Ôn tập
Câu 1: Khó khăn thách thức của NHTM trong hoạt động huy động vốn tiền gửi
- Áp lực huy động vốn ngày một gia tăng trước sức hút của các kênh đầu tư khác và lo
ngại về lạm phát nên dù tăng lãi suất, các ngân hàng cũng chỉ huy động được kỳ hạn ngắn
ngày và khó có thể cân đối được nguồn vốn huy động và cho vay.
- Việc trần lãi suất huy động hạ thấp xuống còn 6%/năm dẫn đến kênh ngân hàng không
còn thu hút khách như trước kia nên cá nhân và các tổ chức tìm đến những kênh đầu tư
khác sinh lời cao hơn như đầu tư vào các quỹ tương hỗ, chứng khoán tuy nhiên thì lượng
tiền gửi vẫn tăng tính đến ngày 22/4, huy động vốn của toàn hệ thống tăng 3,09% so với
đầu năm, trong đó huy động vốn bằng VND tăng 4,26%, huy động vốn bằng ngoại tệ
giảm 3,98%.do việc hạ lãi suất tác động tới người gửi tiền nhưng không đến mức quá
mạnh khiến dòng tiền chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng, dù rằng người gửi tiền vẫn có
những lựa chọn khác nhau khi gửi tiền vào. Ngân hàng Nhà nước chỉ hạ lãi suất dưới 6
tháng, còn 6 tháng trở lên vẫn được áp dụng theo cơ chế thỏa thuận.
- Về huy động vốn, với trên 90% tỷ trọng vốn của ngân hàng hiện nay là nguồn vốn ngắn
hạn, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc quản trị nguồn vốn, khó bảo
đảm cân đối kỳ hạn. Kỳ hạn huy động vốn bình quân có xu hướng rút ngắn trong khi kỳ
hạn cho vay bình quân dài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất.
Câu 2: Khó khăn thách thức trong hoạt động triển khai tín dụng cá nhân của
NHTM
Tín Dụng Cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người
chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử
dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn
nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản
xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.
Tín dụng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều
chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi thiếu hiệu quả đến nơi hiệu quả cao
để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh hoặc tiêu dung của cá nhân và hộ gia đình.
Ở Việt Nam tín dụng cá nhân mới chỉ phát triển trong thời gian gần đây,đặc biệt là kể từ
khi hệ thống NHTM có sự phát triển nhanh về số lượng và chất lượng và chất lượng
trong những năm đầu thập kỷ 90.
nhân cao, số lượng lớn, vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong
tổng thu nhập của NHTM.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng cá nhân
Nhân tố ngân hàng
Thứ nhất, chiến lược kinh doanh. Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả tín
dụng. Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công trên thị
trường. Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu
cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra các cơ hội
mới…
Thứ hai, các chính sách, quy định của ngân hàng. Đó là chính sách chăm sóc khách hàng
trước và sau khi cho vay có chu kỳ đáo hay không; Các quy định về lãi suất và phí tín
dụng cao hay thấp, có linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân hay
không; Các quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo, phương thức
giải ngân và thanh toán, thủ tục xin vay vốn có phức tạp hay đơn giản, thời gian thẩm
định hồ sơ vay vốn kéo dài bao lâu…
Thứ ba, chất lượng cán bộ tín dụng. mỗi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn,
khả năng nghiệp vụ, khả năng phân tích, đánh giá, có trách nhiệm trong công việc trên cơ
sở lựa chọn được những khách hàng có đủ năng lực pháp lý, có đủ năng lực tài chính, có
tư cách đạo đức tốt… Nhờ có những cán bộ như vậy, các khoản cho vay diễn ra an toàn
và hiệu quả hơn, hoạt động cho vay cũng nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Thứ tư, công tác thông tin. Trên cơ sở nguồn thông tin nhận được, ngân hàng thực hiện
phân tích tín dụng để đánh giá khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về sử dụng
vốn, cũng như khả năng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ tìm kiếm những
tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng và tiên lượng khả năng kiểm soát của
ngân hàng về các rủi ro đó, dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể
xảy ra. Từ đó làm cơ sở để ra quyết định tín dụng, chấp thuận hay không chấp thuận cho
vay.
Thứ năm, công nghệ của ngân hàng. Công nghệ hiện đại giúp cho ngân hàng cung cấp
dịch vụ hiện đại, phong phú phục vụ nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của khách hàng.
Trong khi đó, đặc thù của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân là giao dịch với số
động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình
có khả năng cạnh tranh lớn hơn và dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng
tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp
ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, tập trung lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố
năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng; cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả
hoạt động của các tổ chức tín dụng; nâng cao trật tự, kỷ cương và nguyên tắc thị
trường trong hoạt động ngân hàng. Phấn đấu đến cuối năm 2015 hình thành được ít
nhất 1 - 2 ngân hàng thương mại có quy mô và trình độ tương đương với các ngân
hàng trong khu vực.
Quan điểm tái cấu trúc
Thứ nhất, cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và từng tổ chức tín dụng là một
quá trình thường xuyên, liên tục nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém và chủ
động đối phó với những thách thức để các tổ chức tín dụng không ngừng phát triển
một cách an toàn, hiệu quả, vững chắc và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong giai đoạn mới.
