1
LỜI NÓI ĐẦU
Sắp bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của nền khoa học kĩ thuật đang phát
triển với tốc độ nhanh chóng. Đất nước ta ngày càng hoà nhập hơn vào xu
thế tiến bộ đó của thế giới, với những bước đi công nghiệp hoá, hiện đại
hoá để trang bị cho cơ sở vật chất của chúng ta ngày càng tiên tiến hơn
hiện đại hơn. Nhờ có chính sách đổi mới đúng đắn ấy của nhà nước về
công nghệ thông tin và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt nam
mà hiện nay chúng ta đã có một số thiết bị điện tử được sử dụng ngày
càng nhiều vào các ngành như: Phát thanh truyền hình, Bưu chính viễn
thông, các viện nghiên cứu, các bệnh viện lớn, các nhà máy xí nghiệp
Chúng ta đang thừa hưởng những công nghệ hiện đại vào cuộc sống và
công việc hàng ngày thì cũng tồn tại song song với chính nó là các rủi ro
có thể xảy ra đối với các công nghệ đó. Chẳng hạn nếu giả sử hệ thống
bưu chính viễn thông sử dụng các thiết bị điện tử mà gặp sự cố như sét
đánh hoặc điều khiển sai kĩ thuật thì thiệt hại rất là to lớn vì các thiết bị
này có đặc điểm là phải nhập ngoại với giá trị rất cao so với thu nhập của
chúng ta. Để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra thì bảo hiểm thiết bị
điện tử ra đời như một nhu cầu tất yêú giúp các tổ chức, cơ quan, xí
nghiệp yên tâm, tin tưởng để sử dụng các thiết bị điện tử cho công việc
của mình.
Ở Việt nam, có thể coi bảo hiểm thiết bị điện tử là một trong những
1
2
nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ mới nhất và đây là một nghiệp vụ khá
phức tạp đòi hỏi kĩ thuật cao trong các công đoạn và trong cách tính phí
Do vậy nghiên cứu nghiệp vụ này là rất cần thiết đối với những người
làm công tác bảo hiểm. Xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó, nên trong quá
trình thực tập tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện em đã chọn đề tài:
“Phân tích đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị
điện tử tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện và một số kiến nghị
3
4
tới 41.000 người và 5 triệu người bị thương.
Các thiết bị điện tử cho phép tự động hoá trong các quả trình công nghệ
và kiểm tra sản phẩm ở các xí nghiệp dệt, nhà máy chế tạo mô tơ, hoá
chất trong hầm mỏ, nhà máy đóng tàu. Các thiết bị điện tử trực tiếp làm
tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện điều
kiện làm việc. Chẳng hạn, trong việc học ngoại ngữ chỉ cần dùng máy vi
tính và hệ thống loa âm thanh ta có thể nghe chính xác như người nước
ngoài nói mà không phải có giáo viên trực tiếp dạy.
Ta có thể áp dụng những thành tựu của điện tử trong những thiết bị sử
dụng hàng ngày như vô tuyến truyền hình, máy ghi âm máy thu thanh.
Ngoài ra do sử dụng cáp quang và hệ thống vệ tinh mà khả năng liên lạc
toàn cầu sẽ được thực hiện một cách dễ dàng khả năng lựa chọn bất cứ
chương trình vô tuyến và radio hoậc thậm chí thực hiện chương trình
riêng từ băng ghi hoặc phím, khả năng thu tại nhà những bản in như; tin
tức báo chí, những tư liệu khác nhau từ trung tâm tính toán.
Để tìm hiểu một cách chi tiết về thiết bị điện tử phục vụ cho đề tài này, có
thể phân loại thiết bị điện tử ra làm các loại như sau:
- Các thiết bị EDP (Electronic Data processing) và các thiết bị điện tử
dùng trong văn phòng (máy vi tính, máy tính trung tâm), các thiết bị
ngoại vi như máy in, máy đếm, máy photocopy, máy chiếu
4
5
-Thiết bị viễn thông: thiết bị điện thoạI (ở các tổng đài điện tử), thiết bị
truyền xa (hệ thống telex,selex. )
- Thiết bị thu thanh truyền hình: các thiết bị rada, trạm vệ tinh mặt đất,
các bộ kính thiên văn , camêra truyền hình, thiết bị ghi hình, thiết bị tạo
hình, phòng ghi và sao video.
