Tiểu luận nguyên nhân gây ra khủng hoảng tại thái lan năm 1997 - Pdf 27

Bài tiểu luận Khủng hoảng Thái Lan năm 1997
NGUYÊN NHÂN GÂY RA KHỦNG HOẢNG THÁI LAN NĂM
1997
1. Chính sách vĩ mô không phù hợp
Thái Lan đã cố gắng thực hiện Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa ổn
định tỷ giá, hội nhập tài chính và chính sách tiền tệ độ lập. Mục tiêu của hội nhập tài
chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả
nổi hoàn toàn, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ.
Bất kì cặp mục tiêu nào cũng đạt được bởi một đỉnh nằm giữa và một quốc gia hoàn
toàn không thể thực hiện đồng thời cả ba mục tiêu trên.
2. Tâm lý ỷ lại
Từ đầu năm 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ từ ở nền kinh
tế Thái Lan. Khi tín dụng được chỉ định thì cơ chế giám sát và các quy định về hoạt
động thận trọng thường được coi nhẹ. Hơn thế nữa, khi các ngân hàng cho vay theo chỉ
định của chính phủ thì luôn tồn tại một giả định ngâm rằng chính phủ sẽ bảo lãnh và cứu
giúp nếu khoảng vay đó không đòi được .
Chính vì vậy, mặc dù không hề có sự bảo lãnh chính thức của chính phủ, nhưng các
tổ chức tài chính ở Thái Lan, đặc biệt là các ngân hàng nhà nước hay ngân hàng lớn,
luôn coi mình là “quá lớn nên không thể đánh bại”. Các tổ chức tài chính được bảo lãnh
ngầm “có động cơ không chỉ thực hiện các hoạt động đầu tư rủi ro, mà còn theo đuổi tất
cả các dự án có suất sinh lợi kỳ vọng tấp nếu các dự án này được lợi lớn trong trường
hợp thành công” (Krugmsn 1998)
3. Dòng vốn nước ngoài
Trang 1
Thị trường vốn đóng
Chính sách tiền
tệ độc lập
Ổn định tỷ
giá
Hội nhập tài chính
Tỷ giá cố định

4. Bong bóng tài sản.
Tâm lý ỷ lại khyến khích các tổ chức tài chính gia tăng đầu tư cho dù các dự án đó
có suất sinh lời thấp. Nếu đầu tư được tập trung vào các tài sản có mức cung cố định thì
giá tài sản sẽ gia tăng (VD: bất động sản). Một kỳ vọng theo kiểu xoay vòng phát sinh.
Mọi người đổ xô vào bất động sản với kỳ vọng giá bất động sản sẽ tăng lên. Khi đầu tư
tăng làm cho lượng cầu tăng thì giá bất động sản sẽ tăng lên. Bong bóng giá cả hình
thành. Các ngân hàng khi cho vay để đầu tư vào bất động sản cũng sẵn sàng tiếp tục cho
vay vì thấy “quá an toàn”.
Bong bóng giá cả phình một ngày một lớn thì sẽ đến lúc bị vỡ; tức là đến khi các
nhà đầu tư bắt đầu nhận thấy có lẽ tình hình thực tế xả ra không đúng với kỳ vọng. Một
quá trình ngược lại diễn ra. Mọi người cố gắng bán tháo tài sản của mình. Lượng cung
Trang 2
Bài tiểu luận Khủng hoảng Thái Lan năm 1997
trên thị trường tăng làm cho giá của tài sản đó giảm xuống. Các ngân hàng thấy giá trị
của tài sản thuế chấp giảm xuống nên không cho vay nữa và đòi những khoản cho vay
cũ về. Các nhà đầu tư, do phải hoàn trả nợ vay, nên càng phải đẩy mạnh việc bán tài sản.
Giá tài sản vì vậy sụp đổ và thường giảm xuống dưới mức cân bằng đầu tiên.
5. Khủng hoảng kép
Sự sụt giá trên thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán làm các nhà đầu
tư ngại về tính bền vững của hệ thống tài chính của Thái Lan. Thâm hụt tài khoản vãng
lai cao tạo nên kỳ vọng về sự phá giá của đồng Baht. Đồng baht đã được bán ra đồng
loạt. Những người vay ngoại tệ bắt đầu lo ngại và cũng mua đô la và để đảm bảo có đô
la để trả nợ khi đáo hạn. Chính phủ Thái Lan ban đầu dùng dự trử ngoại tệ để bảo vệ tỷ
giá nhưng cũng không có khả năng duy trì được lâu. Đồng baht được thả nổi vào đầu
tháng 7 năm 1997 và nay lập tức mất giá 10%, rồi giá trị tiếp tục giảm xuống sau đó.
Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao trong thời
gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và các đối tượng kinh doanh
vay vốn lâm vào tình thế khó khăn. Hàng loạt công ty tài chính của Thái Lan phá sản
trước cả khi phá giá đồng baht. Và khi đồng baht bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính
ra đồng nội tệ của các khoản nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá giá của nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status