Thứ hai, củng cố, phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đa dạng về sở hữu, quy mô
và loại hình phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống các tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng lớn,
hoạt động lành mạnh đóng vai trò làm trụ cột trong hệ thống, có khả năng cạnh tranh
trong khu vực, đồng thời có những ngân hàng vừa và nhỏ, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu dịch vụ ngân hàng của mọi tầng lớp trong xã hội:
Nâng cao vai trò, vị trí chi phối, dẫn dắt thị trường của các tổ chức tín dụng Việt
Nam, đặc biệt là bảo đảm các ngân hàng 100% vốn của Nhà nước và ngân hàng có cổ
phần chi phối của Nhà nước (sau đây gọi chung là ngân hàng thương mại nhà nước)
thật sự là lực lượng chủ lực, chủ đạo của hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời có
đủ năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Thứ ba, khuyến khích việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng theo
nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ
kinh tế của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm an toàn, ổn
ngân hàng, giúp cải thiện mối quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng,
khơi thông nguồn vốn tín dụng. Tuy vậy, tổ chức này cũng đối mặt với những vấn
đề khó khăn trong thực hiện vai trò là chủ nợ và sẽ quyết định phương án cơ cấu
lại cuối cùng sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp, TCTD và nền kinh tế. Bởi
thực tế, nếu có bán nợ xấu cho VAMC, thì vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro
20%/năm cho số nợ đã bán, làm tăng chi phí cho các tổ chức này. Để xử lý tận
gốc vấn đề nợ xấu trong hệ thống các TCTD, trước mắt cần minh bạch hóa thông
tin nợ xấu của từng TCTD. Để thực hiện vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước phải
có biện pháp kiểm tra và giám sát chặt chẽ hoạt động của từng TCTD, bảo đảm
các thông tin về nợ xấu do các tổ chức này cung cấp phải hợp lệ với quy định của
pháp luật. Theo đó, kết hợp giám sát vấn đề trích lập dự phòng rủi ro của các
TCTD theo đúng quy định của NHNN. Cần có biện pháp xử phạt thích đáng đối
với các TCTD vi phạm.Thêm vào đó, cần xác định rõ ràng vai trò của VAMC
trong vấn đề xử lý các khoản nợ xấu do tổ chức này mua lại sao cho có hiệu quả.
Tránh tình trạng VAMC chỉ đơn thuần chuyển đổi nợ xấu của các TCTD yếu kém
thành nợ của VAMC. Muốn vậy, Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi để
cho các tổ chức quốc tế cũng như cá nhân quan tâm đến việc đầu tư vào các
khoản nợ xấu này có cơ hội tiếp cận. Theo đó, để đẩy nhanh việc bán nợ xấu cho
đối tác ngoại thì các thủ tục hành chính cũng cần phải được cải cách theo hướng
đơn giản và rút gọn hơn để tạo thuận lợi nhất cho nhà đầu tư sau khi họ quyết
định mua.
Muốn tái cơ cấu hiệu quả cần phải giải quyết tình trạng sở hữu chéo trong các
NH. Sở hữu chéo là hình thức phổ thông trong hệ thống NH thế giới nếu sử dụng
đúng mục đích để hỗ trợ vốn lẫn nhau.Nhưng ở Việt Nam sở hữu chéo được thực
hiện méo mó, sai lệch, chỉ hướng đến những đơn vị con và những quyền lợi riêng
để cho vay không theo tiêu chuẩn, không đúng mục đích, không kiểm soát chặt
chẽ nên khả năng rủi ro lớn. Trên thực tế, Luật các TCTD năm 2010 đã có những
quy định rõ ràng về vấn đề sở hữu cổ phần của các cá nhân và các TCTD. Tuy
nhiên, để lách luật, các TCTD đã hoặc thông qua trung gian để mua cổ phần của
các TCTD đã mua cổ phần của mình, hoặc cá nhân thì tìm cách núp bóng người
nay ở mức khá thấp so với năm 2013, song lãnh đạo các nhà băng thừa nhận, để đạt được
chỉ tiêu này trong bối cảnh thị trường năm 2014 còn khó khăn là không đơn giản. Lý do
vẫn là nợ xấu tiềm tàng, dẫn đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cao.
Sacombank là điển hình, cho dù năm qua đạt mức lợi nhuận 2.800 tỷ đồng trước thuế,
hoàn tất kế hoạch đưa ra, nhưng chỉ tiêu lợi nhuận 2014 của Ngân hàng chỉ cao hơn 200
tỷ đồng. Ông Phan Huy Khang, Tổng giám đốc Sacombank cho biết, kết thúc quý I/2014,
Sacombank đạt 750 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Nếu bình quân mỗi quý đạt được mức
trên và kỳ vọng nhiều nhất vào 2 quý cuối năm thì khả năng Sacombank hoàn thành kế
hoạch là khá cao. Tuy nhiên, theo ông Khang, đến thời điểm này cũng chưa thể khẳng
định được điều gì, bởi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng vẫn có những khó khăn nhất
định, tăng trưởng tín dụng vẫn khó có thể đạt như kỳ vọng, 13%. Năm nay, Sacombank
đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 3% và tiếp tục xem xét bán nợ xấu cho VAMC, sau
khi đã bán hơn 1.000 tỷ đồng trong năm qua.
