luận văn quản trị rủi ro Ngăn ngừa và quản lý nợ quá hạn tại Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long – chi nhánh Hà Tây - Pdf 27

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang làm thay đổi cơ bản nền
kinh tế nước ta với những chỉ số kinh tế ngày càng khả quan mà ở đó, hệ thống
ngân hàng đã đúng một vai trò quan trọng. Những đổi mới của hệ thống ngân hàng
Việt Nam được coi là khâu đột phá, có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế
như: đẩy lùi lạm phát, giữ bình ổn kinh tế; thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh,
xuất nhập khẩu; tạo việc làm, … Đặc biệt hoạt động tín dụng ngân hàng đã đóng
góp cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên
tục.
Ngân hàng mà đặc biệt là tín dụng ngân hàng là ngành kinh doanh có nhiều
rủi ro. Ngân hàng nào không chấp nhận rủi ro thì không có lợi nhuận. Trong đó, nợ
quá hạn là một hình thức biểu hiện cụ thể của rủi ro tín dụng. Đây là nguyên nhân
gây thất thoát vốn, đẩy các ngân hàng đến chỗ thua lỗ và phá sản, gây thiệt hại nặng
nề cho nền kinh tế.
Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế cũng như xử lý nợ quá hạn là
một nhiệm vụ hết sức cấp bách của các ngân hàng hiện nay nhằm làm lành mạnh
hóa hoạt động kinh doanh của chính mình và góp phần tích cực vào sự nghiệp phát
triển kinh tế đất nước.
Chính vì vậy, sau thời gian thực tập tại Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng
sông Cửu Long – chi nhánh Hà Tây, em đã quyết định chọn đề tài cho Chuyên đề
thực tập của mình là: “Ngăn ngừa và quản lý nợ quá hạn tại Ngân hàng Phát
triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long – chi nhánh Hà Tây”.
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề được kết cấu gồm các nội
dung chính như sau:
Chương I : Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại
Chương II : Thực trạng nợ quá hạn tại ngân hàng MHB Hà Tây
Chương III: Kiến nghị & giải pháp cho công tác phòng ngừa xử lý nợ quá hạn
tại MHB Hà Tây
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 1
Chuyên đề thực tập

2. Vai trò của NHTM
Trong khi nhiều người tin rằng các ngân hàng đúng một vai trò rất nhỏ trong
nền kinh tế - nhận tiền gửi và cho vay – thì trên thực tế ngân hàng đã và đang thực
hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của
xã hội. Các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:
 Vai trò trung gian:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế.
“Trung gian tài chính” là thuật ngữ để chị những hoạt động giống như chiếc cầu nối
giữa hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: những cá nhân, tổ chức thâm hụt
chi tiêu có nhu cầu vay vốn và những cá nhân, tổ chức thăng dư trong chi tiêu và có
những khoản tiền nhàn rỗi sẵn sang cho vay.
Việc dẫn vốn này giữ một vị trí vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, vì người
có khoản tiết kiệm thường không phải là người sẵn sang có cơ hội để đầu tư kiếm
lời. Ngược lại, có nhiều người có cơ hội sản xuất kinh doanh nhưng không đủ vốn,
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 3
Chức năng
ủy thác
Chức năng
bảo hiểm
Chức năng
môi giới
Chức năng
NH đầu tư và
bảo lãnh
Chức năng
quản lý
tiền mặt
Chức năng
tiết kiệm
Chức năng

