Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường với những chính sách mở cửa hội nhập mạnh mẽ của
Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã làm thay đổi cơ bản bộ
mặt của nền kinh tế đất nước, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp Việt Nam tìm kiếm và tận dụng thành công những cơ hội kinh doanh
mới, thu được lợi nhuận tối đa, bảo đảm được các mục tiêu an toàn, nâng cao
uy tín và mở rộng thế lực trên thương trường.
Tuy nhiên, để đạt được tất cả các mục tiêu phát triển, không phải là
điều đơn giản đối với doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường hội
nhập quốc tế. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm vừa qua cho thấy,
vòng xoáy cạnh tranh của nền kinh tế thị trường đã đưa nhiều doanh nghiệp
đến với đỉnh cao vinh quang và đã đẩy không ít doanh nghiệp tới bờ vực phá
sản, đồng thời chứng minh rằng sự thành công hay thất bại của một doanh
nghiệp phụ thuộc rất lớn vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó trên
thương trường.
Hiện nay, vấn đề năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh là vấn đề bức xúc đặt ra cho doanh nghiệp Việt Nam trong tiến
trình nền kinh tế Việt nam hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới và khu vực.
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không những đụng chạm
tới tất cả các yếu tố nội tại của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của hệ thống các yếu tố môi trường vĩ mô với sự can thiệp và quản lý của
Nhà nước.
Các công ty bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm dầu khí Thăng Long nói
riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó, cũng phải cạnh tranh cho sự tồn tại
và phát triển của mình trên thị trường bảo hiểm. Bên cạnh đó, bảo hiểm xe cơ
giới là nghiệp vụ bảo hiểm hết sức quan trọng, không thể thiếu của tất cả các
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công ty bảo hiểm phi nhân thọ vì xe cơ giới hàng năm gây ra thiệt hại rất lớn
(TNDS) của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
1.1. Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm:
1.1.1. Đối tượng bảo hiểm:
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI
BẢO HIỂM XE ÔTÔ
Bảo hiểm vật chất xe
BẢO HIỂM XE MÁY
Bảo hiểm trách nhiệm dân
sự đối với bên thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm dân
sự đối với hàng hóa
Bảo hiểm tai nạn lái phụ
xe và người ngồi trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân
sự đối với bên thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm dân
sự đối với hành khách
Bảo hiểm tai nạn người
ngồi trên xe
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe
cơ giới:
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ
xe cơ giới đối với người thứ ba:
- Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại
hình bảo hiểm tài sản và được thực
hiện dưới hình thức tự nguyện. Chủ
xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là
thường bao gồm:
+ Tai nạn do đâm va, lật đổ
+ Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá
+ Mất cắp toàn bộ xe
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên
- Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc
xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn
thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý
nhằm bảo vệ và hạn chế tổn thất.
Tuy nhiên trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường (STBT) của
công ty bảo hiểm là không vượt quá số tiền bảo hiểm (STBH) đã ghi trên đơn
hay giấy chứng nhận bảo hiểm. Đồng thời công ty bảo hiểm sẽ không chịu
trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:
+ Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết
tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.
+ Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng
mà không do tai nạn gây ra.
+ Mất cắp bộ phận của xe.
- Để tránh những “nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi
vi phạm pháp luật, hay một số rủi ro đặc biệt khác cũng sẽ không được bồi
thường.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
- Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường
trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Các thiệt hại
nằm trong phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm bao gồm:
+ Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khỏe của bên thứ ba;
+ Thiệt hại về tài sản, hàng hóa… của bên thứ ba;
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Một phương pháp xác định GTBH mà các công ty bảo hiểm hay áp
dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:
GTBH = Giá trị ban đầu – Khấu hao (nếu có)
STBH chủ xe mua có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn GTBH và là cơ
sở để xác định số tiền bồi thường.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Đây là hình thức bảo hiểm trách nhiệm vì vậy không có căn cứ nào để
xác định GTBH (hay STBH). Nhưng đối với STBH, công ty bảo hiểm thường
dựa vào tình hình thiệt hại của các năm trước, khả năng đóng phí của chủ xe
để đưa ra giới hạn trách nhiệm đối với chủ xe. Trách nhiệm bồi thường của
bảo hiểm phụ thuộc vào mức độ thiệt hại gây ra cho bên thứ ba nhưng không
vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với chủ xe đã ghi trong hợp đồng. Quá giới
hạn đó, chủ xe phải tự bồi thường.
