MỤC LỤC
Trang
Lơì mở đầu
Quy ước trình bày
Mục lục.............................................................................................................................
1
Dẫn nhập .....................................................................................................................
5
0.1. Lí do chọn đề tài
...........................................................................................................................................
5
0.2. Phạm vi nghiên cứu
...........................................................................................................................................
6
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
...........................................................................................................................................
6
0.3.1. Mục đích nghiên cứu
..................................................................................................................
6
0.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
..............................................................................................................................
6
0.4. Lịch sử vấn đề
...........................................................................................................................................
7
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
...........................................................................................................................................
7
0.4.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt và trong PNNB
-1-
16
-2-
1.1.2. Đặc điểm xã hội .........................................................................................
18
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư .........................................................................
18
1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội ...........................................................
20
1.1.3. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ
.........................................................................................................................................
23
1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá..................................................
23
1.1.3.2. Đặc trưng văn hoá Nam Bộ .........................................................
23
1.1.3.3. Sự biến đổi và giao thoa văn hoá ở Nam Bộ ...............................
28
1.1.4. Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ ........................................................
29
1.1.4.1. Kh.niệm PN; từ đ.phương,phân vùng,xác định vùng PNNB.......
29
1.1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ
..............................................................................................................................
32
1.1.4.3. Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ
..............................................................................................................................
37
1.2. Định danh từ vựng ........................................................................................
38
1.2.1. Khái niệm định danh .....................................................................
-4-
2.3. Tiểu kết .........................................................................................................
84
Chương ba: Hệ thống từ ngữ gọi tên chung .............................................................
86
3.1. Định danh động vật.......................................................................................
86
3.1.1. Nguồn gốc .....................................................................................
88
3.1.2. Cấu tạo............................................................................................
88
3.1.3. Phương thức biểu thị......................................................................
90
3.1.4. Ngữ nghĩa.......................................................................................
92
3.2. Định danh thực vật .......................................................................................
93
3.2.1. Nguồn gốc .....................................................................................
95
3.2.2. Cấu tạo ...........................................................................................
95
3.2.3. Phương thức biểu thị......................................................................
96
3.2.4. Ngữ nghĩa........................................................................................
98
3.3. Định danh công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt ................................
99
3.3.1. Nguồn gốc
......................................................................................................................................
100
......................................................................................................................................
113
3.5.2. Cấu tạo
......................................................................................................................................
114
-6-
3.5.3. Phương thức biểu thị
......................................................................................................................................
115
3.5.4. Ngữ nghĩa
......................................................................................................................................
116
3.6. Định danh những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản
......................................................................................................................................
117
3.6.1. Nguồn gốc
......................................................................................................................................
118
3.6.2. Cấu tạo
......................................................................................................................................
118
3.6.3. Phương thức biểu thị
......................................................................................................................................
119
3.6.4. Ngữ nghĩa
......................................................................................................................................
121
3.7. Tiểu kết
......................................................................................................................................
122
trong PNNB là một vấn đề khá thú vị và chưa được các nhà Việt ngữ học quan tâm.
Qua việc nghiên cứu về đặc điểm định danh từ vựng, đề tài thử góp phần lí giải một
phần đặc điểm của PNNB. Đồng thời, qua đó hiểu thêm về môi trường tự nhiên, xã
hội, thấy được nét độc đáo về văn hoá của miền đất tận cùng Tổ quốc này.
0.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về định danh từ vựng, luận văn tập trung nghiên cứu về hệ thống
từ ngữ gọi tên riêng (như: địa danh, nhân danh), hệ thống từ ngữ gọi tên chung (như:
những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản; các loại động thực vật; những
công cụ, phương tiện lao động và sinh hoạt của con người; những đơn vị đo lường
dân gian và nhóm từ liên quan đến sông nước) sau khi tìm hiểu về những vấn đề
chung về Nam Bộ và về định danh. Như vậy, đối tượng khảo sát của chúng tôi bao
gồm từ và ngữ định danh. Luận văn cũng chỉ nghiên cứu phương thức định danh trực
tiếp, không có điều kiện nghiên cứu phương thức gián tiếp.