- Thiết bị chiếu sáng và thiết bị hàng hải: thiết bị đèn chiếu, đèn pha, đèn
may gặp các rủi ro nói trên. Với việc thu phí bảo hiểm của nhiều tổ chức
kinh tế và cá nhân có liên quan trong xã hội để lập qũi bảo hiểm và quan
hệ tái bảo hiểm có đủ khả năng bồi thường ngay tổn thất cho người được
bảo hiểm, cho dù tổn thất có lớn tới mức nào đi chăng nữa, giúp họ nhanh
chóng khắc phục hậu quả tổn thất, khôi phục sản xuất kinh doanh và đời
sống.
Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi tổ chức, đơn vị, xí nghiệp
6
7
đều phảI tự chủ về mặt tài chính và chủ động trong kinh doanh. Với cơ sở
vật chất sẵn có của mình, họ phải lo liệu làm sao sản xuất kinh doanh đạt
được hiệu quả cao nhất. Cơ chế mới đó vừa thúc đẩy sự phát triển sản
xuất của các xí nghiệp, mặt khác đòi hỏi các xí nghiệp phải tự chủ hơn
trong sản xuất kinh doanh vì với việc xoá bỏ cơ chế bao cấp, các xí
nghiệp sẽ không được Nhà nước trợ cấp trong các trường hợp làm ăn
không có hiệu quả hoặc không may gặp phải rủi ro làm ảnh hưởng đến
sản xuất, kinh doanh. Điều đó, buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến
vấn đề bảo hiểm. Nếu tham gia bảo hiểm, trong trường hợp gặp phải các rủi
ro gây ra thiệt hại tới tài sản, tiền vốn của họ thì bảo hiểm sẽ bồi thường kịp
thời các tổn thất đó, giúp người được bảo hiểm giải quyết ngay khó khăn về
mặt tài chính, không cần xin ngân sách nhà nước trợ cấp. Căn cứ vào điều
kiện tài chính của mình, chỉ với một khoản phí bảo hiểm rất nhỏ trả cho
người bảo hiểm, khi gặp tổn thất người được bảo hiểm sẽ nhận được
khoản tiền bồi thường của người bảo hiểm và sẽ chủ động nhanh chóng
khôI phục, đưa sản xuất kinh doanh trở lại bình thường.
Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm thiết bị điện tử Người bảo hiểm cùng
với các ngành, các cơ quan hữu quan khác phối hợp tiến hành công tác đè
phòng, hạn chế tổn thất nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây
ra thiệt hại đối với tài sản, con người. Đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm
thiết bị điện tử, các biện pháp đề phòng, chữa cháy, kiểm tra, giám định
phần mềm và sự ứng dụng của nó. Ngày nay, dữ liệu gốc và dữ liệu giao
dịch được lưu trữ vào máy tính là nguồn thông tin phổ biến của mỗi công
ty do đó cả phần mềm và dữ liệu là những tài sản rất có giá trị đối với
mọi doanh nghiệp. Sự tồn tại và tính chính xác của chúng bị đe doạ bởi
rất nhiều rủi và hiểm hoạ đa dạng khi so sánh với chính thiết bị đó.
Các hoạt động có thể bị gián đoạn cho tới khi việc phục hồi đầy đủ thông
tin được tiến hành.
Bốn là, để chiều theo ý khách hàng, bảo hiểm thiết bị điện tử có thể thay
đổi phù hợp với từng nhu cầu thông qua các bản sửa đổi bổ xung và cơ
cấu định giá rủi ro.