1.2.2. Phí bảo hiểm:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ
thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:
- Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có
mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho
từng loại xe.
Công thức:
P = f + d
Trong đó: P – Phí thu mỗi đầu xe
d – Phụ phí
f – Phí thuần
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các biên bản tài liệu xác định trách nhiệm của người thứ ba
- Các chứng từ liên quan đến thiệt hại của người thứ ba về con người,
tài sản (nếu có)…
Việc giám định tổn thất được công ty bảo hiểm tiến hành nhằm xác
định nguyên nhân và mức độ thiệt hại thực tế (cả với bên thứ ba). Trách
nhiệm bồi thường tổn thất như sau:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Việc tính toán STBT cho chủ xe được dựa trên 4 nguyên tắc:
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế:
STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x STBH / GTBH
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế: Công ty bảo
hiểm bồi thường với STBT chỉ bằng thiệt hại thực tế và luôn luôn nhỏ hơn
hoặc bằng giá trị thực tế của chiếc xe. Trong thực tế chấp nhận bảo hiểm theo
“giá trị thay thế mới” tuy nhiên phí bảo hiểm khá cao và phải đảm bảo các
điều kiện bảo hiểm nghiêm ngặt.
- Trường hợp tổn thất bộ phận; Bồi thường theo một trong hai nguyên
tắc nêu trên. Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức bồi
thường bằng tỷ lệ giá trị tổng thành xe.
- Trường hợp tổn thất toàn bộ: Trong trường hợp bị mất cắp, mất tích
hoặc xe bị thiệt hại nặng đến mức không thể sửa chữa phục hồi hoặc chi phí
phục hồi bằng hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe sẽ được coi là tổn thất toàn
bộ. Khi này, STBT lớn nhất bằng STBH và phải trừ khấu hao cho thời gian xe
đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tương đương với giá trị xe ngay trước khi xảy
ra tổn thất.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phải xác định được thiệt hại của bên thứ ba về: Tài sản và Con người.
Như vậy, toàn bộ thiệt hại của bên thứ ba:
Ý chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin) là “Tranh đua giữa những cá
nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về
mình”.
Ngoài ra còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh,
nhưng các học thuyết kinh tế thị trường, dù bất cứ trường phái nào cũng đều
thừa nhận rằng: Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị
trường, nơi mà cung – cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị
trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
2.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh:
Căn cứ vào định nghĩa của Đại từ điển tiếng việt do Nguyễn Như Ý chủ
biên thì Năng lực cạnh tranh là “Khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh
tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ”.
Cho đến nay đã có nhiều tác giả đưa các cách hiểu khác nhau khi
nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái niệm
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các khái niệm này là một khái niệm phức
hợp được xem xét ở các cấp độ khác nhau: như năng lực cạnh tranh của quốc
gia, năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp, của sản phẩm dịch vụ.
Đẻ xem xét về khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm/nhãn mác
sản phẩm thì theo một số tác giả, đó là khả năng sản phẩm đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo
hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì, dịch vụ đi kèm… hơn hẳn trong tương
quan so sánh trực tiếp với những sản phẩm hàng hóa cùng loại hoặc sản phẩm
hàng hóa tương tự cạnh tranh trên cùng một thị trường mục tiêu trong một
khoảng thời gian hoặc thời điểm nghiên cứu xác định.