Sở dĩ chúng tôi giới hạn như vậy vì một mặt, bản thân không đủ năng lực,
khuôn khổ luận văn không cho phép; mặt khác, chỉ khảo sát hệ thống từ ngữ nói trên
bởi vì những từ ngữ này được sử dụng nhiều trong đời sống cộng đồng người dân
Nam Bộ, gắn bó với môi trường tự nhiên, thể hiện được đặc trưng văn hoá Nam Bộ.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu tiếng nói của người Nam
Bộ thông qua các tài liệu có được của các tác giả đi trước, qua thực tiễn lời ăn tiếng
nói hằng ngày của người dân địa phương, luận văn nhằm tìm hiểu về định danh từ
vựng của PNNB, đưa ra những nhận xét bước đầu về những đặc điểm có tính quy
-9-
luật trong việc định danh hiện thực của tiếng nói Nam Bộ. Đó cũng chính là đặc điểm
ngôn ngữ – văn hoá của vùng đất này.
0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra
những nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu về đặc điểm về tự nhiên và xã hội của Nam Bộ.
+ Tìm hiểu đặc trưng văn hoá của Nam Bộ.
+ Nêu lên những đặc điểm của PNNB.
- Cao Xuân Hạo (2001) lại đặc biệt quan tâm tới hệ thống âm vị của các
phương ngữ. Ông đối chiếu hệ thống âm vị của PNNB với phương ngữ Hà Nội, Nam
Trung Bộ, cả phát âm cổ để tìm ra nét khu biệt của hệ thống âm vị trong phương ngữ
này. Đây là ý kiến của ông trong bài viết “Hai vấn đề âm vị học của phương ngữ
Nam Bộ” in trong Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa.
- Bùi Khánh Thế (2001) và nhóm cộng tác trong Mấy vấn đề về tiếng Việt
hiện đại đã dành một số trang nghiên cứu đặc điểm ngữ âm của PNNB qua đặc điểm
ngữ âm tiếng Sài Gòn mà tác giả cho đó là tiếng Nam Bộ chuẩn.
- Huỳnh Công Tín (1999) nghiên cứu về ngữ âm PNNB với luận án tiến sĩ Hệ
thống ngữ âm tiếng Sài Gòn (So sánh với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ
khác ở Việt Nam). Ngoài ra, anh cũng có một số bài viết về ngôn từ của PNNB, cách
diễn đạt của người dân vùng ĐBSCL.
0.4.2. Nghiên cứu định danh trong tiếng Việt và trong phương ngữ Nam Bộ
- Nguyễn Đức Tồn (2002): Trong công tình Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân
tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)
của mình, ông đã đưa ra một số vấn đề về lí thuyết định danh ngôn ngữ; tìm hiểu đặc
điểm dân tộc của định danh động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người… so sánh với
ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Nga. Đây là một công trình nghiên cứu theo hướng lí
thuyết thuộc về lĩnh vực tâm lí – ngôn ngữ học tộc người – một lĩnh vực khá mới mẻ
đối với ngành ngôn ngữ học Việt Nam.
-11-
Trước đó, ông cũng đã có một bài viết Đặc trưng dân tộc của tư duy ngôn ngữ
qua hiện tượng từ đồng nghĩa (Tạp chí Ngôn ngữ số 3/ 1993) ít nhiều liên quan đến
lĩnh vực này.
- Đỗ Hữu Châu (1998, 1999) trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt đã dành nhiều trang nói về chức năng định danh của tín hiệu
ngôn ngữ. Ông khẳng định vai trò quan trọng của định danh trong giao tiếp và tư duy
của con người, miêu tả một cách cụ thể và thuyết phục quá trình định danh trong
tiếng Việt. Tuy nhiên, ông chỉ thừa nhận định danh ở cấp độ từ, không thừa nhận
định danh ở cấp độ cụm từ (trừ cụm từ ở dạng định danh hóa) và câu. Ông cho cụm
0.5. Phương pháp nghiên cứu
0.5.1. Đề tài tham khảo các tài liệu liên quan đến nhiều lĩnh vực như: tự nhiên,
lịch sử, văn hoá, xã hội, kinh tế của đồng bằng Nam Bộ; liên quan đến các lĩnh vực
ngôn ngữ học như từ vựng học, ngôn ngữ học tri nhận, ngữ pháp học, phong cách
học, ngữ dụng học; đến các tài liệu nghiên cứu về tiếng Việt nói chung, PNNB nói
riêng của các nhà ngôn ngữ học uy tín.
