CU HI LUN MễN NGN HNG THNG MI CAO HC
1. Trỡnh by v cht lng/hiu qu hot ng huy ng vn ca NHTM. Phõn tớch cỏc
ch tiờu phn ỏnh cht lng/hiu qu hot ng huy ng vn.
2. Trỡnh by v cht lng/hiu qu/RR tớn dng ca NHTM. Phõn tớch cỏc ch tiờu
phn ỏnh cht lng/hiu qu/RR tớn dng.
3. Thụng qua vn NHNN a ra hn mc tng trng tớn dng hng nm cho cỏc
NHTM, v vic Fitch Rating h bc tớn nhim ca 2 NH, Anh/ch hóy ỏnh giỏ v
bỡnh lun v vn tng trng tớn dng ca NHTM VN hin nay.
4. Mt s ngõn hng cho vay theo SIBOR+.%. Hóy gii thớch c s ca chớnh sỏch lói
sut ú.
5. Mt s NHTM cho vay i vi d ỏn vi mc cho vay ti a 85% tng nhu cu vn
u t ca d ỏn. Gii thớch c s ca chớnh sỏch trờn.
6. Luật các tổ chức tín dụng của Việt nam xếp bảo lãnh của NH vào hoạt động tín
dụng; một số quan điểm khác cho rằng bảo lãnh ngân hàng là hoạt động phi tín
dụng. Hãy bình luận về các quan điểm trên.
7. Ti Vit nam, quy nh ca NHNN yờu cu hot ng cho thuờ ti chớnh phi c t
chc c lp di hỡnh thc hot ng ca cụng ty cho thuờ ti chớnh. Anh/ch hóy
bỡnh lun v quy nh ny.
8. Ti sao cỏc NHTM b kim soỏt cht ch trong hot ng? Xu hng qun lý cỏc
NHTM sau cuc khng hong kinh t ton cu? Bi hc kinh nghim cho Vit nam?
9. Trỡnh by v ngõn hng bỏn l/bỏn buụn. Nhiu NHTM hin theo ui chin lc
phỏt trin dch v ngõn hng bỏn l Vit nam hin nay. Anh/ch hóy bỡnh lun quan
im trờn.
10. Thụng qua vic Chớnh ph a ra l trỡnh tng vn phỏp nh i vi cỏc NHTM,
hóy bỡnh lun v vn vn ch s hu v ỏp lc tng vn ch s hu ca NHTM.
11. Trỡnh by v nng lc cnh tranh ca doanh nghip v ca NHTM. Phõn tớch cỏc ch
tiờu o lng nng lc cnh tranh.
12. Trỡnh by cỏc loi hỡnh ngõn hng thng mi theo tớnh cht s hu liờn h thc
tin Vit nam
13. Trỡnh by cỏc loi hỡnh ngõn hng thng mi theo mụ hỡnh t chc (tp on a
nng, ngõn hng thuc tp on, NH c lp) liờn h thc tin Vit nam
27. Mô hình tập đoàn ngân hàng – tài chính đa năng: ứng dụng ở Việt nam và những vấn
đề liên quan.
2
TRẢ LỜI
1. Trình bày về chất lượng/hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM. Phân tích các
chỉ tiêu phản ánh chất lượng/hiệu quả hoạt động huy động vốn.
a) Huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM, đặc biệt huy động tiền gửi của KH
là nguồn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của
NHTM.
Trong thời gian qua, hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM ngày càng
được cải thiện, thể hiện:
o Khoản mục tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi của các TCTD
trong danh mục nguồn vốn của các NHTM được thực hiện một cách bài bản,
có chiến lược rõ ràng và tổ chức chặt chẽ. Biện pháp để thực hiện mục tiêu
này là phát triển tài khoản cá nhân, tăng tiện ích dịch vụ và sản phẩm ngân
hàng hiện đại cho chủ tài khoản, phát triển dịch vụ ATM; mở rộng dịch vụ
cho trả lương qua thẻ đối với các DN và tổ chức có công nhân, đông người lao
động…
o Cạnh tranh sôi động trong lĩnh vực huy động vốn, nhưng các NH trong nước
vẫn chiếm thị phần chủ yếu về vốn huy động. Vốn huy động từ XH luôn
chiếm từ 60% đến 70% tổng nguồn vốn hoạt động của mỗi Ngân hàng.
o Các chi nhánh NHTM, NHTM chủ động hơn về nguồn vốn trong cho vay.
