Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS.
Nguyễn Hoàng Trí – người thầy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết
hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa sinh học, cùng
với các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ lãnh đạo Uỷ ban Nhân
dân huyện Kim Sơn, phòng Nông nghiệp huyện Kim Sơn, Hội chữ thập đỏ
tỉnh Ninh Bình, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kim Sơn. Luận văn được
hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của bà con và lãnh đạo xã Kim
Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Tôi muốn tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân và bạn
bè của tôi đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành công trình nghiên cứu
của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Thị Vân


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Nhiệt độ các tháng .......................................................................................23
Bảng 2. Độ ẩm không khí...........................................................................................24
Bảng 3. Lượng mưa các tháng ...................................................................................24
Bảng 4. Tốc độ gió và hướng gió...............................................................................25
Bảng 5. Hiện trạng sử dụng đất..................................................................................27
Bảng 6. Chi phí xây dựng cơ bản...............................................................................40
Bảng 7. Chi phí sản xuất nuôi tôm, cua.....................................................................40

năm 2007 diện tích còn 209.741 ha. Như vậy, sau hơn 60 năm, rừng ngập
mặn nước ta đã bị suy giảm gần 1/3 diện tích. Bình quân mỗi năm mất khoảng
3.105,6ha rừng ngập mặn.
Sự thu hẹp về diện tích rừng ngập mặn là do nhiều nguyên nhân khác
nhau như: Chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang sản xuất nông nghiệp, sự huỷ
diệt của chất độc hoá học do chiến tranh, quá trình đô thị hoá, người dân tự ý
phá rừng làm đầm nuôi tôm, cua… Trước tình trạng trên, đòi hòi phải có sự
gắn kết giữa hệ sinh thái rừng ngập mặn với phát triển bền vững nhằm duy trì
phát huy được hết những chức năng vốn có của rừng ngập mặn.

1


Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn được hình thành trên vùng
Châu thổ rộng 1300 ha của các cửa sông Đáy, sông Càn. Nơi đây và toàn bộ
vùng đất phía Nam vĩ tuyến 20 của Ninh Bình vinh dự được UNESCO công
nhận là vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ
sông Hồng với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của rừng ngập
mặn. Giá trị nổi bật của khu vực được thể hiện ở tính đa dạng sinh học cao, có
các hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra mạnh mẽ tạo thành một môi trường
sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa.
Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn chịu nhiều tác động về mặt tự
nhiên cũng như xã hội, trong đó có khu vực thuộc xã Kim Hải huyện Kim
Sơn tỉnh Ninh Bình. Cho đến nay các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, sử
dụng tài nguyên thiên nhiên thường mang tính đơn lẻ, hoặc đứng trên quan
điểm xã hội hoặc đứng trên quan điểm sinh thái học. Vì vậy việc nghiên cứu
mối tác động qua lại giữa con người và hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn sẽ
kết nối giữa sinh thái học và xã hội học góp phần vào phát triển bền vững
vùng rừng ngập mặn này. Với những lý do trên, mà chúng tôi đã lựa chọn đề
tài: “Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập

những mối quan hệ không được thừa nhận trước đây giữa con người và môi
trường. Nó giúp con người nhận thức sâu sắc về vị trí của con người trong thế
giới và suy nghĩ của con người về môi trường của họ.
Các hệ sinh thái là những hệ thống thống nhất không thể tách rời. Jan
Smuts là người đầu tiên đưa ra luận điểm “tiếp cận hệ thống”. Điều này làm
cơ sở cho các ngành khoa học trong nghiên cứu tổng hợp với yêu cầu nhất
thiết phải nghiên cứu kết hợp cả quần thể, quần xã và hệ sinh thái với sự tham
gia của nhiều ngành khoa học khác nhau cả tự nhiên và cả xã hội. Quan điểm
hệ thống cho rằng, một hệ thống được đặc trưng bằng các mối tác động qua
lại bên trong mỗi thành phần và giữa các thành phần với nhau. Các nhà sinh
thái học đã đón nhận và phát triển thành kĩ thuật phân tích hệ thống đang