0.5.2. Phương pháp chủ yếu sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp
nghiên cứu liên ngành, phương pháp thống kê – phân loại, phương pháp so sánh - đối
chiếu, phương pháp miêu tả:
- Vấn đề định danh từ vựng có liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau
như: văn hoá học, tâm lí học, xã hội học, dân tộc học v.v. Do đó, khi thực hiện đề tài,
chúng tôi vừa phải có sự vận dụng tổng hợp kiến thức các chuyên ngành, vừa sử
dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để có thể tìm hiểu đặc điểm định danh từ
vựng trong PNNB một cách toàn diện và sâu sắc.
- Tiến hành tập hợp ngữ liệu thu thập được qua các tài liệu khoa học, qua
điền dã để làm căn cứ triển khai đề tài hoặc minh hoạ cho các luận điểm. Thống kê,
phân loại ngữ liệu, tư liệu.
- So sánh các ngữ liệu, số liệu từ vựng đã thống kê được giữa các vùng
phương ngữ khác, đối chiếu với các thời kì khác nhau trong PNNB.
-13-
- Miêu tả những ngữ liệu minh hoạ cho những nhận xét bước đầu về định danh
các trường từ vựng trong PNNB.
Các phương pháp trên chúng tôi không thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà phối
hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu.
0.6. Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm ba chương. Thứ tự tên các chương như sau: Một số vấn đề về Nam Bộ và định
danh, Hệ thống từ ngữ gọi tên riêng, Hệ thống từ ngữ gọi tên chung.
Ở chương một, luận văn trình bày các vấn đề về đặc điểm tự nhiên như địa
hình, đất đai, khí hậu, thuỷ văn, hệ thống sông rạch, đảo, bờ biển và rừng. Đây là
1.1. Một số vấn đề chung về Nam Bộ
Nam Bộ gồm 19 tỉnh thành, chia thành hai khu vực: miền Đông Nam Bộ
(ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL, còn gọi là Tây Nam Bộ). ĐNB gồm
các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và thành
phố Hồ Chí Minh; ĐBSCL gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, An Giang, Kiên
Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu Giang, Vĩnh Long,
Trà Vinh và thành phố Cần Thơ.
Vị trí địa lí Nam Bộ: phía bắc và tây - bắc giáp Cam-pu-chia, tây - nam giáp
vịnh Thái Lan; đông và nam giáp biển Đông; đông - bắc giáp Tây Nguyên và Nam
Trung Bộ.
-15-
Nam Bộ có diện tích: 63.258 km
2
(ĐNB: 23.545 km
2
, ĐBSCL: 39.713 km
2
),
dân cư: 27,3 triệu người (ĐNB:10,8 triệu người; ĐBSCL: 16.5 triệu người) – (số liệu
năm 2001).
Có thể đánh giá chung về Nam Bộ như sau: “Vùng đất Nam Bộ bao gồm cả
hai khu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long – địa bàn định cư cuối cùng của
những thế hệ lưu dân Việt – là một vùng thiên nhiên vừa hào phóng vừa khắc nghiệt,
nơi hàm chứa nhiều tiềm năng phong phú, nơi khí hậu thuận hoà, sông rạch chằng
chịt, có nhiều cửa sông lớn thông ra đại dương tạo nên những điều kiện đặc thù cho
sự quần cư và sáng tạo đời sống cộng đồng, cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp,
khai thác thuỷ hải sản, xây dựng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và mở rộng
giao lưu với bên ngoài. Tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội đó có ảnh hưởng rất
lớn đến sự hình thành tính cách, tâm lí, phong cách ứng xử của người Việt ở nơi
đây.” [52; 3]
lớn, nước ròng…
Nam Bộ là vùng đất rất đa dạng sinh học. Khí hậu - thuỷ văn ở đây tạo điều
kiện cho động thực vật sinh sôi nảy nở, thích hợp cho việc phát triển nguồn sinh vật
trên cạn và dưới nước, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, cho phát triển thuỷ hải
sản.