Các chi nhánh NHTM giảm đi sự phụ thuộc vào chỉ tiêu điều hòa vốn, kế
hoạch điều chuyển vốn của Hội sở chính. Các NHTM khác thường xuyên
thiếu vốn cũng giảm bị động về việc vay vốn trên thị trường liên NH.
o Nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng
gia tăng. Tuy việc sử dụng vốn trong loại nguồn vốn này không cao và thường
biến động, nhưng đây là loại vốn huy động có lãi suất thấp, góp phần làm
giảm lãi suất bình quân đầu vào, chi phí huy động vốn thấp.
Giai đoạn từ cuối năm 2007 đến nay, do ảnh hưởng của lạm phát và khủng hoảng
xếp nguồn vốn trung hạn.
b) Hiệu quả hoạt động huy động vốn có thể đánh giá qua các chỉ tiêu:
o Chi phí huy động vốn
o Chênh lệch thu lãi/ chi phí trả lãi
o Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi thanh toán, tiền
gửi tiết kiệm và vay
o Tính ổn định của các nguồn vốn.
2. Trình bày về chất lượng/hiệu quả/RR/ tín dụng của NHTM. Phân tích các chỉ tiêu
phản ánh chất lượng/hiệu quả/RR tín dụng.
a) Tín dụng hiện nay vẫn là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu đối với các
NHTM ở Việt Nam (thường chiếm trên 60% trong tổng thu nhập). Vì vậy, chất
lượng hoạt động tín dụng luôn được quan tâm và kiểm soát chặt chẽ.
Chất lượng hoạt động tín dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
o Chất lượng thẩm định KH và phương án vay vốn. Tuy nhiên, ở Việt Nam hoạt
động này vẫn chưa được chuẩn hóa, phụ thuộc nhiều vào cán bộ thẩm định. Vì
vậy, rủi ro tác nghiệp và rủi ro đạo đức rất lớn.
o Môi trường khác quan (thay đổi chính sách, biến động nền KH vĩ mô…), ở
VN rủi ro do thay đổi chính sách rất lớn.
o Chất lượng KH: báo cáo tài chính thường không được kiểm toán nên độ xác
thực rất thấp, không thể làm căn cứ để đánh giá tình hình tài chính KH. Có
KH cá nhân, SMEs thường có trình độ quản lý thấp, hoạt động KD nhỏ lẻ.
o Chất lượng thông tin: thiếu thông tin, thông tin từ CIC đôi khi không cập nhật,
thiếu chính xác.
Ở VN hiện nay, để đánh giá và quản lý chất lượng tín dụng của NHTM, NHNN
sử dụng chỉ tiêu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu (QĐ 493/2005 QĐ-NHNN và 18/2007
QĐ-NHNN về phân loại nợ và trích lập Dự phòng rủi ro). Tuy nhiên, đa số các
NH mới chỉ dừng lại phân loại nợ theo điều 6 (định lượng) nên chưa phản ánh
được chính xác bản chất của khoản nợ.
Chất lượng hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM VN đã được cải thiện, thể
hiện ở tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm và dưới 5%. Một số NHTM trước đây bị
* Lãi suất thả nổi và cơ sở của lãi suất thả nổi
- Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi theo cung cầu trên thị trường (lãi suất thị
trường), khi NH AD lãi suất thả nổi lãi được tính theo lãi suất thị trường vào thời điểm
tính lãi.
LS thả nổi có thể hạn chế RRLS cho NH, nhưng lại đem lại khó khăn cho KH
trong việc lập kế hoạch đầu tư và vì thế có thể gây rủi ro cho KH, LS này thường được
AD trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ liên NH.
- SIBOR (Singapore Interbank Offered Rate) Là lãi suất do hiệp hội NH
Singapore ấn định vào lúc 12:00 giờ (giờ Sing) dựa trên cơ sở tham khảo mức lãi suất
cho vay liên NH của một số NHTM được lựa chọn từng thời kỳ. Theo công văn 854/CV
NHNN ban hành ngày 6/9/2000, SIBOR áp dụng cho các khoản vay bằng USD tại VN và
áp dụng từ ngày thứ 2 tới thứ 6 hàng tuần trừ những ngày nghỉ. Ngày hiệu lực của lãi suất
5
đã công bố được thực hiên theo quy định của Hiệp hội, theo đó mức LS khi được ấn định
sẽ có hiệu lực vào ngày kinh doanh thứ hai sau ngày ấn định, trong trường hợp ngày hiệu
lực là ngày nghỉ thì sẽ được chuyển vào ngày tiếp theo, số ngày tính lãi một năm là 365
ngày.