2. Lịch sử phát triển bảo hiểm thiết bị điện tử
a) Khái quát về lịch sử bảo hiểm kĩ thuật
So với các loại hình bảo hiểm khác như: Bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm
cháy thì bảo hiểm kĩ thuật ra đời chậm hơn. Có thể nói rằng: Bảo hiểm
kĩ thuật ra đời cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng khoa học kĩ
9
10
thuật và chính sự phát triển của khoa học kĩ thuật là động lực thúc đẩy sự
lớn mạnh không ngừng của lĩnh vực bảo hiểm này. Ta có thể đưa ra một
vàI số liệu để so sánh như sau:
- Bảo hiểm cháy ra đời từ năm 1667
- Bảo hiểm hàng hải ra đời vào năm1687
- Đơn bảo hiểm kĩ thuật đầu tiên xuất hiện vào năm
1859
Đó là đơn bảo hiểm về máy móc và năm 1859 xuất hiện đơn bảo hiểm
đầu tiên cho nồi hơi.
Tuy sinh sau đẻ muộn hơn so với các loại hình bảo hiểm khác, nhưng với
sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong thế kỷ 20
này, bảo hiểm kĩ thuật cũng đã tiến được những bước dài quan trọng và
trở thành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng nhất hiện nay.
12
mở rộng bao gồm các hệ thống loa chuyên dùng, hệ thống tín hiệu ánh
sáng và hệ thống báo cháy cũng như các thiết bị viễn thông khác, tiếp đến
là xuất hiện của thế hệ máy tính điện tử.
Công nghệ máy tính hiện đại đã phát triển và được hoàn chỉnh bởi
KONZADZNSE tai Đức vào năm 1941. Trong cùng thời gian đó ở Mỹ,
hình thành chuỗi máy tính điều khiển tự động, bước tiếp theo là sử dụng
các ống điện tử cho việc tính toán. Máy tính lớn nhất ENIAC là một hệ
thống khổng lồ với hơn 18000 ống điện tử, 1500 thiết bị ngoại vi khác và
có mức tiêu thụ trên 150KW. Sau đó là một chương trình ghi nhớ được
phát hiện bởi nhà toán học John Newman trong năm 1948.
Cho đến năm 1950, có sự thay thế các ống điện tử bằng transito và diot.
Từ trước đến năm 1960 vi mạch điện tử mở đường cho “cách mạng công
nghiệp lần thứ 3"
Tiếp đến năm 1970: những yếu tố rủi ro mới xuất hiện đòi hỏi phải có
những điều kiện bảo hiểm mới dẫn đến sự ra đời đơn bảo hiểm thiết bị điện tử
(EEI).
Năm 1980 EEI trở thành hợp đồng bảo hiểm được yêu cầu nhiều nhất
trong lĩnh vực bảo hiểm kĩ thuật.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển nhanh chóng của ngành công
nghiệp điện tử trong thế kỉ 20 cùng với sự xâm nhập có nhiều đổi mới của
12
13
loại hình bảo hiểm thiết bị điện tử đã tạo ra loại hình bảo hiểm chuyên
dụng này có tầm quan trọng hiện nay của thế giới bảo hiểm. Ngày nay
nhiều doanh nghiệp không thể cạnh tranh khi thiếu vô số các loại công
nghệ mà nghành điện tử cung cấp và trong trường hợp tổn thất hay hư
hỏng thiết bị điện tử của mình nhiều công ty có thể không có khả năng
tồn tại lâu dài. Tình hình này đã có lợi cho sự phát triển của loại hình bảo
hiểm thiết bị điện tử trong quá khứ và sẽ phát triển liên tục trong nhiều
thiết bị điện tử phát triển.
Sau khi có chính sách đổi mới về kinh tế, mở cửa ra thị trường thế giới thì
thị trường việt nam về công nghệ thông tin đã được khởi sắc từ đầu
những năm 90. Bước khẳng định cho sự phát triển thị trường này là tác
động vĩ mô của nhà nước về chính sách công nghệ thông tin. Ngày 7
tháng 4 năm 1993 chính phủ ban hành Nghị định 49/CP xác định chính
sách, quan điểm và mục tiêu của việc phát triển công nghệ thông tin đến
14
15
năm 2000.