1.1.1.3. Sông rạch
Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch (cả kênh tự nhiên và kênh đào) ở Nam Bộ
dày đặc, chằng chịt. Hệ thống sông Cửu Long với hai nhánh lớn sông Tiền và sông
Hậu. Hệ thống sông này tạo ra chín cửa sông trước khi hoà vào biển Đông. Chín
cửa đó là (tính theo thứ tự từ Bắc vào Nam): Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ
Chiên, Cung Hầu (đúng ra là Cồn Ngao) thuộc sông Tiền và Định An, Ba Thắc,
Trần Đề (sự thực là Trấn Di) thuộc sông Hậu. [theo 66; 367]. Hệ thống sông Đồng
Nai với mạng lưới sông nhánh khá dày như sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn…
Các hệ thống sông ngòi, kênh rạch này hình thành nên những vùng châu thổ
rộng lớn. Những dòng sông, kênh rạch ấy không những mang phù sa bồi đắp cho đôi
bờ mà còn mang nước ngọt tưới mát cho những vườn cây ăn trái sum sê, những cánh
đồng thẳng cánh cò bay. Sông ngòi, kênh rạch Nam Bộ tạo nên một nền “văn minh
-17-
sông nước” phát triển, một mạng lưới giao thông thuận lợi và một tiềm năng thuỷ sản
dồi dào (sông Cửu Long hằng năm có thể cung cấp hơn chục nghìn tấn cá).
Vùng sông nước ấy đi vào tiếng nói, lời ca của con người nơi đây. Chúng ta có
thể bắt gặp rất nhiều những câu như: ”Nhà Bè nước chảy chia hai”, “Vàm nao sóng
vỗ lao xao”, “sông Cửa Đại hai chiều nước chảy”, “sông Tiền cá lội xoè vi”,
“Sông dài cá lội biệt tăm”, “Sông sâu nước chảy ngập kiều”, “Bìm bịp kêu nước lớn
anh ơi, buôn bán không lời chèo chống mải mê”… Theo Nguyễn Chí Bền thì hình
ảnh sông nước xuất hiện 85 lần trong 550 bài ca dao về tình yêu lứa đôi ở Nam Bộ
[dẫn theo 52; 66].
1.1.1.4. Đảo, bờ biển và rừng
Nam Bộ còn có những vùng duyên hải và biển với khá nhiều đảo trải dài như
đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Nghệ… Đảo không chỉ có tác
nhau” [24;150]. Sông nước là cảnh quan nổi bật, chiếm ưu thế ở đây, tiện lợi cho
việc phát triển du lịch sinh thái. Nhiều di tích lịch sử: Bến cảng Nhà Rồng, địa đạo
Củ Chi, nhà tù Côn Đảo, Hội trường Thống Nhất… còn ghi dấu mãi một thời hào
hùng của dân tộc. Thiên nhiên hào phóng nhưng cũng vô cùng hiểm nguy và khắc
nghiệt. Đó là cảnh “hùm tha, sấu bắt”, ”Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh
canh”, vùng nước mặn, đất phèn khó trồng cấy, gió mưa lũ lụt quanh năm v.v.
Có thể lấy nhận xét của nhà báo Phan Quang về ĐBSCL để nói về Nam Bộ
nói chung: “…hiện đại và hoang sơ, bí ẩn và cởi mở, giàu có và khó nghèo chen
lẫn, Đồng bằng sông Cửa Long hiện lên trước mắt ta ngồn ngộn sức sống” [68;
370].