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu
-Từ phía các doanh nghiệpNhiều doanh nghiệp đã phán đoán không chính xác xu hướng
phát triển của thị trường, dẫn đến mở rộng quy mô sản xuất trong các ngành đang phát
triển quá nóng mà không có sự đánh giá kỹ lưỡng. Hậu quả là sự mất cân bằng trong
cung và cầu. Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn lại chia nhỏ dự án để tìm
tài trợ từ nhiều ngân hàng khác nhau, qua đó giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong
việc vay vốn từ các ngân hàng cũng như giảm bớt sự kiểm soát của ngân hàng. Chính
những yếu tố này làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm soát các khoản cho
vay, dẫn đến tình trạng nợ xấu.
-Ngân hàng: Nhận thức về rủi ro tín dụng có hạn chế nhất định. Nguyên nhân của hạn chế
này do nhiều yếu tố: (i) Nhận thức sai lầm trong mối quan hệ và tầm quan trọng giữa rủi
ro, kinh doanh và nguồn vốn, xem xét chưa đầy đủ về những khả năng mất vốn do những
rủi ro tiềm ẩn gây ra, chủ quan về mở rộng kinh doanh, tăng trưởng cho vay phụ thuộc
chủ yếu vào huy động tiền gửi, phát triển kinh doanh thiếu căn cứ; (ii) Một số nhà quản
lý ưa thích rủi ro, khi xem xét hồ sơ của khách hàng truyền thống chỉ dựa vào các tài liệu
được cung cấp, như báo cáo bằng văn bản, báo cáo tài chính, không thực hiện đánh giá
rủi ro một cách khách quan. Do đó làm mất đi sự chính xác và tính hiện thực khi xem xét
nhưng lại được hưởng lãi cố định (như cổ phiếu ưu đãi) và ngân hàng có thể rút vốn về
khi tổ chức này đã phục hồi.
- Nhóm giải pháp về phía Bộ Tài chính
Sử dụng DATC như một công cụ quan trọng để xử lý nợ xấu hiện nay. Với nguyên tắc
kinh doanh có hiệu quả, DATC mua lại các khoản nợ có tài sản đảm bảo, theo cơ chế thị
trường. Việc sử dụng DATC xử lý nợ xấu chỉ có hiệu quả khi hoạt động mua bán nợ gắn
với mục tiêu tái cấu trúc DN, tái cơ cấu lại nợ nhằm khôi phục lại hoạt động sản xuất
kinh doanh cho các khách nợ. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, đặc biệt trong điều
kiện hiện nay khi có sự tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế.
Để DATC có thể làm được nhiệm vụ này thì việc nâng cao năng lực (tài chính, tổ chức,
kỹ năng ) là việc làm cần thiết, như chính sách giảm thuế thu nhập DN cho hoạt động
mua bán nợ xấu, giảm thuế giá trị gia tăng cho hoạt động bán tài sản đảm bảo để thu hồi
nợ, như đào tạo và nâng cao kỹ năng phân tích tài chính, xác định giá trị tài sản thế chấp,
kỹ năng xử lý nợ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách.
Câu 5 Sở hữu chéo
- Kn: sở hữu chéo là việc một số chủ thể sở hữu cổ phần, một cách trực tiếp hoặc gián
tiếp ở từ hai ngân hàng trở lên hoặc sở hữu cổ phần lẫn nhau.
- Hệ lụy: Bên cạnh những lợi ích mang lại như: góp phần cải thiện sự hỗ trợ vốn, công
nghệ, kinh nghiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác; thúc đẩy hoạt động liên kết
kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và quốc tế; góp phần nâng cao năng lực quản trị, tài
chính, công nghệ, nhân sự, mở rộng quy mô, thị phần, cải thiện sức cạnh tranh và hiệu
quả kinh doanh, nhất là đối với DN và NH nhỏ; hình thành nên một cơ cấu sở hữu và
quản trị ổn định trong các doanh nghiệp, ngân hàng. Hơn nữa, sở hữu chéo cho phép
công ty khai thác được các cơ hội và tiềm năng kinh doanh có lợi trên thị trường; đa dạng
hóa hoạt động và phân tán rủi ro kinh doanh; đồng thời, cho phép đạt hiệu quả khống chế,
chi phối thị trường cao với một lượng vốn cổ phần nhỏ theo "mô hình kim tự tháp" , thì
sở hữu chéo đang là nguyên nhân của một số ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn và lành
mạnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam như: Khiến khả năng chống đỡ rủi ro của ngân
hàng không được đánh giá đúng mức, làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát và khiến
các quy định về dự phòng, phân loại nợ trở nên sai lệch,sở hữu chéo có thể gây cản trở
(3) Cổ đông tại các NHTM là các Cty quản lý quỹ
Ba nhóm đáng lo ngại:
(4) Sở hữu của NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần
(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần
(6) Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng Cty Nhà nước và tư nhân
- Nguyên nhân chưa kiểm soát được mặt tiêu cực của sở hữu chéo:Thứ nhất mức tuân thủ
chưa cao. Ví dụ giao dịch chuyển nhượng mua bán cổ phiếu theo quy định của Ủy ban
Chứng khoán, họ quy định phải công bố, báo cáo ngay sau khi giao dịch đối với những
giao dịch lớn, những cổ đông lớn. Nhưng không phải lúc nào họ cũng báo cáo đầy đủ và
kịp thời. Trong khi đó, thông tin công bố cũng chưa đầy đủ, kể cả trong thông báo thường
niên hoặc định kỳ hàng quý, hay 6 tháng một lần.