* Cơ sở của chính sách lãi suất này là
- Thứ nhất: r
D
= r
F
+ ∆E
e
Trong đó r
D
là lãi suất nội tệ, r
F
là lãi suất ngoại tệ, ∆E
e
Trong nền kinh tế mở, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao, nhất là dịch vụ
ngân hàng bán lẻ (NHBL). Mục tiêu của dịch vụ NHBL là khách hàng cá nhân, nên các
dịch vụ thường đơn giản, dễ thực hiện và thường xuyên, tập trung vào dịch vụ tiền gửi và
tài khoản, vay vốn, mở thẻ tín dụng
6
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu á – AIT, dịch vụ NHBL là
cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm
và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông
tin.
Theo định nghĩa trên, dịch vụ NHBL chỉ được thực hiện nhờ công nghệ thông tin
(CNTT), cụ thể là:
- CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các
giao dịch trực tuyến được thực hiện;
- CNTT hỗ trợ triển khai các sản phẩm dịch vụ NHBL tiên tiến như chuyển tiền tự
động, huy động vốn và cho vay dân cư dưới nhiều hình thức khác nhau;
- Nhờ khả năng trao đổi thông tin tức thời, CNTT góp phần nâng cao hiệu quả của
việc quản trị ngân hàng, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các giao dịch có
tính chất phân tán như chuyển tiền, giao dịch thẻ, tiết giảm đáng kể chi phí giao dịch;
- CNTT có tác dụng tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng, hệ thống quản trị
tập trung sẽ cho phép khai thác dữ liệu một cách nhất quán, nhanh chóng, chính xác.
Từ giác độ kinh tế – xã hội, dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân
chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế, đồng thời giúp cải
thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời
gian cho cả ngân hàng và khách hàng.
II. Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại các NHTM
1. Những thành công và hạn chế
Trong những năm gần đây, dưới áp lực cạnh tranh ngày càng tăng do việc áp dụng lộ
trình nới lỏng các quy định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về việc mở
chi nhánh và các điểm giao dịch, việc dỡ bỏ hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND, khả
- Sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn mang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại,
chất lượng dịch vụ thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách
hàng;
- Chưa có chiến lược tiếp thị cụ thể trong hoạt động NHBL, thiếu đội ngũ cán bộ
chuyên nghiệp về tiếp thị dịch vụ NHBL, tỷ lệ khách hàng cá nhân tiếp cận và sử dụng
dịch vụ ngân hàng vẫn còn ở mức khiêm tốn;
- Kênh phân phối không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp
các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa
trên nền tảng CNTT chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng
rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở mức độ thử
nghiệm, giao dịch thanh toán thương mại điện tử còn hạn chế, chưa ứng dụng được hình
thức thanh toán qua điện thoại di động sử dụng tài khoản ngân hàng;
- Các dịch vụ NHBL phát triển dưới mức tiềm năng. Sau 10 năm làm dịch vụ phát
hành và thanh toán thẻ, số người sử dụng thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương chỉ đạt trên 1
triệu khách hàng, phần lớn chủ thẻ là thương nhân và những người sống ở các đô thị lớn,
dư nợ cho vay cá nhân chỉ chiếm 5-9% tổng dư nợ;
- Hiệu quả của chính sách khách hàng còn thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao, thủ tục
giao dịch chưa thực sự thuận tiện, bộ máy tổ chức chưa theo định hướng khách hàng,
8
thiếu bộ phận nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân,
thiếu hệ thống chỉ tiêu định lượng và đánh giá hoạt động NHBL, mức độ ứng dụng
CNTT chưa cao.
2. Những yếu tố hạn chế phát triển dịch vụ NHBL tại Việt Nam
Nét đặc thù của dịch vụ ngân hàng bán lẻ là nhắm tới đối tượng khách hàng cá nhân,
song người dân trong nước chưa biết nhiều về dịch vụ ngân hàng nói chung và dịch vụ
NHBL nói riêng. Do mức thu nhập của phần lớn dân cư còn thấp, thói quen sử dụng tiền
mặt còn phổ biến, nên khả năng phát triển và mở rộng dịch vụ NHBL còn hạn chế.
Môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng chưa thực sự phù hợp với tình hình thực
tế. Các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các
giao dịch thủ công với nhiều loại giấy tờ và quy trình xử lý nghiệp vụ phức tạp. Trong
các điểm chấp nhận thẻ (POS) và tăng cường liên kết giữa các NHTM để nâng cao hiệu
quả và mở rộng khả năng sử dụng thẻ ATM và thẻ POS;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua máy tính và ngân hàng tại nhà nhằm tận dụng sự
phát triển của máy tính cá nhân và khả năng kết nối internet. Trong đó, các NHTM cần
sớm đưa ra các loại dịch vụ mới để khách hàng có thể đặt lệnh, thực hiện thanh toán, truy
vấn số dư và thông tin về cam kết giữa ngân hàng và khách hàng, v.v;
- Phát triển loại hình ngân hàng qua điện thoại, đây là mô hình phổ biến với chi phí rất
thấp, tiện lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại
bất cứ thời gian, địa điểm nào;
- Mở rộng các kênh phân phối qua các đại lý như, đại lý chi trả kiều hối, đại lý phát
hành thẻ ATM, đại lý thanh toán.
Quá trình phát triển và hoàn thiện dịch vụ NHBL phải được thực hiện từng bước,
vững chắc, đồng thời có bước đột phá để tạo đà phát triển nhanh chóng trên cơ sở giữ
vững thị phần đã có và mở rộng thị trường, tạo nhiều tiện ích cho người sử dụng dịch vụ,
kết hợp hài hoà lợi ích khách hàng với lợi ích của ngân hàng và có lợi cho nền kinh tế.
Chìa khóa của Chiến lược NHBL là phát triển CNTT, làm nền tảng phát triển kinh
doanh và mở rộng các loại hình dịch vụ mới theo hướng tăng cường ứng dụng khoa học
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến và từng bước
triển khai mô hình giao dịch một cửa, hiện đại hóa tất cả các nghiệp vụ ngân hàng, đảm
bảo hòa nhập với các ngân hàng quốc tế trong mọi lĩnh vực. Tăng cường xử lý tự động
trong tất cả qui trình tiếp nhận yêu cầu khách hàng, thẩm định và xử lý thông tin, nâng
cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo tính bảo mật và an toàn trong kinh doanh.
3. Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ
Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng cá
nhân, hình thành bộ phận nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập
trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổi trội trên thị
trường nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa
dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng.
Phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm
phát huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch
Theo Nghị định 141/2006 của Chính phủ, Tổ chức tín dụng được cấp giấy phép
thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực góp hoặc
11
được cấp tối thiểu là 1.000 tỉ đồng chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2008 và đến
31-12-2010 là hạn chót để các ngân hàng phải đảm bảo nâng vốn lên tối thiểu 3.000 tỉ
đồng.
Nghị định này được ban hành tháng 11.2006, thời điểm cổ phiếu ngân hàng đang
được mệnh danh là cổ phiếu vua. Trong bối cảnh đó việc tăng vốn điều lệ của các
NHTM ngỡ là rất dễ dàng. Tuy nhiên từ đó, đến nay, nền kinh tế nói chung, thị
trường tài chính của Việt Nam đã chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế lan rộng trên thế giới.
Sang năm 2010, khi nền kinh tế đã bước đầu phục hồi, TTCK tưởng như đã có thể
tiến đến mốc 600 dễ dàng thì vấn đề nợ công của một số nước Châu Âu và nguy cơ
lan sang Châu Á đã khiến tương lai của TTCK Việt Nam đang trở nên bất ổn, khó
lường, thanh khoản thị trường kém, giá cổ phiếu NH càng thê thảm hơn. Lộ trình tăng
vốn lên tối thiểu 3.000 tỉ đồng đến 31/12/2010 thực sự là áp lực rất lớn đối với các
ngân hàng nhỏ, nhất là ngân hàng có vốn điều lệ quanh mức 1.000 tỉ đồng. Thống kê
đến tháng 5/2010 cho thấy trong tổng cộng 39 ngân hàng thương mại cổ phần
(TMCP) đang hoạt động có tới 24 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 3.000 tỉ đồng. Trong
đó có 15 ngân hàng có vốn dưới 2.000 tỉ đồng và tám ngân hàng có vốn quanh mức
1.000 tỉ đồng.
Do phải thực hiện tăng vốn theo quy định bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước, nên
các nhà ngân hàng đang ở vào thế bị động và tính khả thi của phương án phát hành
cũng như phương án sử dụng vốn sẽ gặp không ít khó khăn. Các ngân hàng phải đối
mặt với 2 thách thức cơ bản: thứ nhất là năng lực quản trị theo quy mô lớn và thứ hai
là áp lực lợi nhuận trên đồng vốn hay áp lực lợi nhuận và đảm bảo tỷ lệ cổ tức cho cổ
đông ngân hàng khi vốn tăng quá nhanh. Điều này làm cho hiệu quả đầu tư của các
ngân hàng thấp xuống, buộc họ phải đẩy mạnh cạnh tranh và một số vấn đề không
lành mạnh trong lãi suất cho vay, lãi suất huy động chắc chắn lại xuất hiện.