Các công ty máy tính tầm cỡ thế giới bắt đầu bước vào thị trường Việt
Nam như Compaq, IBM, ACER.
Một yếu tố hết sức thuận lợi nữa là khi nền kinh tế Việt nam có mức độ
tăng trưởng cao và ổn định thì đi đôi với nó là yêu cầu phục vụ về thông
tin, phục vụ về sức khoẻ cho người dân, phục vụ sinh hoạt giải trí hết sức
được quan tâm. Đó là các nghành như: truyền hình,thiết bị phục vụ y tế,
các trung tâm điện tử, viện nghiên cứu bắt buộc phải có các thiết bị điện
tử có giá trị lớn nhập từ nước ngoài về. Do đó muốn bảo đảm cho chúng
trong điều kiện hết sức phức tạp ở Việt nam, các cơ quan như truyền hình
bệnh viện, bưu điện, phải tham gia nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử.
Bảng 1:Minh hoạ về tốc độ tăng trưởng GDP của Việt nam trong thời
gian 1994-1998
Năm 1994 1995 1996 1997 1998
Tốc độ tăng trưởng(%) 8,8 9,5 9,3 9,0 6,1
Môi trường kinh tế nói chung đang tạo điều kiện thuận lợi cho những
nước kém phát triển như Việt nam những cơ hội thuận lợi để mau chóng
hội nhập vào mạng lưới thông tin quốc tế. Tính toàn cầu hoá của mạng
lưới thông tin quốc tế biến bất cứ một quốc gia nào không phải là chiều đi
hay chiều đến thì cũng trở thành nơi quá cảnh của các luồng thông tin và
do đó việc nâng cao tính đồng bộ của hệ thống thông tin toàn cầu trở
Bảng 2:Công nghệ thông tin và dân số các nước
Stt Quốc gia Dân số (triệu
người)
Số máy tính/1000người
1 Việt nam 72 0,5
2 Trung quốc 1178 1,00
3 Ấn độ 903 1,00
4 Philipin 68 4,00
5 Thái lan 59 9,00
6 Hàn quốc 45 37,00
7 Đài loan 21 74,00
8 Nhật 125 97,00
9 Hồng kông 6 101,00
10 Singapo 3 125,00
11 New Zealand 3 147,00
12 Úc 18 192,00
13 Mỹ 258 287,00
Nguồn:PC WoRLD 12/1995
Từ bảng trên cho ta thấy mức cầu của công nghệ thông tin một số nước
trên thế giới. Qua bảng này ta thấy số máy vi tính /1000người dân của
Việt nam là rất thấp, chứng tỏ rằng Việt nam còn là một thị trường công
nghệ thông tin tiềm năng lớn. Do đó bảo hiểm trong lĩnh vực này có
17
18
nhiều cơ hội để phát triển và đạt kết quả khả quan trong tương lai.
c,Điều kiện môi trường pháp lí:
Chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng của môi trường luật
pháp đối với nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử. Một môi trường luật
bảo hiểm thông thoáng ra đời sớm sẽ có nhiều ưu thế đối với các công ty
bảo hiểm. Ở Việt nam bước đầu đã có được ưu thế đó:
móc thiết bị điện tử (tức là những máy móc thiết bị có lắp cac mạch và
các linh kiện điện tử )dùng trong các ngành các lĩnh vực khác nhau như
bưu điện, viễn thông, tin học, y tế, điện ảnh, phát thanh truyền hình, hàng
hải, hàng không, khí tượng khoa học kĩ thuật vv
2-Phạm vi bảo hiểm
19
20
Phạm vi bảo hiểm thiết bị điện tử được chia ra làm 3 phần. Đó là bảo
hiểm vật chất đối với các thiết bị điện tử, bảo hiểm cho phương tiện lưu
trữ dữ liệu bên ngoài và bảo hiểm chi phí gia tăng. Người tham gia bảo
hiểm có thể tham gia một hoặc cả 3 phần này và khi đó mức phí bảo
hiểm và quyền lợi của người được bảo hiểm cũng phụ thuộc tương ứng
vào việc lựa chọn các phạm vi bảo hiểm này.