Theo GS Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Trung tâm kinh tế Châu Á Thái
Bình Dương: “Khả năng cạnh tranh sản phẩm là khả năng duy trì và cải thiện
vị trí cạnh tranh sản phẩm trong hiện tại và tương lai so với các đối thủ cạnh
2.2. Sản phẩm dịch vụ:
2.2.1. Khái niệm dịch vụ:
Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về dịch vụ, do vậy có nhiều
quan niệm về khái niệm dịch vụ. Có quan niệm cho rằng dịch vụ có thể được
hiểu là hoạt động cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật nhằm đáp
ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, đời sống vật chất tinh thần, các hoạt
động ngân hàng, tín dụng, cầm đồ, bảo hiểm… Trong kinh tế học hiện đại,
dịch vụ được quan niệm rộng rãi hơn nhiều. Dịch vụ bao gồm toàn bộ các
ngành, các lĩnh vực có tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) trừ các ngành sản xuất các sản phẩm vật chất như công
nghiệp, nông nghiệp (bao gồm cả lâm, ngư nghiệp).
Với cách tiếp cận dưới góc độ là đối tượng hoạt động trao đổi (mua –
bán) của thương mại thì có thể khái niệm về dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm vô hình (phi vật thể), được cung ứng ra thị trường với mục đích trao
đổi (mua – bán).
2.2.2. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ:
- Là sản phẩm vô hình: Dịch vụ là của lao động con người, dịch vụ là
“sản phẩm” nhưng khác với hàng hóa ở thuộc tính cơ bản nhất đó là tính “vô
hình” hay “phi vật thể”. Người ta không thể sờ mó, nhìn thấy… các dịch vụ.
- Sản xuất, lưu thông, tiêu dùng các dịch vụ diễn ra đồng thời: Đối với
một hàng hóa, quá trình sản xuất, quá trình lưu thông và quá trình tiêu dùng
có thể tách rời độc lập với nhau. Trong lưu thông hàng hóa, mua bán hàng hóa
cũng có thể tách rời về không gian và thời gian. Nhưng tất cả những điều kể
trên lại là không thể đối với trường hợp các dịch vụ. Điều đó có nghĩa là các
hoạt động tạo ra, cung cấp và bán các dịch vụ cùng đồng thời xảy ra với quá
trình sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng theo không gian và thời gian.
- Sản phẩm dịch vụ không thể vận chuyển bằng các phương tiện vận
nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng tới giá thành và giá bán sản
phẩm. Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại và đầy đủ thì sản
phẩm của họ nhất định có chất lượng cao. Ngược lại không có một doanh
nghiệp nào có thể nói là sản phẩm của họ có sức cạnh tranh cao khi mà trong
tay họ là cả một hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu, chi
phí lớn, hiệu quả thấp.
b. Nguồn nhân lực:
Chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng đối với cơ cấu sản
xuất, khả năng cạnh tranh, xuất khẩu của sản phẩm. Đây là nhân tố có ảnh
hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Cho dù trình độ khoa học công
nghệ có hiện đại đến đâu thì nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bản nhất tác động tới chất lượng các hoạt động sản xuất sản phẩm và các hoạt
động dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề kinh nghiệm, ý thức trách
nhiệm, tính kỷ luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với sự
thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp tác động
trức tiếp đến chất lượng sản phẩm và là yếu tố tác đông mạnh mẽ tới sức cạnh
tranh của sản phẩm. Bởi vì, khi tay nghề cao, chuyên môn cao lại cộng thêm
lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động, giảm giá thành
sản phẩm là tất yếu, đây là tiền đề để tăng cường khả năng cạnh tranh của sản
phẩm.
c. Quy mô, uy tín doanh nghiệp, thương hiệu của sản phẩm:
Quy mô thực chất là giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tận dụng
lợi thế về quy mô sản xuất kinh doanh lớn. Doanh nghiệp có quy mô lớn, đặc
biệt là về vốn sẽ là cơ sở, nền tảng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động
của mình nhằm hướng tới lợi nhuận cao nhất có thể. Còn nếu các doanh
nghiệp tham gia thị trường với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về chi
phí, do đó sản phẩm của họ rất khó có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường.
