Download miễn phí Tiểu luận Quy chế pháp lí của hoạt động phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
B/ NỘI DUNG 1
I/ Khái quát chung về giấy tờ có giá 1
1/ Một số khái niệm 1
2/ Những đặc trưng cơ bản của phát hành giấy tờ có giá 5
II/ Quy chế pháp lí của hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD 6
theo pháp luật hiện hành 6
1/ Đối tượng phát hành giấy tờ có giá 6
2/ Về mệnh giá của giấy tờ có giá do TCTD phát hành 6
3/ Về trình tự, thủ tục phát hành giấy tờ có giá của TCTD 7
3.1/ Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn 7
3.2/ Phát hành giấy tờ có giá dài hạn 8
4/Phát hành trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền 10
5/ cách phát hành giấy tờ có giá của TCTD 13
IV/ Thực trạng pháp luật, hướng hoàn thiện 14
1/ Sơ lược về các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động giấy tờ có 14
giá ở nước ta. 14
2/Thành tựu của pháp luật đã đạt được. 15
3/ Hạn chế về hướng hoàn thiện 16
C/ KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39366/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
thanh toán.
Tái chiết khấu là việc mua lại thương phiếu, giấy tờ có giá khác đã được
chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.
2/ Những đặc trưng cơ bản của phát hành giấy tờ có giá
+ Thứ nhất, về bản chất pháp lí:
Việc phát hành giấy tờ có giá của TCTD ra công chúng thực chất là một
hành vi vay tiền của khách hàng chứ không phải là hành vi bán giấy tờ có giá
cho khách hàng. Có thể khẳng định như vậy vì trong quan hệ giao dịch này,
TCTD không hề có quyền sở hữu đối với các giấy tờ có giá mà nó dự định
phát hành nên không thể đóng vai trò là người bán. Mặt khác trước khi giấy
tờ có giá được chuyển giao cho khách hàng sở hữu như một chứng thư xác
nhận quyền chủ nợ và TCTD cũng chưa nhận được nguồn vốn tiền tệ do
khách hàng chuyển giao thì các chứng từ này thực chất chưa có giá trị thực
tế, nghĩa là không thể hoán đổi chúng thành tiền hay các tài sản khác có giá
trị tương đương với số tiền ghi trên mệnh giá của chứng thư. Điều đó chứng
tỏ chỉ khi nào khách hàng chấp nhận đổi chứng thư đó với TCTD bằng số
tiền tương đương mệnh giá của chứng thư này mới thực sự có giá trị và mới
phản ánh đúng tên gọi của nó “giấy tờ có giá” hay “ tư bản giả”.
+Thứ hai ,về đối tượng của giao dịch:
Không phải là các giấy tờ có giá do TCTD phát hành là đối tượng của
giao dịch “phát hành giấy tờ có giá” mà chính là các khoản tiền vốn do khách
hàng đồng ý chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng với điều kiện ngân hàng
phải hoàn trả sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi theo thỏa thuận.
Về lí thuyết tuy không phải là đối tượng của giao dịch nhưng các chứng thư
này được coi là hình thức pháp lí của giao dịch, đồng thời là chứng cứ chứng
minh quyền và nghĩa vụ pháp lí của các bên trong quan hệ giao dịch, mặt
khác xét về phương diện kinh tế thì các chứng thư này cũng được coi là một
loại “tiền ngân hàng” nhưng không phải là tiền do ngân hàng trung ương
phát hành mà là tiền được tạo ra bởi TCTD trong quá trình huy động vốn,
thông qua chức năng tạo tiền của TCTD
+ Thứ ba, về tư cách pháp lí:
Khi phát hành các giấy tờ có giá để vay nợ của khách hàng, TCTD là
người vay hay người mắc nợ, còn khách hàng mua giấy tờ có giá có tư cách
là người cho vay hay chủ nợ của TCTD. Mặc dù có tư cách của một người
cho vay nhưng do giao dịch này được TCTD và khách hàng xác lập, thực
hiện thông qua một hợp đồng cho vay có thời hạn cho vay xác định nên về
nguyên tắc khách hàng cho vay không thể rút vốn về trước kì hạn như trong
trường hợp họ gửi tiền có kì hạn tại TCTD. Nếu muốn thu hồi vốn về trước
kì hạn, cách duy nhất là người sở hữu chứng từ (bên cho vay) kí hợp đồng
chuyển nhượng chứng từ đó cho người khác (có thể bán cho ngân hàng theo
cách chiệt khấu hay bán cho tổ chức cá nhân khác theo phương
thức thông thường trên thị trường tiền tệ hay thị trường chứng khoán).