Thứ hai là tổ chức giám sát quá trình thực hiện, nhiều khi ở nước ta chưa được thực hiện
chặt chẽ. Trong khi nước ngoài họ làm khá chặt.
Cuối cùng là yếu tố văn hóa, hầu hết chúng ta không muốn công bố thông tin về tài sản,
minh bạch về việc mình quá giàu có, nắm giữ quá nhiều cổ phiếu trong hệ thống tài chính
tín dụng và nền kinh tế.
- Giải pháp
các quy định về kế toán, hệ thống các quy định an toàn cần được liên tụcnâng cao tính
minh bạch, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế. Chẳng hạn để loại trừ tínhnhiễu của sở
hữu chéo trong vốn tự có như đã đề cập ở trên, khoản đầu tư của TCTD nàyvào TCTD
khác phải được xác định rõ và loại trừ khỏi vốn cấp 1 của tổ chức được góp vốn khi tính
hệ số an toàn vốn (CAR) của tổ chức này, tránh tình trạng vốn chảy lòng vòng trong
hệthống dẫn tới việc tăng vốn không thực chất.
cần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong nội bộ ngân hàng, yêucầu ban kiểm
soát (BKS) phải thực sự độc lập với HĐQT và có quyền phủ quyết các quyếtđịnh có ảnh
hưởng tiêu cực hoặc rủi ro cao đối với quyền lợi của các nhà đầu tư nhỏ lẻ; phải can
thiệp, ngăn chặn, phát hiện, báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước trong trường hợp
HĐQT có những quyết định trái pháp luật. Bên cạnh đó, vai trò của thành viên độc lập
trong HĐQT phải thực sự độc lập, có tiếng nói, ngăn chặn, thể hiện quan điểm của mình
trongtrường hợp những quyết định của HĐQT gây bất lợi cho các cổ đông nhỏ lẻ hoặc
tăng trên ATM ngày càng được chú trọng nhằm đem lại cho khách hàng nhiều tiện ích
hơn. Số lượng tài khoản cá nhân, doanh số giao dịch thẻ tăng trong thời gian qua cho
thấy, việc phát triển dịch vụ thẻ đã làm tăng khối lượng thanh toán qua ngân hàng, người
dân đang quen dần với các DVNH nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng. DVNH hiện đại
giữ vai trò cốt yếu trong việc mở rộng khách hàng, mở rộng thị trường và gia tăng lợi thế
cạnh tranh, Tạo nguồn thu ổn định và tăng doanh số hoạt động cho ngân hàng, Xây dựng
thương hiệu, Giảm chi phí cung ứng dịch vụ và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, Thúc đẩy
hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Từ 2014, ngân hàng bán lẻ là xu hướng tất yếu của Việt Nam, Quy mô thị trường
90 triệu dân sẽ mở ra cơ hội lớn cho các ngân hàng thương mại
- Hiện nay các NHTM ở Việt Nam đều hướng tới phát triển DVNH, đây là hướng đi hoàn
toàn đúng đắn, bởi lẽ:
Trước hết, DVNH bán lẻ là xu hướng tất yếu của các NHTM trên thế giới cũng như ở
Việt Nam:
- Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày càng mạnh và khốc liệt tại Việt Nam.
- Ngày càng có nhiều tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này.
- Đây là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ ở một đất nước đông dân, có tiềm năng phát triển
cao trong những năm tới, tiêu dùng dân cư có tiềm năng tăng trưởng cao.
- Sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ.
Ưu điểm của DVNH bán lẻ:
- Đem lại doanh thu cao, chắc chắn, ít rủi ro.
- Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ phi ngân hàng.
- Mở rộng khả năng mua bán chéo giữa cá nhân và doanh nghiệp với NHTM, từ đó gia
tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của NHTM.
Hoạt động bán buôn của NHTM lại có ưu thế về hoạt động trên các thị trường tài chính,
đầu tư ngân hàng, từ đó đem lại doanh thu ổn định hơn, nhưng rủi ro cũng là cao hơn.
Câu 7 Hoạt động vay vốn lẫn nhau giữa các NHTM
So với cuối năm 2013, nhiều ông lớn đã giảm hàng chục nghìn tỷ đồng tiền gửi và cho
Xét về quy mô, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giảm mạnh nhất với
gần 40.000 tỷ đồng tài sản trên thị trường liên ngân hàng. Trong khi đó, xét về giá trị
hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được NHNN điều chỉnh giảm 1%, từ 9%/năm
xuống 8%/năm;
Câu 9
Phân tích tín dụng là việc ngân hàng xem xét một cách toàn diện đề nghị vay vốn cụ
thể của khách hàng nhằm đánh giá khả năng
thu nợ và lãi (nếu ngân hàng đồng ý tài trợ) để đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay
không.