Quy định này đã gây sức ép tăng vốn không nhỏ cho các ngân hàng TMCP. Để
hiện nay đang không cân sức. Rõ ràng lợi thế thuộc về ngân hàng lớn. Trong khi
nguồn vốn tăng của họ dùng để đầu tư, mở rộng mạng lưới phát triển thì các ngân
hàng nhỏ chỉ tăng cho đủ vốn pháp định.
Thứ hai: Loay hoay “cầu cứu” các cổ đông lớn hoặc các đối tác chiến lược
13
Để có thể thực hiện thành công kế hoạch tăng vốn, lãnh đạo các ngân hàng nhỏ
phải thuyết phục được các cổ đông lớn tiếp tục bỏ thêm tiền vào. Sau đó là thuyết
phục các cổ đông nhỏ lẻ trong đại hội cổ đông chấp thuận phương án phát hành thêm.
Tuy nhiên, thực tế để đạt đồng thuận cùng một lúc cả cổ đông tổ chức và cổ đông nhỏ
là rất khó.
Đối với các ngân hàng đang có vốn pháp định dưới mức 2.000 tỉ đồng thì phương
án phát hành thêm cổ phiếu khó khả thi nên họ phải xoay qua tìm nhà đầu tư là các tổ
chức, đối tác chiến lược nước ngoài. Tuy nhiên, việc tìm kiếm các cổ đông chiến lược
nước ngoài không dễ dàng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay. Đó là chưa kể
đến niềm tin của các cổ đông chiến lược nước ngoài đối với một số NHTM cổ phần
Việt Nam chưa tốt. Đây thực sự là những khó khăn để tăng vốn điều lệ của các
NHTM. Không thể ngay trong một sớm một chiều ngân hàng nào cũng có thể tìm
được đối tác phù hợp, nhất là những ngân hàng chưa khẳng định được thương hiệu,
tiềm lực vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh không lớn phải mất nhiều thời gian đàm phán.
Quá trình tăng vốn điều lệ theo lộ trình đã chịu tác động của một số nguyên nhân khách
quan, khiến việc tăng vốn điều lệ từ các nguồn khác nhau của nhiều tổ chức tín dụng
trong nước gặp phải không ít khó khăn. Ngày 14/12/2010, NHNN đã báo cáo thủ tướng
chính phủ xem xét và chính thức gia hạn tăng vốn pháp định ngân hàng thêm một năm
đến 31/12/2011.
Câu 13. Trình bày các loại hình ngân hàng thương mại theo mô hình tổ chức (tập
đoàn đa năng, ngân hàng thuộc tập đoàn, NH độc lập) – liên hệ thực tiễn Việt nam
NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức
năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo mô hình tổ chức NHTM được chia thành:
- Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách
nhiệm. Hình thức pháp lý của công ty con khá đa dạng, có thể là công ty cổ phần do ngân
hàng mẹ nắm giữ cổ phần chi phối; công ty TNHH 2 thành viên trở lên, trong đó ngân
hàng mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do ngân hàng mẹ
nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty TNHH một thành viên do ngân hàng mẹ là chủ
sở hữu.
- Căn cứ vào tính chất và phạm vi hoạt động, tập đoàn tài chính kinh doanh theo mô
hình công ty mẹ – công ty con có hai loại: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy và mô
hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh. Trên thực tế, không có sự tách
bạch rõ ràng, nhiều tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ – công ty con là hỗn
hợp của hai loại hình trên. Tập đoàn TC-NH theo mô hình công ty mẹ – công ty con cũng
hoạt động theo mô hình hỗn hợp, trong đó ngân hàng mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh
doanh một số công ty con, đồng thời chỉ nắm vốn thuần túy một số công ty con khác.
15
- Ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng, tập đoàn TC-NH còn cung cấp dịch vụ tài
chính phi ngân hàng (do các công ty con thực hiện), những dịch vụ này liên quan chặt chẽ
với hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn. Ngoài ra, để nhận dạng
một tập đoàn, cần thông qua những đặc trưng chung của tập đoàn và đặc trưng riêng của
các công ty con hay công ty thành viên trong tập đoàn.
Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay:
Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy (holding company)
Trong mô hình này một công ty mẹ sở hữu cổ phần của các công ty/ngân hàng con,
công ty mẹ chủ yếu thường chỉ thực hiện hoạt động đầu tư tài chính và chịu trách nhiệm
quản lý các công ty con trên từng lĩnh vực. Các công ty mẹ thường có ưu điểm là có thể
giảm thiểu rủi ro cho các chủ sở hữu, cho phép sở hữu và kiểm soát số lượng các công ty
khác nhau.
Tại Mỹ, Berkshire Hathaway là một là những công ty thương mại đại chúng lớn nhất;
Công ty này sở hữu một vài công ty bảo hiểm, các thương nhân sản xuất; các nhà bán lẻ
và các loại công ty khác. Hai công ty mẹ thuần túy khác là UAL Corporation và AMR
Corporation, các công ty thương mại đại chúng mà mục đích chính của chúng là sở hữu
Tập đoàn đa năng
Ngày 16/5,ngân hàng thương mại Cp Sài Gòn thuong tín công bố thành lập tập
đoàn TC Sacombank. Đây là tập đoàn TC tư nhân đàu tiên,có hạt nhân là ngân hàng
Sacombank điều phối 11 công ty thành viên. Gần đây các ngân hàng cho thấy rõ tham
vọng của mình khi cả VCB và BIDV đều chủ động đề xuất và được Cp cho làm chủ
đầu tư xây dựng 2 tuyến đường cao tốc quan trọng ở phía bắc và nam. Bên cạnh đó
cũng phải kể tới việc BIDV đang là người đóng vai trò tập hợp, liên kết với nhiều đối
tác để đầu tư trong nhiều lĩnh vực hạ tầng, năng lượng,BĐS, và cả lĩnh vực hoàn
toàn mới như cho thuê máy bay.Thậm chí BIDV còn đi đầu tư trong việc cùng các
ngân hàng phát triển đầu tư ra nước ngoài.
Những mô hình tổ chức và hoạt động theo hình thức trên đã có nhưng việc thừa nhận
về mặt pháp lý lại chưa theo kịp thực tế. Khi những cơ sở này chưa hình thành đồng
bộ thì việc mở rộng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn
17
và tạo ra những rủi ro, bất lợ lớn. Vì vậy chặng đường đi tới của một tập đoàn TCNN
sẽ còn rất dài với sự nỗ lực của cả Dn và Cp.
Ngân hàng thuộc tập đoàn
Trước đây 1 số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp lớn như: Petro Việt nam. Bảo Việt,
FPT,Vinatex,… đã từng đứng ra xin mở ngân hàng: Ngân hàng dầu khí, ngân hàng
bảo việt, Ngân hàng Tiền Phong, … Bên cạnh đó ,trong quyết định của thủ tướng
Chính phủ về việc thành lập một số tập đoàn kinh tế (Được thành lập trên cơ sở công
ty NN) cũng cho phép các tập đoàn hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo
hiểm. Hiện nay ở Việt Nam các tập đoàn đứng ra thành lập ngân hàng là không được
phép do cơ chế cấp phép thành lập và hoạt động NHTMCP (Ban hành theo
QDD24/2007/QĐ-NHNN ngày 7/6/2007 của Thống đốcNHNN) đã quy định rõ 1 cổ
đông là chủ sở hữu tối đa 20%vốn điều lệ của 1 ngân hàng và chỉ được tham gia góp
vốn thành lập tại 1 ngân hàng,ngoài ra chính phủ đưa ra chính sách cấm các tập đoàn
và tổng công ty này đầu tư quá 30% vốn vào các hoạt động kinh doanh không nòng
cốt. Như vậy các tập đoàn kinh tế dù có năng lực tài chính và tham vọng lớn đến đâu
về nguyên tắc cũng không thể có ngân hàng của riêng mình.
- Giữa thời lượng và kỳ hạn của tài sản:Thời lượng tăng lên cùng với kỳ hạn của tài
sản ( có hoặc nợ) có thu nhập cố định nhưng với một tỷ lệ giảm dần.Bằng toán
học điều này được biểu diễn như sau:
>0 và <0
M tăng thì D cũng tăng nhưng D tăng chậm hơn M
- Giữa thời lượng và mức lãi suất hiện hành:khi lãi suất thị trường tăng thì thời
lượng giảm
<0
- Giữa thời lượng và lãi suất coupon:LS Coupon càng cao thời lượng càng
giảm.Nghĩa là LS Coupon càng cao thì luồng tiền thu hồi càng nhanh và do đó tỷ
trọng giá trị hiện tại của các luồng tiền lớn được dung để tính thời lượng.