các hoạt động nghiên cứu thị trường, cải tiến sản phẩm phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng, làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
e. Năng lực tổ chức quản lý và điều hành kinh doanh:
Bộ máy tổ chức quản lý phù hợp gọn nhẹ, quan điểm rõ ràng sẽ làm
cho hoạt động của doanh nghiệp thông suốt giảm chi phí hành chính, thúc đẩy
hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do môi trường kinh doanh luôn ở
trạng thái không ổn định, đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại được phải
linh hoạt thích ứng với các biến động đó, nếu không doanh nghiệp sẽ trở
thành lạc hậu và bị loại khỏi cuộc. Nhu cầu luôn thay đổi, chu kỳ sống của
sản phẩm bị rút ngắn, các sản phẩm thay thế liên tục xuất hiện với mẫu mã và
chất lượng, công dụng cao hơn. Do vậy, sức cạnh tranh của sản phẩm được
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đánh giá bởi sự linh hoạt và biết thực hành của doanh nghiệp để luôn đáp ứng
được nhu cầu luôn thay đổi của thị trường.
2.3.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
a. Các yếu tố về kinh tế:
Bao gồm các giai đoạn trong chu kỳ kinh tế, nguồn cung cấp tín dụng,
tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp.
- Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập dân cư tăng, khả năng thanh
toán của họ tăng dẫn đến sức mua tăng. Đây là cơ hội tốt cho các doanh
nghiệp, nếu doanh nghiệp nào hiểu rõ được điều này và có đủ khả năng đáp
ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã) thì
chắc chắn doanh nghiệp đó thành công và có khả năng cạnh tranh cao.
- Khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thì hiệu quả kinh doanh
trong các doanh nghiệp là cao, khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn. Họ sẽ
đầu tư và phát triển sản xuất với tốc độ cao và như vậy các nhu cầu các tư liệu
sản xuất lại tăng, các doanh nghiệp lại có cơ hội kinh doanh và có khả năng
cạnh tranh cao.
lệ tăng dân số, tỷ lệ sinh đẻ. Tất cả các nhu cầu đó ảnh hưởng đến nhu cầu thị
trường và do đó ảnh hưởng đến điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp.
Những khu vực khác nhau mà ở đó thị hiếu tiêu dùng, nhu cầu khác nhau đòi
hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách sản phẩm và tiêu thụ khác nhau.
d. Các nhân tố tự nhiên:
Bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên đất nước, vị trí địa lý, phân bố địa lý
của các tổ chức kinh doanh. Các nhân tố này tạo những điều kiện thuận lợi
hoặc khó khăn ban đầu cho quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp. Nếu
tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho các doanh
nghiệp tiết kiệm được các chi phí (nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển) và do
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đó tăng khả năng cạnh tranh. Hơn nữa vị trí địa lý thuận lợi tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thị trường. Ngược lại
nhân tố tự nhiên không thuận lợi sẽ tạo ra khó khăn ban đầu cho doanh nghiệp
và khả năng cạnh tranh của nó sẽ bị thuyên giảm.
e. Các nhân tố thuộc môi trường ngành:
Các đối thủ tiềm năng: Việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp
mới trực tiếp làm giảm tính chất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất
và khối lượng sản xuất trong ngành. Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp
mới gia nhập thị trường ngành phụ thuộc chặt chẽ vào các đặc điểm kinh tế kỹ
thuật của ngành và độ hấp dẫn của thị trường.
Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường
đề ra các chiến lược như nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung thêm những
đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm
làm cho sản phẩm của mình có những điểm khác biệt hoặc nổi trội trên thị
trường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm.
f. Sức ép của người cung ứng:
Một số những đặc điểm sau của người cung ứng ảnh hưởng đến cuộc
- Phải lấy yêu cầu của khách hàng làm chuẩn mực.