* Tầm quan trọng: phân tích tín dụng:
•Giúp ngân hàng có được thông tin tương đối chính xác và đầy đủ về khách
hàng, đánh giá được mức độ tin cậy của phương án sản xuất hoặc dự án
đầu tư mà khách hàng lập và nộp khi làm thủ tục vay vốn. Từ đó, ngân
hàng đánh giá được mức độ tin cậy của khách hàng, mức độ rủi ro của
khoản tài trợ, làm cơ sở đưa ra quyết định cho hợp đồng tín dụng của ngân
hàng đối với khách hàng. Nói cách khác phân tích tín dụng tạo cơ sở để
ngân hàng đưa ra các chính sách tín dụng áp dụng đối với khách hàng.
•
Giúp cho cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn cho vay
và giảm được xác suất hai loại sai lầm trong quyết định cho vay: chấp nhận
cho vay một dự án tồi và từ chối cho vay một dự án tốt.
•
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng cũng tạo nên hệ thống các thông
tin phân tích tổng hợp về thị trường khách hàng, về các ngành nghề của
khách hàng, các qui luật và đặc điểm riêng có của từng lĩnh vực…Đó là
một trong những căn cứ để ngân hàng tạo thế mạnh, tìm kiếm thị trường
mục tiêu và có các chiến lược phát triển hoạt động của mình một cách phù
hợp trong môi trường cạnh tranh đa dạng.
Thực tế có rất nhiều cách tiếp cận với nội dung của phân tích tài chính. Qua
tìm hiểu, nhóm m xin đưa ra một số cách tiếp cận nội dung này như sau:
thực hiện một chu trình phân tích:
- Bước1: tìm kiếm và thu thập thông tin về khách hàng.
- Bước 2: phân tích thông tin thu thập được (bao gồm cả phân tích tài
chính và phân tích phi tài chính).
- Bước 3: lưu trữ thông tin để sử dụng trong tương lai.
2. Dựa theo lĩnh vực (nhóm) phân tích trong phân tích tín dụng:
Hiện nay các NHTM thường phân chia việc phân tích tín dụng thành các
nhóm chỉ tiêu, xây dựng thành các tiêu chuẩn trong phân tích tín dụng: tiêu chuẩn
CAMPARI ; tiêu chuẩn 5C.
* Tiêu chuẩn 5C:
- Character
- Capacity năng lực pháp lý của khách hàng)
- Capital (Cashflow) (khả năng tài chính của khách hàng)
- Collateral (tài sản đảm bảo của khoản tín dụng)
- Conditions điều kiện môi trường: môi trường kinh doanh, môi
trường pháp lý (Control))
Cả 2 kiểu tiêu chuẩn phân tích tín dụng trên đều bao gồm 2 mảng lớn là:
Phân tích phi tài chính và phân tích tài chính:
2.1. Phân tích phi tài chính:
Phân tích phi tài chính là phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan trực
tiếp đến vấn đề tài chính của khách hàng.
Phân tích phi tài chính bao gồm rất nhiều vấn đề như, phân tích:
- tính pháp lý của khách hàng
- khoản tín dụng đề nghị cấp
- tính cách của khách hàng, uy tín của họ trong cuộc sống, kinh doanh
- tình hình quản trị doanh nghiệp, khả năng & uy tín của Hội đồng Quản trị, Ban
điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc điều hành, và những người có
và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 493, nợ của các NHTM được chia thành 5
nhóm:
- Nợ nhóm 1 - nợ thông thường - trích dự phòng 0%
- Nợ nhóm 2 – nợ cần chú ý – trích lập dự phòng 5%
- Nợ nhóm 3-5 : nợ xấu
Đây là một bước tiến mới với cách phân nhóm nợ , theo QĐ 493 đã tiến gần tới
những chuẩn mực quốc tế, đó là các loại nợ với mức rủi ro khác nhau đã gắn liền với tỷ lệ
trích dự phòng khác nhau, bước đầu tạo nên quĩ dự phòng đủ lớn để xử lý tổn thất. Cũng
theo QĐ này, nợ xấu (nhóm 3,4,5) chiếm tỷ lệ khoảng từ 2 - 5%, một tỷ lệ chấp nhận
được.Có thể thấy với cách phân chia thế tạo điều kiện cho các ngân hàng đánh giá các
khoản nợ một cách chính xác từ đó nhận định về khách hàng tốt nhất nhằm hạn chế rủi ro
cho ngân hàng.
1.3. Hoạt động tín dụng ở các NHTM phát triển nhanh chóng phù hợp với nền kinh tế thị
trường
Nếu như trước đây khách hàng phải tìm đến ngân hàng cầu cạnh vay tiền, thì nay
ngân hàng quốc doanh lẫn ngân hàng TMCP không những len vào những khoảng trống
mà hệ thống ngân hàng trước đây chưa phủ sóng đến mà còn chạy đua tìm khách hàng để
tài trợ vốn.Các ngân hàng nội địa đang tăng tốc chạy đua tìm kiếm khách hàng.Các ngân
hàng đã cải tiến thủ tục, nhanh chóng thẩm định dự án một cách chính.
Các ngân hàng đã đầu tư hệ thống công nghệ,tập trung dữ liệu khách hàng của các chi
nhánh, giúp cấp quản lý có thể kiểm soát được quá trình thẩm định tìm ra những khách
hàng tiềm năng.