<0
Ý nghĩa kinh tế của thời lượng:
Thời lượng cho phép trực tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản và nguồn vốn đối với lãi
suất.Hay nói cách khác,Thời lượng D của TSC hay TSN càng lớn thì giá trị của tài sản
càng nhạy cảm với lãi suất.
19
Ứng dụng mô hình thời lượng và phòng ngừa rủi ro lái suất:
Quản trị rủi ro lãi suất đối với 1 bộ phận TS
Quản tri rủi ro lãi suất đối với toàn bộ bảng cân đối TS
Khi LS do thị trường quyết định,các lực lượng thị trường sẽ tác động làm cho LS thay đổi
thowngf xuyên và khó dự đoán,điều này khiến cho các NHTM phải đối mặt thực sự với
nguy cơ tiềm ẩn rủi ro LS.Để phòng ngừa rủi ro LS ,đòi hỏi các NH phải Tăng cường
công tác quản lý,đặc biệt là áp dụng phương pháp hiện đại để lượng hóa rủi ro LS có ảnh
hưởng tới KQ kinh doanh là như thế nào.
Câu 15. Trình bày mô hình khe hở nhạy cảm lãi suất. Giải thích các giả thiết
trong mô hình khe hở nhạy cảm lãi suất.
Ngân hàng ngày nay rất coi trọng vấn đề quản lý rủi ro, các ngân hàng cố gắng
kiểm soát những tổn thất gây ra bởi sự thay đổi bất lợi của lãi suất, bởi việc người vay
vốn mất khả năng hoặc không muốn thanh toán các món nợ cũng như bởi những thay đổi
Khi giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất không cân bằng,
khe hở nhạy cảm lãi suất được hình thành:
Khe hở nhạy cảm Giá trị tài sản nhạy cảm Giá trị nợ nhạy cảm
lãi suất = lãi suất - lãi suất
Khi khe hở nhạy cảm lãi suất = 0:
Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất bằng giá trị nợ nhạy cảm lãi suất, khi lãi suất tăng
hay giảm cũng không ảnh hưởng đến thu nhập lãi của ngân hàng, ngân hàng được coi là
không có rủi ro lãi suất. Trong trường hợp này, thu lãi từ danh mục tài sản và chi phí trả
lãi sẽ thay đổi theo cùng một tỷ lệ. Khe hở nhạy cảm lãi suất của ngân hàng = 0 và tỷ lệ
thu nhập cận biên được bảo vệ dù lãi suất thay đổi theo hướng nào.
Khi khe hở nhạy cảm lãi suất > 0 (khe hở nhạy cảm lãi suất dương hay nhạy
cảm lãi suất):
Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất trong mỗi giai đoạn kế hoạch (ngày, tuần, tháng,…)
lớn hơn giá trị nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất.
Khi lãi suất thị trường tăng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ tăng vì thu
từ lãi trên tài sản sẽ tăng nhiều hơn chi phí trả lãi cho vốn huy động. Nếu các yếu tố khác
không đổi, thu nhập lãi của ngân hàng sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu lãi suất giảm khi ngân
hàng đang trong tình trạng nhạy cảm tài sản hay khe hở dương thì tỷ lệ thu nhập lãi cận
biên của ngân hàng sẽ giảm vì thu từ lãi trên tài sản sẽ giảm nhiều hơn chi phí trả lãi cho
các nguôn vốn, như vậy, thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ giảm.
Khi khe hở nhạy cảm lãi suất < 0 (khe hở nhạy cảm lãi suất âm hay nhạy
cảm nợ):
Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất của ngân hàng lớn hơn giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất.
21
Khi lãi suất thị trường tăng lên sẽ làm giảm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân
hàng vì chi phí cho những khoản nợ nhạy cảm lãi suất sẽ tăng nhiều hơn mức tăng thêm
trong lãi thu về từ những tài sản nhạy cảm lãi suất của ngân hàng. Sự sụt giảm lãi suất sẽ
làm tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn, vì chi phí lãi trả
cho vốn huy động sẽ giảm nhiều hơn lãi thu về.