một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Hiện nay, do hàm chứa nhiều rủi ro,
thường chỉ các ngân hàng lớn với trình độ chuyên môn cao thực hiện cung cấp dịch
vụ này.
• Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Ngay từ thời kỳ đầu, hoạt động chiết khấu thương phiếu của ngân hàng đã
xuất hiện mà thực chất là cho vay đối với các doanh nhân – những người bán các
khoản nợ, các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Sau đó là bước chuyển
tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng, giúp họ
có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng kinh doanh. . Về bản chất, chiết khấu
giống như cho vay gián tiếp. Nói cách khác, chiết khấu là hình thức tài trợ vốn
thuần túy thông qua hành vi mua bán khoản nợ. Các khoản lãi và phí của chiết khấu
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 4
Chuyên đề thực tập
được tính dựa trên giá trị các khoản phải thu, thời gian tài trợ và lãi suất chiết khấu
nên lãi suất hiệu dụng (lãi suất thực) cao hơn lãi suất chiết khấu.
• Nhận tiền gửi
Cùng với các cách huy động nguồn vốn khác, đây là hoạt động đầu vào quan
trọng cho việc kinh doanh của ngân hàng. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành
các khoản tiền gửi, các ngân hàng liên tục nâng mức lãi suất, cung cấp các chương
trình khuyến mãi, nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ để thu hút vốn.
• Bảo quản vật có giá
Nhắm mục đích an toàn, các khách hàng lựa chọn dịch vụ bảo quản vàng và
các vật có giá khác tại ngân hàng. Khách hàng khi sử dụng dịch vụ này sẽ nhận
được các giấy chứng nhận có thể lưu hành như tiền – đây là hình thức đầu tiên của
séc và thể tín dụng.
• Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ. Với nhu cầu chi tiêu lớn, cấp bách, Chính
phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Các Chính
phủ thường sử dụng 1 số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của những ngân

hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.
• Quản lý tiền mặt
Các ngân hàng quản lý việc thu chi cho các doanh nghiệp và cá nhân và tiến
hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín
dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
• Dịch vụ thuê mua thiết bị trung và dài hạn
Ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy
móc cần thiết thong qua hợp đồng thuê mưa, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho
khách hàng thuê. Ban đầu, hợp đồng cho thuê yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ
thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải ít nhất 2/3 chi phí
mua thiết bị đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuê. Cho thuê của ngân hàng
cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung dài hạn.
• Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí
xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong
loại hình tín dụng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một
công ty đầu tư, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia
của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro.
• Bán các dịch vụ bảo hiểm
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 6
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc
hoàn trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế hay gặp rủi ro
trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.
• Cung cấp các kế hoạch hưu trí
Kế hoạch hưu trí mà doanh nghiệp lập cho người lao động, đàu tư vốn và
phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế sẽ do ngân hàng quản lý.
Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền
gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến.
• Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

1. Khái niệm
“Tín dụng” xuất phát từ chữ Latin là Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm. Tiếng Anh là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, “tín dụng” có
nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một
lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử
dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Khái niệm tín dụng này được thể hiện ở ba mặt cơ bản sau:
• Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người
khác.
• Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời
• Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo
một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy đủ cả ba mặt trên.
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín
dụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn
huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả
bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và
các nghiệp vụ khác.
2. Vai trò tín dụng ngân hàng
• Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục, đồng thời
góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền
kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Tín dụng còn là cầu nối
giữa tiết kiệm và đầu tư. Nó là động lực kích thích tiết kiệm, đồng thời là phương
tiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn vốn
hình thành tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp vì vậy tín dụng đã
góp phần động viên vật tư hàng hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 8

phải thực hiện đúng quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN về quản lý
ngoại hối.
• Ngân hàng cấp tín dụng dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả.
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 9
Chuyên đề thực tập
Việc xem xét, phân tích đánh giá và cho vay trước hết phải dựa trên cơ sở
khả năng quản lý, thị trường tiêu thụ sản phẩm, hoạt động kinh doanh, khả năng
phát triển trong tương lai, tình hình tài chính và khả năng trả nợ, sau đó mới dựa
vào tài sản đảm bảo của khách hàng. Khách hàng phải có phương án trả nợ khả thi
và phù hợp với quy định của pháp luật. Điều kiện này nhằm minh chứng khả năng
thu hồi được vốn đầu tu và có lãi để trả nợ ngân hàng.
• Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích
Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thỏa thuận
với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy định khác của
ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các ngân hàng. Bên
cạnh đó, mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Mục đích
tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các
hoạt động trái pháp luật và việc tài trợ là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
• Khách hàng cam kết trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định.
Thực hiện vai trò trung gian của mình, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là
người cho vay. Với tư cách là người đi vay, ngân hàng có trách nhiệm trả tiền cho
chủ các khoản tiền gửi, các chủ nợ của ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn như trong
cam kết. Vì vậy, ngân hàng, với tư cách là người cho vay, luôn yêu cầu người nhận
tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này.
4. Rủi ro tín dụng ngân hàng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa
rủi ro. Một số ý kiến cho rằng trên quan diểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn

điều kiện kinh tế hoạt động bình thường, lãi suất của các khoản tín dụng có kỳ hạn
càng dài thì càng cao và ngược lại.
Phân loại theo hình thức, bao gồm: chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho
thuê. Cho vay là hình thức cấp tín dụng chủ yếu của các ngân hàng.
Dựa trên tiêu thức tài sản đảm bào, tín dụng gồm các khoản: đảm bảo bằng
uy tín của chính khách hàng, đảm bảo bằng thế chấp, đảm bảo bằng cầm cố. Trong
cấp tín dụng, cùng với điều kiện cần là nguồn trả nợ của khách hàng, ngân hàng
luôn quan tâm đến tài sản đảm bảo như điều kiện đủ. Thế chấp tài sản là hình thức
đảm bảo tín dụng mà tài sản thế chấp là bất động sản, do người vay vốn hoặc người
thứ 3 trực tiếp nắm giữ, còn ngân hàng chỉ giữ giấy tờ sở hữu và văn thư thế chấp
tài sản. Cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là hành vi giao nộp tài sản là bất động
sản hoặc các chứng từ chứng nhận quyền sở hữu tài sản của người vay cho ngân
hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hình thức bảo đảm cuối cùng là bảo
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 11
Chuyên đề thực tập
đảm bằng uy tín khách hàng hay còn gọi là tín chấp. Hình thức này còn có thể áp
dụng theo phương thức bảo lãnh, nghĩa là việc bên thứ 3 cam kết với bên cho vay sẽ
thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay nếu khi đến thời hạn mà người đi vay không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Trong 3 hình thức đảm bảo trên
thì thế chấp và cầm cố được áp dụng nhiều hơn cả.
Phân loại theo rủi ro, ta có: tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá
hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn khó đòi. Ý nghĩa của việc phân loại này giúp
ngân hàng nắm được tình hình chất lượng tín dụng của mình. Từ đó, đưa ra các biện
pháp quản lý cũng như xử lý để làm lành mạnh hóa các khoản tín dụng xấu.
Theo quy định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005, các ngân
hàng phải thực hiện phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng.
Mục đích của việc sử dụng dự phòng là để bù đắp tổn thất đối với các khoản
nợ của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro chỉ tính theo dư nợ gốc của khách hàng và
được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng.

và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
• Nhóm 4: Nợ nghi ngờ. Bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày.
• Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày và nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ
xử lý.
Phương pháp “định lượng” căn cứ vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và
chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng được NHNN chấp thuận. Các nhóm
nợ bao gồm:
• Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn. Bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn
• Nhóm 2: Nợ cần chú ý. Bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
• Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn. Bao gồm nợ được đánh giá là không có khả
năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn
• Nhóm 4: Nợ nghi ngờ. Bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất
cao.
• Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Bao gồm nợ được đánh giá là không còn
khả năng thu hồi, mất vốn
Cho dù được phân loại theo phương pháp nào, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
đối với các nhóm nợ 1, 2, 3, 4 và 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%.
Công thức tính số tiền dự phòng:
R = max {0, (A-C)} x r
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 13
Chuyên đề thực tập
Trong đó:
R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: Giá trị khoản nợ
C: Giá trị tài sản đảm bảo (nhân với tỷ lệ phần trăm do QĐ 493 quy định đối với
từng loại tài sản đảm bảo)