Với những khách hàng vay vốn có uy tín các ngân hàng áp dụng chế độ ưu đãi
hơn.Ngoài ra, ngân hàng sẽ cấp hạn mức tín dụng phù hợp, đa dạng hoá các loại hình cho
vay để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp chứ không nhất thiết phải lệ thuộc vào tài
sản đảm bảo. Chính vì vậy mà các ngân hàng đã chạy đua trong việc tìm kiếm khách
hàng tiềm năng.Trên thị trường tín dụng đã và đang nở rộ các chương trình khuyến mại
rầm rộ, các cú bắt tay liên kết của các ngân hàng và doanh nghiệp, ngân hàng và các siêu
thị lớn.
Thứ ba, Tình trạng "độc canh" tín dụng vẫn còn phổ biến ở nhiều ngân hàng. Gần như
mỗi nhà băng vẫn có một nhóm khách hàng thân quen riêng và địa bàn riêng, ngại sự
thay đổi và chưa mạnh dạn ""mạo hiểm"" với thị trường .
Thứ tư, mức độ bất cân xứng thông tin là vô cùng trầm trọng: mặc dù Trung tâm thông
tin tín dụng (CIC – Credit Information Centre) được thành lập khá lâu (năm 1998) nhưng
hoạt động còn rất khiêm tốn, điều này làm cho các ngân hàng thương mại duy trì sự thiếu
hụt thông tin trong nhiều năm qua, những người đi vay không phải lúc nào cũng cung cấp
đầy đủ và trung thực các thông tin cần thiết, bên cạnh đó khả năng tự thu thập thông tin
của các ngân hàng còn nhiều hạn chế.
Thứ năm, trình độ phân tích tín dụng của các cán bộ ngân hàng còn hạn chế. Một số ngân
hàng chưa có bộ phận phân tích tín dụng chuyên trách, do đó công việc này được thực
hiện bởi các cán bộ tín dụng, một số ngân hàng chưa có sự phân tích rõ ràng chức năng
giữa bộ phận giao dịch với khách hàng với bộ phận thẩm định lại theo dõi khách hàng,
đôi khi cán bộ tín dụng làm nhiệm vụ tiếp xúc với khách hàng cũng làm cả việc theo dõi
sau cho vay và phân tích tình hình tài chính của khách hàng sau cho vay,điều này làm
mất tính khách quan, có thể dẫn tới móc ngoặc gây rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, các kỹ
năng mềm: kỹ năng giao tiếp, chăm sóc khách hàng,…của cán bộ còn thiếu và yếu.
Thứ sáu, Hệ thống IT tại một số ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc xử lí
thông tin; Hệ thống hạn mức tín dụng chưa được thiết lập đầy đủ,đôi khi chưa được thiết
lập trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính của khách hàng; Một số ngân hàng chưa có quy
trình đánh giá tình hình tài chính của khách hàng vay một cách có hệ thống để xếp hạng
khách hàng; Hệ thống kiểm soát nội bộ trong quy trình tín dụng chưa đầy đủ,chưa hiệu
quả và chưa tuân thủ một cách nghiêm túc; Việc tổ chức hạch toán, phân loại nợ, thống
kê thông tin tín dụng chưa đảm bảo tính chính xác, minh bạch để làm cơ sở cho việc quản
lý tín dụng có hiệu quả; Tổ chức tín dụng có thể giảm rủi ro tín dụng bằng nhận cầm
cố,thế chấp khi cho vay, tuy nhiên việc xác định giá trị của các tài sản thế chấp,cầm cố
không phải là vấn đề đơn giản;…
Thứ bảy, Việc xử lí chỉ đạo công việc đôi khi còn bỏ qua yêu cầu mọi vấn đề phải được
thể hiện bằng văn bản,cấp trên có thể ra lệnh cho cấp dưới bằng miệng hay bằng những kí
hiệu riêng mà không được phép; Việc cho vay đôi khi còn chịu mệnh lệnh hành chính.
nhiều đó là quy định tài sản đảm bảo đối với một khoản vay.
Trong nhiều năm qua, các tổ chức tín dụng Việt Nam đã từng bước hoàn
thiện các cơ chế về quản lý tài sản bảo đảm tiền vay.Như đã nói,việc cho vay
có tài sản đảm bảo nhằm giúp cho các tổ chức TCTD có nguồn thu nợ thứ hai
khi nguồn thu từ nguồn thu nhập thứ nhất do chính khoản vay tạo ra không có
khả năng chi trả.Tuy nhiên, việc định giá sao cho đúng, phù hợp với giá thị
trường và không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các TCTD với khách hàng
là một vấn đề rất cần được quan tõm.Bởi lẽ, nếu định giá thấp sẽ ảnh hưởng
đến quy mô vay của khách hàng, họ sẽ chỉ được vay với số vốn ít hơn số mà
họ cần.Khi đó khách hàng sẽ không hài lòng, họ có xu hướng không vay vốn
ở TCTD nữa mà sẽ tìm đến các TCTD khác nơi họ có thể vay được nhiều
hơn.Ngược lại, nếu định giá quá cao, TCTD sẽ gặp rủi ro lớn trong việc thu
hồi nợ và lãi vay và sẽ gặp phải nhiều tổn thất hơn trong thực tế.Vậy phải định
giá như thế nào để tài sản đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhất cho cả TCTD lẫn
khách hàng
Định giá tài sản là sự ước tính về giá trị thị trường của tài sản đó tại một thời điểm nhất
định phục vụ cho một mục đích nhất định.