3


được áp dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu liên ngành mang tính
tổng hợp cao hiện nay.
Tiếp cận hệ thống cũng được áp dụng trong nghiên cứu sinh thái nhân
văn. Hệ sinh thái nhân văn bao gồm hệ thống xã hội và hệ sinh thái nông
nghiệp (hệ tự nhiên), trong đó các thành phần của hệ tự nhiên, hệ xã hội liên
quan đến nhau bởi các chức năng thông qua dòng năng lượng, vật chất và
thông tin.
Mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái là mối quan hệ biện chứng
mà trong đó sự thay đổi của hệ thống này tiếp tục ảnh hưởng đến cơ cấu và
chức năng của hệ thống khác. Các hệ sinh thái cũng như các hệ xã hội đều
không phải là những hệ thống kín mà mỗi hệ thống luôn luôn có mối tác động
qua lại với các hệ thống kế cận và với các hệ thống cao hơn hoặc thấp hơn
(A.S.Boughey, 1975)[25]. Hệ sinh thái và hệ xã hội hướng tới tính thống nhất
theo thời gian mà mỗi thành phần trở nên thích nghi hơn với sự tác động, ảnh
hưởng bởi các thành phần khác.

cứu sinh thái học ở Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu sinh thái nhân văn
bước đầu đã có đóng góp ban đầu đối với công tác quản lý, quy hoạch, sử
dụng hợp lý một số hệ sinh thái ở nước ta. Nó biểu thị mối quan hệ tác động
qua lại giữa con người và môi trường. Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã lấy lý
thuyết sinh thái nhân văn để làm cơ sở khoa học khi nghiên cứu luận văn này.
2.2. Những nghiên cứu về rừng ngập mặn
2.2.1 Trên thế giới
Đến nay rừng ngập mặn xuất hiện trên 75% bờ biển nhiệt đới và á nhiệt
đới trong khoảng từ 30o vĩ tuyến Nam đến 30o vĩ tuyến Bắc. Rừng ngập mặn
có diện tích lớn nhất nằm trong vùng từ 10 o vĩ độ Bắc đến 10o vĩ độ Nam
(Twilley và cộng sự 1992).
Diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế ước tính khoảng 18 triệu ha,
phân bố 82 nước. Trong đó, ở khu vực Châu Á, rừng ngập mặn có khoảng 8,4
triệu ha, chiếm tới 46% tổng diện tích rừng ngập mặn thế giới: riêng 7 nước

5


Đông Nam Á, diện tích rừng ngập mặn chiếm tới 36% tổng diện tích rừng
ngập mặn thế giới (Mark Spalding và cộng sự, 1997), (Trích dẫn từ Tô Văn
Vượng, 2009)[22].
Từ lâu các ngành khoa học đã nghiên cứu về rừng ngập mặn trên nhiều
lĩnh vực khác nhau vì những giá trị to lớn mà rừng ngập mặn mang lại cho
con người cũng như cho sinh quyển. Trong đó các công trình nghiên cứu chủ
yếu tập trung vào các vấn đề sau:
+ Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái :
Các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của
cây ngập mặn. Theo V.J.Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnh
hưởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo
vệ, độ mặn, thuỷ triểu, dòng hải lưu, biển nông [26].

thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ Nguyễn
Hoàng Trí,1999) [18].
Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và
phân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Gilioli và King, 1966; Clark và
Hannonn, 1976; S.Aksornkoae và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae,
1993)[24]. Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O 2,
giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèo
chất dinh dưỡng. A.Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập
mặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở
nơi có lớp đất phù sa dày.
+ Nghiên cứu về sinh trưởng cây ngập mặn
ở Phangnga (Thái lan) (J. Kongsanchai, 1984) nghiên cứu sự tăng
trưởng của Đước đôi trồng tại vùng khai thác mỏ thiếc ở các giai đoạn 1, 2, 3,
4, 5, 6 năm tuổi và cây đạt chiều cao tương ứng là 0,71; 0,74; 1,23; 1,25; 1,27
và 1,93m.

7


S. Soemodiharjo và cộng sự (1996) nghiên cứu về tăng trưởng chiều
cao và đường kính thân của loài Đưng được trồng ở Inđonesia theo các tuổi
6, 11, 14, 18 và cho biết sự tăng trưởng hàng năm tương ứng là 0,7; 0,5;
0,6; 0,6cm [31].
+ Nghiên cứu về trồng rừng:
Hiểu rõ vai trò to lớn của rừng ngập mặt đối với kinh tế cũng như khí
hậu toàn cầu, vấn đề trồng và phục hồi rừng được chính phủ của nhiều
nước quan tâm và ban hành các chính sách về rừng ngập mặn, khuyến
khích trồng lại rừng.
Ở Indonesia trồng 4 loài cây chính đó là Đước đôi (Rhizophora stylosa
Griff), Đước vòi, Đưng và Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhizan(L.) Savigny). Vẹt

những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của rừng ngập mặn. Nếu trong
năm có nhiều tháng có nhiệt độ của nước biển < 16 oC thì sẽ không xuất
hiện rừng ngập mặn.
Theo tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng
và đất rừng ngập mặn ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh
thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi
nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó nguyên nhân chính là do việc khai
thác tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi
tiêu cực đối với môi trường đất và nước. Các tổ chức này khuyến cáo các
quốc gia có rừng ngập mặn, cần phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình
trạng này bằng các giải pháp như: Xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản
pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn; Nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ kết hợp xây dựng các mô
hình lâm ngư kết hợp.

