật liệu xây dựng, gốm sứ
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ đã tồn tại từ hàng trăm năm
nay, tập trung ở những vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản
xuất. Mặc dù số làng nghề không nhiều (chiếm 2,14%) nhưng sản phẩm của các
làng nghề này đã đáp ứng được nhu cầu xây dựng ngày càng tăng ở nước ta, đặc
biệt là ở vùng nông thôn. Các loại hình sản xuất chủ yếu bao gồm khai thác đá,
nung vôi, đóng gạch và sản xuất gốm sứ. Quy mô và loại hình sản xuất rất tùy thuộc

lương thực,

Các dạng chất thải
Khí thải

Nước thải

Chất thải rắn

Bụi, CO,
SO2, NOx,
CH4

BOD5, COD,

Xỉ than, chất

TSS, Tổng N,

thải rắn từ

Tổng P, Coliform

nguyên liệu

thực phẩm,

Các dạng ô
nhiễm khác
Ô nhiễm nhiệt


kiềm, dung

tẩy, Cr6+

Thủ công mỹ

môi
Bụi, CO,

BOD5, COD,

Xỉ than(gốm

Ô nhiễm nhiệt

nghệ

SO2, SiO2,

TSS, độ màu,

sứ), phế phẩm,

(gốm sứ)

HF, hơi

dầu mỡ công


axit, hơi kim
loại Pb, Zn,

pH, dầu mỡ, CN-, sắt, vụn kim loại
kim loại
16

nặng

Ô nhiễm nhiệt


Vật liệu xây

HF, HCl
Bụi, CO,

dựng

SO2, NOx,
HF

TSS, Si, Cr

Xỉ than, xỉ đá,

Ô nhiễm nhiệt,

đá vụn


thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Do đó dịch vụ nông
17


thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng phong phú, đem lại thu nhập
cao cho người lao động.
Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH. Sự phát triển lan tỏa
của làng nghề đã mở rộng qui mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động. Đến nay
cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60 - 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20 40% cho nông nghiệp (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, 2011) [15].
+ Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương
mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.
Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề đã phát triển và hình thành nhiều nghề
khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu
hút nhiều lao động. Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề ở nông
thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất
nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí lực lượng lao động nông thôn. Vai trò tạo việc
làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác,
vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển
KT-XH ở vùng đó.
Đặc biệt, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thống có ý
nghĩa rất quan trọng. Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD mỗi năm. Trên
phương diện xã hội, xuất khẩu hàng thủ công truyền thống là nhân tố quan trọng để
kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công
chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất khẩu
được 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng
3000 - 4000 lao động (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi, 2011) [15].
Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp

Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn, ngoại
thị là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời
sống nông dân. Phát triển làng nghề theo phương châm “Ly nông, bất li hương”
không chỉ có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao
động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status