1.1.2. Đặc điểm xã hội
1.1.2.1. Nguồn gốc dân cư
Những khám phá khảo cổ học trên đất Nam Bộ cho chúng ta biết rằng: từ thuở
xa xưa, ít nhất là cách ngày nay từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có mặt trên
vùng đất mới này. Họ có mặt đầu tiên ở vùng phù sa cổ (ĐNB), sau đó mới tiếp tục
hành trình xuống phía tây nam – vùng phù sa mới (châu thổ sông Cửu Long).
-19-
Chủ nhân đầu tiên có mặt ở vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam, người Chân
Lạp: “Chủ nhân ban đầu của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam mà sách Tấn thư
của Trung Hoa mô tả là”đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi đất, tính tình mộc mạc,
thẳng thắn, không trộm cắp” với hoạt động nông nghiệp và giao thông đường thuỷ
rất phát triển. Rồi đến thế kỉ VI thì Phù Nam nông nghiệp đã bị người Chân Lạp
dương tính hơn thôn tính.” [89; 603].
Từ thế kỉ XVII trở đi, Nam Bộ xuất hiện người Khơme, người Việt. Người
Việt là những lưu dân từ miền Bắc và miền Trung vào. Đây là những người dân bần
cùng hoặc muốn tránh cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn đẫm máu kéo dài (thế kỉ
XVII). Họ ra đi để kiếm sống và cũng mong được an thân. Lớp nông dân nghèo khác
cũng tiến vào Nam theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn. “Trong sự nghiệp 300
năm mở mang, khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người
Việt từ vùng đất sinh tụ lâu đời của mình là châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất
1.1.2.2. Đời sống và tổ chức xã hội
Người mới đến tiến hành khai hoang, đào kênh, lập làng mới. Đặc trưng
chung của làng Nam Bộ mang tính mở, không khép kín như kiểu làng Bắc Bộ, Trung
Bộ. Thôn ấp của nông dân Việt ở Nam Bộ được triển khai tự do, thoáng đãng dọc
theo các kênh rạch, sông ngòi chằng chịt, lợi dụng những điều tự nhiên thuận lợi,
tránh những điều bất lợi. Vì sống trong một môi trường mênh mang sông nước nên
người dân sinh hoạt “trên bến dưới thuyền” tấp nập, đi lại chủ yếu bằng thuyền bằng
ghe, thậm chí thuyền, ghe được dùng như là ngôi nhà của người dân ở đây. “Ở Gia
Định chỗ nào cũng có thuyền ghe hoặc lấy thuyền làm nhà, hoặc lấy thuyền để đi
chợ, thăm bà con, chở củi gạo, đi buôn bán lại càng tiện lợi. Thuyền ghe đầy sông, đi
lại đêm ngày, mũi thuyền đuôi thuyền liền nhau” [24; 148].
Nam Bộ là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em: người Việt (Kinh), người
Hoa, người Chăm, người Ấn, người Khơme… Lớp dân cư mới đông nhất vẫn là
người Việt. Nơi tập trung đông nhất của họ là những vùng đất dễ làm, có nước ngọt,
thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Đó là những vùng gần sông Vàm Cỏ, sông Tiền, là
-21-
đất Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé… Người Khơme là dân tộc đông thứ hai ở Nam Bộ.
Họ thường định cư, canh tác trên nhữõng nơi đất cao, màu mỡ như giồng, cù lao…
thuộc các tỉnh ven biển, nhiều nhất ở hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng. Các dân tộc lập
làng, dựng nhà cạnh nhau, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, phát
huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt từ thuở vua Hùng. Dân tộc nào theo phong
tục dân tộc đó. Tuy có ảnh hưởng nhau nhưng không nhiều.
Buổi đầu cuộc sống có phần thoải mái, “làm chơi ăn thật”. Con người tin cậy
vào sự hào phóng của thiên nhiên:
- “Hết gạo thì có Đồng Nai,
Hết củi thì có Tân Sài chở vô” (ca dao)
- “Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua” (ca dao)
Đời sống dân chúng dễ chịu, không phải lo cái ăn cái mặc: “Thành Gia Định
luôn tìm cách để làm cuộc sống của mình ngày một tốt hơn.