9


+ Nghiên cứu liên quan đến sinh thái nhân văn
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao. Lá
cây ngập mặn, các loài tảo đã tạo cơ sở cho lưới thức ăn của các loài thuỷ sinh
vật trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nghiên cứu ở một trong những đảo ven
bờ tại Malaysia, cho thấy có 90% sản phẩm thuỷ sản sinh ra hoặc có nguồn
gốc ở vùng rừng ngập mặn và hai thành phần thức ăn chính của quần thể cá là
động vật đáy, mảnh vụn hữu cơ (N.A.Rao, 1987)
Vùng rừng ngập mặn là bãi ăn của nhiều loài tôm cá với nguồn thức ăn
từ mùn bã hữu cơ thực vật, sinh vật phù du và động vật không xương sống
nhỏ. Vùng rừng ngập mặn cũng là bãi đẻ cho nhiều loài thuỷ sản có giá trị
kinh tế cao như cá chẽm, tôm càng xanh, là nơi phóng trứng của sò huyết
(B.F.Clouhg và cs, 1993[27].

ao, đầm nuôi tôm, cá. Phát triển đô thị, cảng, khai thác mỏ và công nghiệp đã
gây mất rừng. Việc chặt phá rừng ngập mặn bất hợp pháp cũng là nguyên
nhân của sự xuống cấp rừng ngập mặn trong nhiều năm qua (B.F.Clough và
cs, 1993 [27]; S.Aksornkoae, 1989)
Ô nhiễm nước là một trong những ảnh hưởng trực tiếp đến rừng ngập
mặn do các hoạt động của con người. Ô nhiễm xảy ra ở những vùng rừng
ngập mặn gần các đô thị quan trọng ở Philippine. Tại Fiji, một vùng rừng
ngập mặn đã được sử dụng làm nơi xử lý nước thải ban đầu, dẫn đến hiện
tượng tích bẩn tại đây và hiện tượng san hô chết ở vùng kế cận. (Theo trích
dẫn của Phan Thị Anh Đào, 1998)[5].
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có khả năng khôi phục cao khi bị thiệt hại
ở mức vẫn còn nguồn giống và sự cung cấp nước được đảm bảo. Những kết
quả đã đạt được trong việc nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn trên thế giới
đã được nhiều nhà khoa học công bố vào năm 1988 (C.Field (esd.),1998).
Người dân địa phương, các cộng đồng người dân ven biển tham gia tích cực
vào các dự án khôi phục rừng ngập mặn. Tuy nhiên, hầu hết các dự án này

11


đều nằm trong các chương trình do tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm nên có
một số hạn chế nhất định về mặt hành chính, chính sách.
Ở mỗi nước có những quy định khác nhau về quản lý, khai thác đối với
từng loại rừng. Rừng Matang với diện tích 40.711 ha ở Malaysia được coi là
vùng rừng ngập mặn được quản lý tốt nhất trên thế giới. Về mặt hành chính,
các cán bộ lâm nghiệp huyện ở đây trực tiếp quản lý rừng ngập mặn này.
Rừng ngập mặn Matang được tỉa thưa 2 lần vào năm cây được 15 và 20 tuổi,
chu kì khai thác là 30 năm.
P.Kunstadter cho rằng nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội trong vùng
rừng ngập mặn rất khó khăn. Giữa các hệ sinh thái và các hệ kinh tế xã hội

[10].
+ Nghiên cứu về phân loại, phân bố
Vũ Văn Cương là người đầu tiên có công trình nghiên cứu một cách hệ
thống về rừng ngập mặn ở Việt Nam trong trong luận án tiến sĩ của mình
(1964) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn – Vũng Tàu.
Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và
nhóm thực vật nước lợ.
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểu
thảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừng
Đước đơn thuần, rừng Dừa đước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừng
Vẹt – Giá vùng đất cao, rừng Chà là – ráng đại và trảng thoái hoá [12].
Nguyễn Hoàng Trí (1999)[18], Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999)
[10] cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền
Trung và Nam Bộ. Quần xã Đưng tiên phong ở phía tây bán đảo Cam Ranh,
gặp ở phía trong quần xã Mấm trắng, Bần trắng trên đất ngập triều trung bình.
Cóc trắng gặp ở cả ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thường
xuyên, nền đất tương đối chặt. Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng
nước lợ ở miền Nam. Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt
khá khắc nghiệt, hiện trồng nhiều ở miền Bắc.