doanh nghiệp/khách hàng, khả năng thu hồi, loại nguyên tệ, thời hạn của khoản vay,
nguyên nhân phát sinh, … để phân loại nợ quá hạn.
Thời gian quá hạn là 1 tiêu thức quan trọng mà các ngân hàng luôn chú ý tới.
Theo đó, nợ quá hạn bao gồm: quá hạn dưới 90 ngày, quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày, quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày, quá hạn trên 360 ngày.
Căn cứ theo thành phần kinh tế gồm có: nợ quá hạn của các doanh nghiệp
nhà nước, nợ quá hạn của các doanh nghiệp tư nhân, nợ quá hạn của các công ty cổ
phần, công ty TNHH, nợ quá hạn của các hộ sản xuất cá thể.
Căn cứ theo khả năng thu hồi, nợ quá hạn được phân thành: có khả năng thu
hồi 100%, cú khả năng thu hồi 1 phần, không có khả năng thu hồi. Đây là tiêu thức
hết sức quan trọng. Thu hồi được các khoản nợ quá hạn là mục tiêu hàng đầu trong
công tác quản lý và xử lý nợ quá hạn. Thu hồi được hay không và được bao nhiêu
ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng cũng như đánh giá chất
lượng tín dụng chung. Với từng nhóm nợ quá hạn, biện pháp xử lý nợ quá hạn cũng
khác.
Căn cứ theo thời hạn của khoản vay, ta có: nợ quá hạn của các khoản vay
ngắn hạn, nợ quá hạn của các khoản vay trung và dài hạn.
3. Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn:
3.1. Nguyên nhân khách quan
• Từ sự biến động của nền kinh tế:
VN chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng xã
hội chủ nghĩa được hơn 20 năm với nhiều thành tựu, thu lượm được nhiều bài học
quý giá. Hiện nay, VN đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập và quốc tế hóa
nền kinh tế. Những biến động của nền kinh tế trong nước có mối liên hệ chặt chẽ
với nền kinh tế khu vực và Thế giới. Sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các yếu
tố và thành phần kinh tế nước ngoài …
Lúc thịnh vượng kinh tế phát triển manh, doanh nghiệp sẵn sang có khả năng
chi trả. Lúc suy thoái thậm chí không trả được nợ gây ra tình trạng nợ quá hạn.
Quy luật cạnh tranh diễn ra hết sức quyết liệt cộng với những thay đổi
thường xuyên về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dung làm cho hoạt động kinh

hàng, sử dụng vốn sai mục đích, trái pháp luật, cố tình không trả nợ, thực hiện đúng
hợp đồng.
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 16
Chuyên đề thực tập
• Đối tác của khách hàng không trả được nợ. Các khoản phải thu là 1 chỉ tiêu
quan trọng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Chúng xuất
phát từ hoạt động kinh doanh bình thường như các khoản phải thu thương mại do
bạn hàng mua chịu, cũng có thể xuất phát từ các giao dịch khác như tạm ứng nhân
viên, đặt cọc, phải thu tài chính như tiền lãi,… Và nếu khách hàng của doanh
nghiệp không thanh toán hoặc không trả đầy đủ và đúng hạn, doanh nghiệp bị mất
nguồn thu để trả nợ ngân hàng.
• Từ phía ngân hàng
• Trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn hạn chế: Khi thẩm định dự án
cho vay vốn, cán bộ tín dụng yếu về nghiệp vụ, khả năng phân tích các báo cáo tài
chính kém kết hợp với việc thiếu thông tin về khách hàng nên chưa đánh giá được
đầy đủ về tính khả quan của dự án.
• Việc chấp hành các nguyên tắc, thể lệ tín dụng quy trình xét duyệt chưa
nghiêm túc. Các cán bộ tín dụng không xem xét kĩ hồ sơ và điều tra kĩ về khách
hàng cũng như việc đánh giá sai lệch về giá trị tài sản thế chấp đã làm cho nguy cơ
nợ quá hạn của ngân hàng nâng cao.
• Kiểm tra, giám sát vốn vay chưa chặt chẽ: TCTD có trách nhiệm giám sát
quá trình vay vốn và trả nợ của khách hàng. Trách nhiệm này thường gắn với cán
bộ tín dụng trực tiếp thẩm định việc cho vay.
• Định kỳ trả nợ chưa thích hợp với vòng luân chuyển vốn: kỳ hạn trả nợ được
hiểu là một khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa tổ
chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải
trả một phần hoặc toàn bộ tiền vay cho tổ chức tín dụng. Kỳ hạn trả nợ phải được
xác định dựa trên chu kỳ sản xuất, kế hoạch bán hàng và doanh thu
• Tư tưởng chạy theo thành tích, tăng dư nợ một cách không căn cứ vượt lên
trên nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu vốn cần thiết hợp lý của doanh nghiệp và