Phần I-Tổn thất vật chất đối với thiết bị
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những thiệt hại vật
chất bất ngờ không lường trước xảy ra đối với thiết bị điện tử do các
nguyên nhân như: cháy nổ, sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, đoản mạch,
nước, sơ xuất của người sử dụng và các sự cố ngẫu nhiên khác không bị
loại trừ theo các điều kiện của đơn bảo hiểm.
Ngoài ra, nếu các thiết bị điện tử đã được công ty PTI bảo hiểm theo phần
I nói trên người được bảo hiểm có thể mua bảo hiểm thêm cho các phần
II và III như đề cập dưới đây.
Phần II:Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
Công ty PTI sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những chi phí để
sửa chữa hoặc thay thế các phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài trong
trường hợp chúng bị tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm như qui ddịnh ở
phần I gây ra và các chi phí để khôi phục lại những thông tin đã mất.
20
21
Phần II chỉ có hiệu lực khi người được bảo hiểm tham gia cả phần I của
đơn bảo hiểm cháy, nổ, sét đánh (trực tiếp) và một và rủi ro khác không
điển hình đối với các thiết bị điện tử (như rủi ro do máy bay và các
phương tiện hàng không khác rơi vào ; gây rối, bạo loạn, đình công,
giông bão Nhưng hầu hết những rủi ro được bảo hiểm theo đơn bảo
hiểm cháy không phải là rủi ro điển hình cuả thiết bị điện tử.
22
23
Bảng 3: Bảo hiểm cho các TBĐT
(Các rủi ro chính được bảo hiểm theo các đơn BH khác nhau)
Các rủi
ro
bảo
hiểm
Loại
hình
bảo
hiểm
Cháy (bao
gồm cả
các tổn
thất phát
sinh từ
các công
việc chữa
cháy và
cứu hộ)
Sét
đánh,
nổ,
đâm
rỉ
nướ
c
Lũ
lụt,
ngậ
p
nướ
c
Vận
hành
sai
(bất
cẩn,
cẩu
thả,
thiếu
kỹ
năng )
Bảo
hiểm
TBĐT
BH
Cháy
Chỉ
sét
đánh
trực
người được bảo hiểm, phản ứng hạt nhân và nhiễm phóng xạ, lập chương
24
25
trình sai, các chi phí để thực hiện công tác bảo dưỡng nhằm mục đích hạn
chế và ngăn ngừa tổn thất và đảm baỏ cho các thiết bị hoạt động an toàn.
b.Các điểm loại trừ riêng:
Các điểm loại trừ riêng được áp dụng cho từng phần:
- Phần tổn thất vật chất đối với thiết bị
- Phương tiện lưu trữ dữ liệu bên ngoài
- Chi phí gia tăng
Cụ thể ta đi vào từng phần:
* Tổn thất vật chất đối với thiết bị điện tử:
Công ty PTI sẽ không chịu trách nhiệm đối với:
-Mức khấu trừ qui định trong bảng tóm tắt điều kiện bảo hiểm (gọi
tắt là BTTĐKBH) mà người được bảo hiểm phải chịu trong mọi sự cố.
Tuy nhiên nếu tronng một sự cố có 2 hạng mục trở lên bị tổn thất thì
người được bảo hiểm chỉ chịu mức khấu trừ cao nhất trong các mức khấu
trừ áp dụng cho các hạng mục bị tổn thất đó
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp gây nên bởi núi lửa động đất, sóng thần,
gió xoáy và bão mạnh từ cấp 8 trở lên
-Tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do trộm cướp.
25