13


Ở Việt Nam khoảng 73% tổng diện tích đất ngập mặn ven biển tập
trung ở miền Nam Việt Nam (từ đèo Hải Vân tới mũi Cà Mau) với diện tích
rừng ngập mặn chiếm khoảng 70% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố, sinh
trưởng rừng ngập mặn:
Theo Thái Văn Trừng (1998)[21] có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh
rừng ngập mặn: thứ nhất là tính chất lý hoá của đất, thứ hai là cường độ và

Mấm biển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính cho
thấy trong điều kiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ thì mấm biển có
sinh trưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặn nước biển tăng
lên. Cây mọc ở môi trường không có muối thì tỷ lệ sinh trưởng thấp nhất. Quá
trình quang hợp tỷ lệ nghịch với độ mặn của môi trường: độ mặn càng cao thì
quang hợp càng giảm nhưng cây ngập mặn vẫn duy trì năng suất quang hợp
dương ở các độ mặn thí nghiệm kể cả ở 150% độ mặn nước biển.
+ Nghiên cứu về sinh khối năng suất lượng rơi:
Công trình nghiên cứu đầu tiên về sinh trưởng và sinh khối rừng ngập
mặn ở Việt Nam đó là luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Hoàng Trí (1986)[17].
Tác giả nghiên cứu về sinh khối và năng suất quần xã rừng Đước đôi: rừng
già, rừng tái sinh tự nhiên và rừng trồng 7 năm tuổi ở Cà Mau.
Nguyễn Hoàng Trí (1986) là người đầu tiên nghiên cứu về năng suất
lượng rơi của rừng Đước đôi tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Tác giả xác
định lượng rơi của rừng Đước đôi là khá cao 2,673g/m 2/ha, trong đó lượng
rơi của lá chiếm tỷ lệ cao nhất (79,71%) và lượng rơi vào mùa khô cao hơn
mùa mưa [17].
+Nghiên cứu về đất rừng ngập mặn:
Theo Ngô Đình Quế (2003) và cộng sự cho rằng: chất hữu cơ là một
trong những nhân tố quyết định đến sinh trưởng của rừng ngập mặn, nếu hàm
lượng chất hữu cơ trong đất ngập mặn thấp hơn 1% thì sinh trưởng xấu,

15


nhưng nếu quá cao, lớn hơn 15% thì cũng kìm hãm sinh trưởng của 5 cây và
cũng có thể làm cây trồng bị chết do môi trường đất bị ô nhiễm [13].
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về đất ngập mặn ở
Việt Nam thì nước ta gồm các loại đất ngập mặn chính là:
- Đất ngập mặn không có phèn tiềm tàng.

vào việc bảo vệ đê biển (Phan Nguyên Hồng và cs, 1988[7], 1999[10]).
Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rừng ngập
mặn là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của một số loài thuỷ sản có giá trị
(Phan Nguyên Hồng, 1997). Vũ Trung Tạng (1994)[15] đã đưa ra mô hình
mối quan hệ dinh dưỡng của thuỷ sinh vật một cách cụ thể hơn trong rừng
ngập mặn trên cơ sở xích thức ăn phế liệu. Phạm Đình Trọng (1996)[20] đã
đưa ra mô hình biểu diễn sự tham gia của động vật đáy vào chuỗi thức ăn phế
liệu với vai trò là vật tiêu thụ bậc một. Lượng rơi từ cây ngập mặn tham gia
vào xích thức ăn phế liệu này đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiên
cứu (Phan Nguyên Hồng, 1991[8]; Nguyễn Hoàng Trí, 1986[17].
Rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái do nhiều nguyên nhân. Trong
cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 có khoảng 40% diện tích rừng ngập
mặn bị phá huỷ. Đến những năm 80, rừng ngập mặn Việt Nam tiếp tục bị phá
huỷ do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh. Không chỉ có diện tích rừng
ngập mặn bị giảm mà trữ lượng tôm, cá ở các vùng rừng ngập mặn và vùng
ven bờ cũng bị suy giảm trong những năm gần đây.
Các đề tài nghiên cứu về nuôi trồng thuỷ sản, ảnh hưởng của nó đến
môi trường, xây dựng các mô hình lâm – ngư kết hợp, kĩ thuật nuôi thuỷ sản
trong vùng rừng ngập mặn được chú trọng. Nhà nước, các tổ chức phi Chính
phủ đã quan tâm hộ trợ vốn cho các hoạt động nghiên cứu cũng như sản xuất
(Phan Nguyên Hồng và cs, 1995)[9].