vậy, khoản vay không thu được dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng
băng làm giảm thu nhập mà vẫn phải trả chi phí huy động vốn. Kết quả là làm lợi
nhuận của doanh nghiệp giảm.
• Giảm khả năng thanh toán
Các khoản nợ quá hạn phát sinh làm thay đổi kế hoạch cũng như nguồn thanh
toán các khoản tiền đến hạn. Hơn nữa, tỷ lệ Nợ quá hạn / Tổng dư nợ cao sẽ dẫn
đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Nếu khách hàng nắm được
những dấu hiệu này sẽ ồ ạt đến rút tiền và ngân hàng gặp khó khăn trong huy động
vốn càng làm trầm trọng them tình trạng này.
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 18
Chuyên đề thực tập
• Giảm uy tín của ngân hàng
Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác nên tỷ lệ nợ quá hạn
của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp có ảnh
hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng, sẽ làm cho khách hàng không còn
tin tưởng vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng dẫn đến việc làm giảm
đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng
• Nguy cơ phá sản
Đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của nợ quá hạn đối với hoạt động của ngân
hàng. Nếu NQH ở mức cao không sớm đc hạn chế dẫn tới hàng loạt các ảnh hưởng
xấu như đã kể trên và cuối cùng là sự phá sản của ngân hàng.
4.3. Đối với khách hàng
• Giảm tốc độ chu chuyển vốn
Trong nền kinh tế hiện dại, hầu hết các hoạt đông thanh toán giao dịch của
khách hàng đều được thực hiện thong qua ngân hàng và hoạt động kinh doanh của
khách hàng cũng chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng. Do vậy, tình trạng NQH dây
dưa khó đòi của khách hàng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ của khách hàng
với ngân hàng, làm giảm tốc độ chu chuyển vốn của khách hàng
• Tăng chi phí hoạt động
Khi phải gánh nợ quá hạn, doanh nghiệp đồng thời phải chịu lãi suất phạt.

giấy tờ hoặc vốn không được sử dụng đúng mục đích.
• Gia tăng bất thường hàng hóa tồn kho, khoản nợ thương mại, khoản phải thu
Điều này nói lên hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất ra tiêu thụ chậm, phải
bán chịu nhiều. Tình trạng này thường có khi hàng hóa bị giảm sút về chất lượng,
không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, gây ứ đọng và làm ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
• Giảm bất thường giá hàng hóa.
Cũng như trên, dấu hiệu này phản ánh sự suy giảm trong chất lượng và độ ưa
chuộng của hàng hóa, tác động trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
• Xuất hiện vay vốn nhiều ngân hàng
Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng là mối quan tâm lớn đối với ngân
hàng. Các khoản vay gối đầu lên nhau với nhiều ngân hàng có thể thực hiện với
mục đích đảo nợ - điều mà các ngân hàng tránh né nhất hiện nay. Nhiều khoản vay
tại nhiều ngân hàng cùng thời điểm có thể là hiện tượng lừa đảo quy mô lớn với các
dự án ảo.
Thêm vào đó, tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn là 1 tỷ số tài chính quan trọng
phản ánh hoạt động của doanh nghiệp. Các ngân hàng khi cho vay cũng luôn phải
xem xét tới tỷ số này để đảm bảo cán cân vốn của doanh nghiệp đang ở trạng thái
hợp lý.
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 20
Chuyên đề thực tập
• Sự mất ổn định về tổ chức nội bộ
Cơ cấu tổ chức nội bộ có ổn định thì doanh nghiệp mới có thể kinh doanh và
phát triển bền vững. Những biến động hoặc mâu thuẫn nội tại có thể gây ảnh hưởng
tới kết quả hoạt động kinh doanh. Hiện nay, tính ổn định tổ chức, trình độ chuyên
môn của doanh nghiệp cũng trở thành 1 chỉ tiêu được đưa vào đánh giá khi thẩm
định phê duyệt dự án cho vay của ngân hàng.
• Khách hàng gặp rủi ro khách quan.
Thiên tai địch họa xảy ra ở mức độ nghiêm trọng sẽ khiến hoạt động sản xuất
kinh doanh không chỉ của doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế bị ảnh hưởng lớn.