Dựa vào lý thuyết ngân hàng hiện đại về thẩm định cho vay theo nguyên tắc 6C, điều
kiện cấp tín dụng có tài sản bảo đảm (TSBĐ) thành 2 nhóm:
- Nhóm điều kiện cần là khách hàng cũng như phương án vay đã được Ngân hàng cho
vay (NHCV) thẩm định và đánh giá là đáp ứng được các điều kiện về: tính cách người
vay (Character); năng lực tài chính, khả năng trả nợ (Capacity); dòng tiền (Cash Flow);
điều kiện môi trường (Conditions).
- Nhóm điều kiện đủ gồm tài sản thế chấp món vay (Collateral) và sự kiểm soát
(Control).
Khi thẩm định xem xét cho vay, về nguyên tắc, các NHCV đều phải thẩm định, đánh giá
đầy đủ các yếu tố chủ quan, nội tại của khách hàng như: năng lực pháp luật, năng lực
hành vi, phương án sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính, hiệu quả sinh lời, các hệ số
đòn bẩy, tài chính, đánh giá tính ổn định cũng như dự lường các rủi ro từ thị trường đầu
vào - ra của phương án vay, thẩm định và kiểm soát được dòng tiền, thẩm định tính hiện
vậy, hơn lúc nào hết NHCV càng phải đề cao vai trò của TSBĐ từ việc tuân thủ tỷ lệ xác
định cho vay tối đa do Trụ sở chính (TSC) qui định, chẳng hạn như: thẩm định vị trí, tính
thanh khoản của quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất, hạn chế hoặc từ chối
TSBĐ là hàng hóa, máy móc thiết bị khó quản lý, thanh khoản thấp,
Cũng đang có ý kiến phản biện rằng nếu siết chặt điều kiện TSBĐ thì làm sao phát triển
được dư nợ? Quan điểm chúng tôi cho rằng, với tình hình hiện nay để bảo đảm an toàn
tín dụng, giải pháp siết chặt điều kiện TSBĐ là lựa chọn phù hợp nhất vì: (i) Tình hình thị
trường bất động sản đang chìm lắng, giá bất động sản có xu hướng giảm thấp, tính thanh
khoản kém; (ii) Sử dụng điều kiện TSBĐ siết chặt như một “hàng rào” sàng lọc khách
hàng xấu từ các NHTM khác, nhất là từ các ngân hàng nhóm 3, 4 chuyển sang; (iii) Với
những trường hợp đặc thù, xét thấy bảo đảm, Chi nhánh hoàn toàn có thể trình TSC phê
duyệt riêng.
Trước thực trạng bức tranh kinh tế hiện nay, các chủ trương lớn của Chính phủ về tái cơ
cấu ngành, doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu NHTM, chính sách tài chính tiền tệ thận
trọng… sẽ tác động đến hoạt động tín dụng của các NHTM. Dẫu trong tình huống nào thì
các biện pháp an toàn và nâng cao chất lượng tín dụng vẫn là tiêu chí quan trọng để tăng
năng lực tài chính của NHTM. Với nhận thức đó, biện pháp TSBĐ trong cho vay hiện
nay cần được coi trọng và đánh giá đúng mức để phòng ngừa rủi ro tín dụng./.
Nói thêm các phương pháp định giá tài sản.
Câu 11.
Nguyên nhân các NHTM phải xử lý TSĐB của khách hàng
Trên thực tế, các NHTM không bao giờ muốn xử lý TSĐB của khách hàng, bởi vì khi
xử lý TSĐB có nghĩa là món vay đó không có hiệu quả. Tuy nhiên hoạt động cho vay của
các ngân hảng không phải lúc nào cũng được tiến hành một cách thuận lợi mà có những
trường hợp các NHTM bắt buộc phải xử lý TSĐB của khách hàng, vấn đề này xuất phát
từ các nguyên nhân cơ bản như sau:
Thứ nhất, trong quá trình thẩm định trừ một số ít khách hàng có hoạt động kinh doanh
không hiệu quả bắt nguồn từ các nguyên nhân như: kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi,
khó khăn do thay đổi cơ chế, thay đổi chính sách tăng trưởng của Nhà nước thì hầu hết
các khoản nợ xấu bắt nguồn từ khâu thẩm định hời hợt, quá trình kiểm soát mục đích sử
Ngân hàng có thể mang ra tòa nhưng khác với tòa hình sự, hầu hết tội danh đều được quy
định khung hình phạt rất rõ trong luật nên dù chưa xử, ở một chừng mực nào đó, vẫn có
thể hình dung được bản án ở mức nào. Nhưng với tòa dân sự thì không như vậy, có khi
một vụ việc nhưng phán quyết ở hai tòa rất khác nhau, thậm chí đối lập(3)
- Những tồn tại trong quy trình xử lý TSĐB
Trong quá trình xử lý TSĐB nợ vay không ít các NHTM gặp nhiều khó khăn mà nguyên
nhân chủ yếu xuất phát từ các vấn đề như sau:
Thứ nhất, sự phối hợp của khách hàng khi thực hiện bàn giao tài sản trên thực tế và thực
hiện thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật hiện hành để xử lý TSĐB. Vấn đề này
thực sự rắc rối nếu quá trình thẩm định của cán bộ tín dụng không tiến hành một cách kỹ
lưỡng dẫn đến các vấn đề phát sinh khi xử lý tài sản, chẳng hạn như khi thẩm định tài
sản, cán bộ tín dụng ngân hàng không điều tra xem cá nhân nào đang sinh sống tại nơi có
tài sản thế chấp, mối quan hệ với bên vay vốn như thế nào. Có nhiều trường hợp tài sản
được bên vay vốn thế chấp tuy nhiên bên vay vẫn còn nghĩa vụ nợ đối với cá nhân đang
sinh sống tại tài sản thế chấp, đến khi xảy ra quá hạn xử lý tài sản thì mới phát hiện ra…,
đây chỉ là một trường hợp điển hình trong rất nhiều trường hơp dẫn đến việc tranh chấp
khiến cho Ngân hàng không xử lý được TSĐB.