17


Ngoài việc phá rừng làm đầm nuôi tôm, còn có những hoạt động gây
suy giảm, thoái hoá hệ sinh thái rừng ngập mặn như: Khai thác quá mức,
chuyển đổi rừng ngập mặn thành đất sản xuất nông nghiệp, làm đồng muối,
khai thác khoáng sản, đô thị hoá, mở rộng cảng, ô nhiễm môi trường.
Công tác phục hồi rừng ngập mặn đã được chính quyền các cấp, các

nhân văn tại một vùng rừng ngập mặn ở Việt Nam trong luận án tiến sỹ
“Nghiên cứu sinh thái nhân văn vùng rừng ngập mặn xã Tam Thôn Hiệp,
huyện Cần giờ, thành phố Hồ Chí Minh”. Trong công trình của mình, tác giả
đã phân tích các đặc điểm của hệ tự nhiên và hệ xã hội, nghiên cứu sự tương
tác giữa các thành phần của hệ sinh thái nhân văn khu vực xã Tam Thôn Hiệp
thông qua các dòng năng lượng, vật chất và thông tin, phân tích động thái của
hệ sinh thái nhân văn trong giai đoạn 1978-1998.
Từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và ở
Việt Nam, có thể nhận thấy rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn đối với phát
triển kinh tế xã hội và phòng hộ ven biển quốc gia. Trong những năm gần
đây, rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng và hiện đang đứng trước những
áp lực lớn về phát triển kinh tế - gia tăng dân số. Các nghiên cứu tổng thể về
các vấn đề kinh tế - xã hội vùng rừng ngập mặn nói chung, cũng như việc kết
nối giữa hệ sinh thái và hệ xã hội trong các nghiên cứu về công tác quản lý
và sử dụng các hệ sinh thái còn rất hạn chế.
Trên cơ sở phân tích các tài liệu, luận văn này quan tâm đến việc
xem xét một cách tổng thể về hệ tự nhiên và hệ xã hội, mối quan hệ tác
động qua lại giữa hệ tự nhiên và xã hội của vùng rừng ngập mặn xã Kim
Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình từ đó đưa ra các giải pháp trong công
tác quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên để rừng ngặp mặn phát triển
xứng với tầm giá trị của nó.
3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU,
3.1. Mục đích nghiên cứu

19


Luận văn đánh giá các điều kiện sinh thái, kinh tế - xã hội, phân tích tác
động qua lại giữa các thành phần hệ tự nhiên và hệ xã hội vùng rừng ngập
mặn xã Kim Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình làm cơ sở đề xuất giải pháp,



Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về :
- Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của xã Kim Hải, huyện
Kim Sơn.
- Các tài liệu có liên quan đến tình hình hình kinh tế - xã hội, lịch sử
hình thành và phát triển xã Kim Hải, huyện Kim Sơn.
- Các số liệu, báo cáo có liên quan đến công tác phục hồi, bảo vệ và
quản lý rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn.
- Các tài liệu, văn bản pháp luật, dưới luật có liên quan đến tình hình phát
triển kinh tế xã hội, khôi phục và quản lý tài nguyên vùng rừng ngập mặn ven biển
huyện Kim Sơn.
5.2. Điều tra khảo sát trên thực địa
5.2.1. Điều tra, khảo sát hệ tự nhiên
Chúng tôi đã tiến hành điều tra số loài cây ngập mặn, các quần xã rừng
ngập mặn thường gặp, các loài thường được đánh bắt tại xã Kim Hải với sự
giúp đỡ của các chuyên gia. Đồng thời tiến hành điều tra về tài nguyên sinh
vật thuỷ sinh, động vật trên cạn và thẩm định những tài liệu có liên quan.
5.2.2. Điều tra hộ gia đình và các vấn đề cơ bản của hệ xã hội
Trên cơ sở phân tích sơ bộ các số liệu, tài liệu thứ cấp cơ bản đã thu
nhập được về tình hình kinh tế xã Kim Hải nói riêng và huyện Kim Sơn nói
chung, chúng tôi tiến hành khảo sát có tính thăm dò phù hợp với từng mục
đích nghiên cứu vấn đề.
- Phỏng vấn hộ gia đình.
- Phỏng vấn các cán bộ xã, cán bộ huyện về các vấn đề cơ bản trong
quá trình phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên thiên nhiên.
- Tiến hành phỏng vấn sâu những người dân lâu năm, người có kinh
nghiệm ở xã về các vấn đề có liên quan đến các hoạt động đánh bắt, nuôi
trồng thuỷ sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status