• Phân cấp ủy quyền:
Các cán bộ làm việc chuyên sâu và chuyên trách không chồng chéo.
• Chế độ trách nhiệm
Phân định rõ rang trách nhiệm, quyền hạn cả Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc, trưởng các phòng ban trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện các
khoản cấp tín dụng. Các bộ phận quản lý rủi ro cần có tính độc lập.
1.1.2. Chiến lược kinh doanh
• Tăng, giảm quy mô đầu tư từng thời kỳ
• Cơ cấu đầu tư theo ngành, thành phần kinh tế
Ngân hàng nên đa dạng hóa đối tượng cho vay, tránh chỉ dồn vào 1 số ngành
nghề nhất định trong nền kinh tế.
Cơ cấu đầu tư theo ngành trong từng thời kỳ cũng khác nhau. Theo thời gian,
nền kinh tế lần lượt trải qua các giai đoạn “đỉnh” và “đáy” (những dao động thăng
trầm). “Đỉnh” là các giai đoạn nền kinh tế phát triển “bùng nổ” hay mở rộng. “Đáy”
là các giai đoạn “của những sự đổ vỡ, phá sản” hay giai đoạn co hẹp. Một số doanh
nghiệp không bị ảnh hưởng bởi những dao động thăng trầm của nền kinh tế trong
khi những ngành khác phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh để tồn tại.
• Chính sách khách hàng
1.1.3. Chính sách cán bộ
Đội ngũ cán bộ tín dụng là đội ngũ có quan hệ trực tiếp với khách hàng, trực
tiếp làm công tác thẩm định với khách hàng. Do vậy, trình độ, năng lực, tinh thần
trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ có ảnh hưởng quan trọng tới
chất lượng các khoản vay. Ngân hàng cần chú trọng trong các công tác:
• Tuyển chọn, sắp xếp cán bộ
• Đào tạo nghiệp vụ
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 22
Chuyên đề thực tập
Ngân hàng ngày càng phát triển và kèm theo đó là rất nhiều các nghiệp vụ
mới cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin cung cấp nhiều dịch vụ tiện
ích hơn cho khách hàng. Cán bộ cần được thường xuyên cập nhật, đào tạo

Tô Phương Thanh _ CQ 482533 23
Chuyên đề thực tập
Các thông tin về khách hàng có thể được tìm thấy từ các nguồn sau:
Thông tin tài chính Thông tin phi tài chính
1. Báo cáo quyết toán năm (được
duyệt)
1- Nhận biết trực tiếp khi tiếp xúc
2. Báo cáo tài chính quý, tháng 2- Báo cáo hoạt động, tổng kết năm
của doanh nghiệp, bộ, ngành.
3. Phương án kinh doanh 3- Thông tin trên đài, báo, tạp chí …
4. Báo cáo của cơ quan phân tích tín
dụng
4- Thông tin của Tòa án, Thanh tra
5. Thông tin của cơ quan kiểm toán,
thuế
5- Các dự báo thị trường
6. Thông tin thị trường chứng khoán 6- Báo cáo của các nhà tư vấn
• Phân tích giải quyết cho vay.
Khi phân tích các khoản vay cần phân tích trên cả 2 góc độ: lịch sử và hiện
trạng.
Phân tích lịch sử bao gồm: y tín, kết quả kinh doanh, luân chuyển vốn, xu
hướng phát triển, hiệu quả quản lý, …
Phân tích hiện trạng gồm: tính hợp pháp (hàng hóa, môi trường…), tính phù
hợp với thị trường của sản phẩm, hàng hóa, tính khả thi của phương án sản xuất –
kinh doanh, khả năng sinh lời, tài sản đảm bảo, trạng thái rủi ro, luân chuyển vốn, khả
năng trả nợ, sự phù hợp với chiến lược, quy định của ngân hàng
Các kết quả phân tích trên có ý nghĩa to lớn với quyết định phê chuẩn cho
vay của ngân hàng khi căn cứ vào đó, ngân hàng sẽ phê chuẩn hạn mức, số tiền cho
vay, thời hạn và định các kỳ hạn nợ, …
• Biện pháp khác

Mọi ngân hàng dự cố gắng áp dụng tốt các biện pháp phòng ngừa cũng
không thể tránh khỏi tình trạng nợ quá hạn. Khi phát sinh hiện tượng khách hàng
không trả được nợ (lãi và gốc) đúng hạn, ngân hàng tiến hành chuyển nợ quá hạn và
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quy chế Cho Vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết
định số 1627/2001/QĐ –NHNN, tổ chức tín dụng chỉ có nghĩa vụ chuyển mọi
khoản vay thành nợ quá hạn ngay khi khách hàng không thanh toán đúng kỳ hạn trả
Tô Phương Thanh _ CQ 482533 25

Trích đoạn Bảng 4: Tình hình Nợ quá hạn qua các năm Bảng 5: Diễn biến nợ quá hạn theo thời hạn vay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status