* Ứng dụng mô hình khe hở nhạy cảm lãi suất: Phương pháp quản lý khe hở
khoản. Anh/chị hãy bình luận về các biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản hiện nay
của các NHTM Việt nam
Rủi ro thanh khoản là rủi ro NH không có khả năng chi trả tức thời các khoản rút tiền và
giải ngân đã cam kết với KH hoặc chi trả với chi phí cao. Khi rủi ro thanh khoản xảy ra
các NHTM phải chịu mức tổn thất cao để huy động được nguồn tiền mặt đáp ứng như
cầu thanh khoản, hơn thế với NHTM nhỏ rất có khả năng dẫn đến mất thanh khoản và
nguy cơ vỡ nợ. Sau giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008 -2009 Các NHTM VN hiện
nay chú ý hơn tới quản trị rủi ro thanh khoản, với các biện pháp quản trị về phía tài sản,
nguồn hoặc kết hợp cả hai.
Để đánh giá các biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản, các chỉ số thường được sử dụng là
vốn điều lệ, CAR, chỉ số về trạng thái tiền mặt và năng lực cho vay.
- Vốn điều lệ: theo quy định của NHNN đến năm 2008 NHTM đạt mức VĐL 3000 tỷ
đồng. Đa số các NHTM đã đạt được mức này, tuy nhiên so với quy mô các NH trong khu
vực là 1 tỷ USD thì mức VĐL trên còn quá thấp.
- Hệ số CAR phản ánh tỷ lệ vốn tự có tối thiểu ngân hàng phải đạt được trên tổng
tài sản Có rủi ro quy đổi. Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm
2005 của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro. Nếu
xét theo tiêu chí này, một số ngân hàng thương mại đã đạt được; nhưng nếu tính theo
Hiệp ước Basel II thì rất khó để đạt tới mức vốn an toàn 8%.
- Chỉ số về trạng thái tiền mặt(H3): Tiền mặt+Tiền gửi thanh toán tại NHNN+Tiền gửi
không kỳ hạn tại các TCTD/Tổng tài sản “Có”.Một tỷ lệ tiền mặt và tiền gửi cao đảm bảo
cho ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời. NHTM VN giai đoạn
2007-2008 có chỉ số H3 dưới 10%, trong đó một số ngân hàng có chỉ số rất thấp dưới 5%
như: Agribank, BIDV, MHB, Vietinbank, An Bình, Habubank, MB, MSB, Ocean,
Saigonbank, SHB, VIBank, Vietcombank. Những ngân hàng này khi có nhu cầu thanh
khoản lớn, đột xuất, chắc chắn ngân hàng buộc phải vay trên thị trường tiền tệ với lãi suất
cao. Thực tế đã chứng minh cho nhận định này, những tháng cuối năm 2007 và đầu năm
2008, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất tiền gửi và đẩy lãi suất vay qua đêm trên thị
trường tiền tệ liên ngân hàng lên mức “kỷ lục”: 40%/năm.
theo hướng tình thế đối phó tức thời. Khi kinh tế khó khăn cộng thêm chính sách
tiền tệ thắt chặt khiến NHTM buộc phải quan tâm hơn tới rủi ro thanh khoản, dẫn
đến cuộc chạy đua lãi suất căng thẳng giữa các NHTM gây ra chi phí và tổn thất
lớn.
Câu 20: Trình bày về rủi ro tín dụng của NHTM. Bài học kinh nghiệm của NHTM
VN đối với nợ dưới chuẩn
Một nền kinh tế biến động hơn với những vấn đề xuất hiện gần đây đã khiến các
NHTM ngày càng phải tập trung hơn nữa cho công tác quản trị trong hoạt động tín dụng,
đặc biệt là kiểm soát rủi ro tín dụng.
Theo Peterose (tr207), việc một số tài sản của Ngân hàng (đặc biệt là các khoản cho
vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà Ngân hàng phải chịu
do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn, lãi.(giáo
trình NHTM trang 154 – PGS.TS. Phan Thu Hà).
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2005 : "Rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng" (sau đây gọi tắt là "rủi ro") là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Về bản chất, rủi ro tín dụng là loại rủi ro đa dạng và phức tạp, và việc quản lý và
phòng ngừa nó rất khó khăn.
* Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng:
Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân khách quan là nguyên nhân bất khả kháng, thông tin không cân xứng,
sự điều khiển sai lệch của cơ chế thị trường… cụ thể:
- Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
+ Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
24
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia
công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi
ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con
đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải
quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng. Hơn nữa các thủ tục pháp lý kiện ra tòa án để
thực hiện xử lý tài sản thế chấp cũng rất rườm rà, gây mất chi phí đối với Ngân hàng.
+Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
25