- Ít có sản phẩm dịch vụ nào có đầy đủ các lợi thế cạnh tranh mà
thường thì mạnh về mặt này thì lại yếu về mặt khác. Vì thế cần đánh giá từng
mặt yếu, mặt mạnh của dịch vụ để có kế hoạch khắc phục mặt yếu và phát
huy thế mạnh.
- Khi nói tới cạnh tranh là bao hàm ý so sánh với các đối thủ cạnh tranh
của doanh nghiệp. Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng thì sản phẩm dịch
vụ của doanh nghiệp phải có “thực lực” được thể hiện bằng các lợi thế so
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sánh đối với sản phẩm dịch vụ cùng loại hoặc tương đương của đối thủ cạnh
tranh.
Về đánh giá năng lực cạnh tranh nếu chỉ dừng lại ở định tính thì không
tránh được các yếu tố cảm tính, bởi vậy, phải cố gắng lượng hóa. Tuy nhiên,
khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường năng lực cạnh tranh của sản
phẩm dịch vụ. Để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm, các nhà nghiên
cứu kinh tế đã đưa ra rất nhiều tiêu chí khác nhau với các mức độ khác nhau.
Ở đây, chỉ xin nêu một số tiêu chí cơ bản đánh giá khă năng cạnh tranh của
sản phẩm trên thương trường bao gồm:
- Thị phần của sản phẩm dịch vụ: Đó là phần thị trường mà sản phẩm
của doanh nghiệp đã chiếm được. Thị phần càng lớn càng thể hiện sức cạnh
tranh của dịch vụ càng mạnh. Để tồn tại và có sức cạnh tranh, dịch vụ của
doanh nghiệp phải chiếm giữ được một phần thị trường bất kể nhiều hay ít, dù
nó là địa phương, quốc gia hay thế giới. Điều này cũng phản ánh được quy
mô tiêu thụ của sản phẩm dịch vụ, qua đó ta cũng đánh giá được sức cạnh
tranh của mỗi sản phẩm dịch vụ, ưu thế cũng như các điểm mạnh, điểm yếu
của sản phẩm dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh.
Khi xem xét chỉ tiêu này người ta thường xem xét các loại thị phần sau:
* Thị phần của sản phẩm dịch vụ của công ty so với các sản phẩm cùng
phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật giả
lẫn lộn.
- Giá cả sản phẩm dịch vụ: Giá cả phải đủ sức cạnh tranh với sản
phẩm và dịch vụ cùng loại của nước khác, chí ít cũng là các nước trong khu
vực và những đối thủ cạnh tranh với mình. Bảng giá đưa ra cần trả lời được
câu hỏi rất đơn giản mà cơ bản là: Với giá đó thì người mua được gì? Nghĩa
là với giá đó thì người tiêu dùng có được những quyền lợi, lợi ích gì của sản
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phẩm của doanh nghiệp, những lợi ích đó có gì vượt trội so với sản phẩm
cạnh tranh hay không?
- Doanh thu: Tiêu chí này là thước đo khả năng phát triển của doanh
nghiệp. Doanh thu của doanh nghiệp tăng lên đều đặn chứng tỏ khách hàng
chấp nhận hàng hóa sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu doanh thu không ổn
định, thậm chí giảm sút liên tục trong những thời kỳ kinh doanh, thì đó là dấu
hiệu suy giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và doanh
nghiệp cần phải kịp thời xem xét các yếu tố liên quan tới sản phẩm về chất
lượng, giá cả, chu kỳ sống, kênh phân phối…để có biện pháp cụ thể nhằm
khắc phục sự suy giảm doanh thu.
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Giá bán – Giá thành
Tỷ suất lợi nhuận =
Giá bán
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng của
doanh nghiệp mà còn thể hiện hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó. Nếu chỉ tiêu này thấp, chứng tỏ cạnh tranh rất gay gắt và doanh
nghiệp cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt đó, và do vậy một phần nào đó
chứng tỏ nó cũng cạnh tranh không kém gì các đối thủ của mình. Ngược lại