Qua những đặc trưng cơ bản trên của phát hành giấy tờ có giá, ta thấy
rằng phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng là một loại hình giao dịch
vốn khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này còn được phản ánh cả trong cơ chế
hình thành quyền, nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có
giá.
II/ Quy chế pháp lí của hoạt động phát hành giấy tờ có giá của TCTD
theo pháp luật hiện hành
1/ Đối tượng phát hành giấy tờ có giá
Theo điều 2 của quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 thì
đối tượng được phép phát hành giấy tờ có giá phải là các tổ chức tín dụng
được thành lâp và hoạt động theo luật tổ chức tín dụng bao gồm:
+ Các tổ chức tín dụng Nhà nước
+ Các tổ chức tín dụng cổ phần
+ Quỹ tín dụng nhân dân trưng ương
+ Các tổ chức tín dụng liên doanh
+ Các tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh ngân hàng
tại nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam.
Riêng công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính thì, loại giấy tờ có
giá và thời hạn giấy tờ có giá được phép huy động thực hiện theo quy định
hiện hành về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính và cho thuê tài
chính.
Qua quy định này cho ta thấy, pháp luật quy định cho hầu hết các đối
tượng là TCTD được thành lập và hoạt động theo luật tổ chức tín dụng,
được phép phát hành giấy tờ có giá. Bên cạnh đó thì các công ty tài chính và
công ty cho thuê tài chính cũng được phép phát hành giấy tờ có giá. Tuy
nhiên, giấy tờ có giá mà công ty cho thuê tài chính được phép phát hành chỉ
chỉ là các giấy tờ có thời hạn trên 12 tháng.
2/ Về mệnh giá của giấy tờ có giá do TCTD phát hành
Mệnh giá là số tiền gốc được in sẵn hay ghi trong giấy có giá phát hành
theo hình thức chứng chỉ hay ghi trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đối
với giấy tờ có giá phát hành theo hình thức ghi sổ.
Mệnh giá của giấy tờ có giá ngắn hạn được in sẵn và theo thỏa thuận của
tổ chức tín dụng phát hành đối với người mua.
Pháp luật quy định mệnh giá của giấy tờ có giá dài hạn có thể phát hành
bằng đồng Việt Nam hay bằng ngoại tệ. Nếu phát hành bằng đồng Việt
Nam theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm ngàn đồng, bằng ngoại tệ
phát hành theo hình thức chứng chỉ tối thiểu là một trăm đô la Mỹ hay ngoại
tệ khác tương đương. Các mệnh giá lớn hơn mệnh giá tối thiểu phải là bội số
của mệnh giá tối thiểu. Pháp luật không quy định mệnh giá tối thiểu của giấy
tờ có giá ngắn hạn như trong giấy tờ dài hạn. Về mệnh giá tối thiểu của giấy
tờ dài hạn trong quyết định 07/2008/QĐ-NHNN này có sự thay đổi so với
quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN. Trong quyết định 02/2005 mệnh giá nhỏ
nhất của giấy tờ có giá dài hạn là một triệu đồng còn trong quyết định 07/
2008 chỉ là một trăm ngàn đồng. Hơn nữa, về mệnh giá tối đa của giấy tờ dài
hạn cũng không được quy định, mệnh giá tối đa của giấy tờ dài hạn sẽ do
TCTD tự quy định. Trong khi đó, tại quyết định 02/2005 thì mệnh giá tối đa
của giấy tờ có giá dài hạn là một tỷ đồng.
Việc quy định mệnh giá tối thiểu của giấy tờ có giá dài hạn trong quyết
định 07/2008 chỉ là 100 ngàn đồng, nhưng trong khi đó trong quyết định 02/
2005 mệnh giá nhỏ nhất của giấy tờ có giá dài hạn là một triệu đồng, theo em
việc quy định mệnh giá tối thiểu như quyết định số 02/2005 là không hợp lí,
nếu quy định mệnh giá tối thiểu như vậy là quá cao, sẽ bỏ mất một lượng
vốn nhàn rỗi lớn trong dân chúng đối với những người có thu nhập trung
bình, khá vẫn có tiền để mua giấy tờ có giá, tuy là không nhiều. Nhưng với
số lượng lớn sẽ là một con số đáng kể.
Bên cạnh đó việc quy định mệnh giá tối đa của quyết định số 02/2005 là
một tỷ đồng cũng là không phù hợp với thực tế, và việc quyết định số 07/
2008 không có quy định cụ thể về giá trị tối đa của giấy tờ có giá nên việc
quy định mệnh giá tối đa của giấy tờ có giá dài hạn có thể do các TCTD tự
quy định phù hợp với từng điều kiện của các TCTD.
3/ Về trình tự, thủ tục phát hành giấy tờ ...