Thứ hai, việc áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh và sự phối hợp của các cơ quan, tổ
chức có liên quan: phòng công chứng, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, UBND địa
phương. Hiện tại trên địa bàn thành phố, tại một số phòng công chứng tư vì cạnh tranh và
phục vụ khách hàng đang có sự linh động một số trường hợp hồ sơ đi công chứng thiếu
một số chứng từ pháp lý dẫn đến hồ sơ chưa hoàn thiện, cán bộ tín dụng cam kết bổ sung
tuy nhiên thời gian kéo dài dẫn đến rủi ro pháp lý đối với hồ sơ thế chấp TSĐB.
Thứ ba, khi xử lý TSĐB là bất động sản theo phương thức bên nhận bảo đảm nhận chính
tài sản hoặc bên bảo đảm bán tài sản thông qua bán đấu giá hay không thông qua bán đấu
giá thì khi thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng mua bán/chuyển nhượng một số phòng
công chứng yêu cầu phải có thông báo giải chấp của bên nhận bảo đảm. Một số phòng
công chứng yêu cầu phải thực hiện thủ tục xóa đăng ký giao dịch bảo đảm tại văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất (4)
Thứ tư, trong thực tế việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của các NHTM cũng gặp
khẩu làm ăn thua lỗ, mất khảnăng thanh toán.
- Thiệt hại trong việc bảo lãnh L/C nhập hàng trảchậm. ðây chính là một hình thức
tín dụng mà ngân hàng cấp cho người nhập khẩu. Bằng uy tín của mình, SGD NHNo
ñứng ra bảo lãnh các hối phiếu kỳhạn. Tuy nhiên, một sốdoanh nghiệp biến nó thành
nguồn vốn tín dụng dài hạn, lợi dụng tiền bán hàng trảchậm quay vòng, sửdụng vốn
sai mục ñích…, dẫn ñến mất khảnăng thanh toán cho người xuất khẩu khi ñến hạn.
Trong vài năm trởlại ñây, rủi ro này có xu hướng gia tăng, SGD NHNo chịu khá
nhiều thiệt hại trong việc bảo lãnh L/C nhập hàng trảchậm, nếu ngân hàng phải ñứng
ra trảnợthay cho các doanh nghiệp ñó thì khảnăng không thu hồi ñược nợlà rất cao.
- Trường hợp SGD nhận thưbảo lãnh nhận hàng: ðôi khi hàng về ñến cảng rồi mà bộ
chứng từvẫn chưa vềtới ngân hàng. ðơn vịnhập khẩu có yêu cầu giải phóng hàng
càng nhanh càng tốt ñểtránh phí tổn lưu kho bãi và các chi phí phát sinh. ðiều kiện ñể
SGD thực hiện nghiệp vụphát hành thưbảo lãnh- thưuỷquyền nhận hàng, ký hậu
vận ñơn gốc là khách hàng phải có cam kết chập nhận thanh toán và ký quỹ100% trị
giá hoá ñơn, hoặc uỷquyền cho chi nhánh của NHNo khoanh sốtiền tương ứng trên
tài khoản tiền gửi của họhoặc ghi nợtài khoản tiền vay khi thanh toán. Ngoài ra,
khách hàng phải có thưyêu cầu phát hành bảo lãnh kèm 01 bản sao hoá ñơn do người
xuất khẩu gửi trực tiếp. Trên thực tếxảy ra không ít rủi ro cho SGD khi khách hàng ñã
nhận hàng và khi bộchứng từvềrồi mà họkhông chịu thanh toán. Lúc ñó SGD phải
tiến hành cho vay bắt buộc và sẽchịu rủi ro khi nhà nhập khẩu phá sản, mất khảnăng
thanh toán.
Câu 13
Từ tháng 5/2013 tới nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã liên tục chỉ đạo 8 lần giảm lãi
suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với 5 lĩnh vực ưu tiên,
từ mức lãi suất 15% năm xuống đến nay còn tối đa là 8%/năm.
Nói là giảm song thực tế các ngân hàng chỉ giảm 0,5% lãi suất cho vay các kỳ ngắn hạn
6 tháng trở lại. Còn lại hầu hết lãi suất cho vay vẫn giữ nguyên. Chính vì nguyên nhân
này khiến doanh nghiệp không hào hứng vay vốn trong đợt hạ lãi suất này.
Trước hết là khó khăn từ bản thân nền kinh tế, thị trường và từ cơ chế chính sách: “Sự
suy giảm, biến động của nền kinh tế thế giới, thị trường bất động snar, thị trường chứng