ĐNB là vùng phát triển kinh tế – xã hội rất năng động. Đó là kết quả khai thác
tổng hợp lợi thế của vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trên đất
liền, trên biển. Đây là vùng có cơ cấu kinh tế phát triển nhất so với các vùng khác
trong nước. Công nghiệp (khai thác dầu khí, hoá dầu, cơ khí, điện tử, công nghệ cao,
chế biến nông sản, hải sản xuất khẩu, hàng tiêu dùng…) và dịch vụ (thương mại, du
lịch, xuất nhập khẩu, vận tải, bưu chính viễn thông…) chiếm tỉ trọng cao nhất trong
GDP, tập trung ở thành phố ở Chí Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu. Sản xuất nông nghiệp
chiếm tỉ trọng nhỏ nhưng giữ vai trò quan trọng. ĐNB lấy nghề trồng lúa khô (lúa
rẫy) làm hoạt động sản xuất chính trong nông nghiệp.
ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước.
Vùng dân cư hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu (miệt vườn) chủ yếu làm nghề trồng
lúa, làm vườn. Vùng dân cư ven biển (miệt biển): trồng lúa nước, đánh bắt hải sản,
“bán vàm”, làm nghề “ăn ong”... Làng xóm ở đây thưa thớt, cuộc sống lệ thuộc nhiều
-23-
vào thiên nhiên. Vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười mỗi năm chịu ngập
lụt 3 - 4 tháng, đồng ruộng mênh mông cỏ lác. Cuộc sống người dân vất vả, lệ thuộc
vào môi trường tự nhiên. Đánh bắt cá, làm thuê, làm mướn là nghề chính ở đây.
Điều kiện tự nhiên đã tạo cho người dân Nam Bộ sống bằng nhiều nghề khác
nhau. Nghề thủ công được tổ chức thành phường thợ, có hàng trăm phường thợ như:
chiếu, tiện, đinh, dầu, vạn đò, chỉ, gốm, vôi, sồi, buồm, bột… Nếu trước đây “9
người làm ruộng mới có một người buôn bán” [24; 151] thì sau này nghề buôn bán ở
đây lại rất phát triển. “Trong khi người nông dân Bắc Bộ coi buôn bán là nghề xấu
thì người Việt ở Nam Bộ không những đã chấp nhận mà còn coi buôn là một “đạo”,
còn là một đạo “vui” (…) Biểu tượng của của Sài Gòn là chợ Bến Thành; Sài Gòn –
Tp Hồ Chí Minh nói riêng và Nam Bộ nói chung là nơi có nhiều chợ nhất trong cả
nước” [89; 199].
1.1.3. Đặc trưng văn hóa Nam Bộ
1.1.3.1. Văn hoá và các thành tố văn hoá
- Khái niệm văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
hoà hợp và tôn trọng. Tuy nhiên, dưới một khung trời khác, mưa nắng khác, sông núi
cỏ cây khác, những lưu dân Việt đã chọn cho mình một cách sống phù hợp với điều
kiện của mình, phù hợp với môi trường hoàn toàn mới. Sinh hoạt và sản xuất ở Nam
Bộ luôn gắn bó với những đổi thay, biến động của con nước, của dòng sông và của
thủy triều. Những biểu hiện của văn minh sông nước thể hiện rõ trong phương thức
lao động, trong nhịp sống sinh hoạt, trong tín ngưỡng, trong phong tục và ngôn
ngữ…
Trong lối ứng xử xã hội, người Việt phương nam vẫn giữ được sự mềm dẻo,
hiền hoà của con người gốc nông nghiệp. Họ thích ứng với môi trường linh hoạt hơn,
ít câu nệ và đa dạng trong sinh hoạt hằng ngày, thiết lập những quan hệ được quy
định bởi điều kiện sống. Chợ thường được đặt nơi bến sông. Xóm làng thường được
lập trên đất khai hoang, nằm trên các gò đồi hay những giồng đất cao. Làng Nam Bộ
“ở tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện làm ăn”, một thiết chế xã hội cũng
đã thoáng hơn. “Làng xã Nam Bộ không có những thiết chế quá chặt chẽ (nhiều làng
-25-