Download miễn phí Tiểu luận Các nhân tố tác động đến quan hệ Nga – Eu và nhân tố Mỹ trong quan hệ Nga – EU
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .0
I. khái quát chung quan hệ Nga - EU 1
1. Bối cảnh quốc tế 1
2. Tình hình châu Âu, EU và Nga sau Chiến tranh lạnh 2
2.1 Bối cảnh Châu Âu sau chiến tranh lạnh 2
2.2 EU thập niên đầu của thời kỳ sau Chiến tranh lạnh 2
2.3 Tình hình nước Nga mười năm đầu sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết 3
II. Nhân tố năng lượng trong quan hệ Nga – EU 5
1. Tầm quan trọng của năng lượng trong quan hệ Nga – EU 5
2. Căng thẳng Nga – EU liên quan đến vấn đề năng lượng. 5
III. Nhân tố Mỹ trong quan hệ Nga – EU 7
KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39357/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
LỜI MỞ ĐẦU
Năm trên vùng đất chiến lược của thế giới lại là hai thực thể lớn nhất Châu Âu, mối quan hệ hợp tác Nga – EU luôn có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định của cả châu lục và thế giới. Tuy nhiên, quan hệ hai bên chưa bao giờ ổn định mà luôn có những lúc thăng lúc trầm. “Quan hệ đối tác với Nga là quan trọng nhất, cấp thiết nhất và là thách thức nặng nề nhất đối với Liên minh Châu Âu” Phát biểu của Javier Solana – Đại diện cao cấp về chính sách đối ngoại và an ninh chung của Liên minh châu Âu. Xem: Union europeenne – Russia: quelles relation?, truy cập ngày 8-4-2010
.
Quan hệ Nga – EU trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX tương đối nồng ấm. Điều này xuất phát từ tình hình nước Nga lúc bấy giờ: Tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài, chính trị nội bộ rối ren, vị thế quốc tế suy giảm khiến nước Nga ở vào thế yếu, phải nhượng bộ phương Tây trong mọi lĩnh vực từ an ninh, quân sự đến các vấn đề kinh tế. Ngày 31/12/1999, V. Putin lên thay B. Yeltsin trở thành tổng thống Liên Bang Nga. Từ bỏ chính sách phiến diện nghiêng về Phương Tây của người tiền nhiệm để theo đuổi đường lối ngoại giao độc lập mang tính thực dụng vì lợi ích quốc gia, nước Nga dưới sự lãnh đạo của vị Tổng thống mới đã bắt đầu khôi phục hình ảnh và vị thế cũng như bắt đầu có lập trường của riêng mình đối với nhiều vấn đề trong quan hệ vơi EU. Quan hệ Nga – EU thiết lập từ tháng 12/1991 và được định hình theo khuôn khổ đối tác chiến lược bằng “Hiệp định đối tác và hợp tác” ký kết năm 1994, chính thức có hiệu lực từ tháng 12 năm 1997. Vậy có những nhân tố nào tác động đến quan hệ giữa hai thực thể này ? và trong mối quan hệ này ảnh hưởng của nhân tố Mỹ như thế nào?. Bài tiểu luận sẽ đi vào phân tích các nhân tố tác động đến quan hệ Nga – Eu sau chiến tranh lạnh, đê làm sáng tỏ những bất đồng trong quan hệ giữa hai thực thể lớn nhất của Châu Âu.
I. khái quát chung quan hệ Nga - EU
1. Bối cảnh quốc tế
Sau hơn bốn thập kỷ đối đầu căng thẳng, Chiến tranh lạnh đã kết thúc cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế. Ý thức hệ không còn là nhân tố hàng đầu trong tập hợp lực lượng, thay vào đó, lợi ích quốc gia trở thành nhân tố chủ đạo trong hoạch định chính sách của các nước. Vì vậy nên hầu hết tất cả các nước dù lớn hay nhỏ, trong đó có Liên bang Nga, đều thay đổi chiến lược đối ngoại của mình sao cho phù hợp với sự thay đối về so sánh lực lượng và thực trạng an ninh thế giới, nhằm giành được cơ hội thuận lợi để phát triển đất nước và xác lập một vị trí có lợi nhất trong trật tự thế giới mới đang hình thành. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, cục diện của thế giới là nhất siêu đa cường, trong đó các cực, các trung tâm hoạt động hài hòa, phối hợp chặt chẽ với nhau chứ không triệt tiêu nhau, tuy có mâu thuẫn nhưng xu hướng hợp tác vẫn là chủ yếu, kiềm chế và đấu tranh song không đi đến quan hệ đổ vỡ.
Bên cạnh đó, sau Chiến tranh lạnh, những nguy cơ an ninh phi truyền thống như an ninh kinh tế, an ninh con người, an ninh sinh thái – môi trường…với những đặc điểm là khả năng xuyên quốc gia, tính vô chính phủ và khả năng chuyển hóa và vận động mau lẹ đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế. Sau Chiến tranh lạnh, phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược của các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn. Dưới sự tác động của quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia không chỉ tăng trong lĩnh vực kinh tế mà cả về an ninh chính trị. Như vậy sự sụp đổ của trật tự thế giới đối đầu hai cực đã góp phần tích cực làm cho xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển trở thành xu thế lớn của thế giới.
2. Tình hình châu Âu, EU và Nga sau Chiến tranh lạnh
2.1 Bối cảnh Châu Âu sau chiến tranh lạnh
Lịch sử thể kỷ XX đã chứng kiến châu Âu trở thành nơi tranh chấp ảnh hưởng một cách quyết liệt giữa hai siêu cường hàng đầu thế giới. Chiến tranh lạnh kết thúc, môi trường an ninh, chính trị của Châu Âu đã có những thay đổi căn bản. Sự đối đầu của haai siêu cường Mỹ là Liên Xô với hai khối quân sự NATO – Vacsava không còn, do đó nguy cơ châu Âu bị biến thành chiến trường tranh chấp ảnh hưởng đã được đẩy lùi. Tuy nhiên, an ninh châu Âu lại rơi vào tình trạng không ổn định mới. Liên Xô tan rã dẫn đến sự ra đời của một loạt các chủ thể với tư cách là các quốc gia châu Âu, đồng thời dẫn đến sự phân hóa nội bộ sâu sắc trong các tầng lớp xã hội Nga cũng như các nước Đông Âu. Những nhân tố này đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của Châu Âu. Nguy cơ tiềm tàng của chiến tranh quy mô lớn đến từ một phía trước đây đã bị thay thế bởi sự “uy hiếp” và “thách thức” đến từ nhiều phía Vương Dạt Châu, An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2004
. Trong bối cảnh đó, hợp tác Nga – EU không chỉ nhằm củng cố an ninh của cả hai bên, thúc đẩy hợp tác kinh tế, giải quyết các vấn đề buôn lậu và các vấn đề biên giới lãnh thổ nhằm đảm bảo một châu Âu an ninh, ổn định mà còn nhằm hạn chế ảnh hưởng của Mỹ ở Châu Âu, phát huy cai trò của Nga cũng như EU trong nền an ninh châu lục.
2.2 EU thập niên đầu của thời kỳ sau Chiến tranh lạnh
Ngày 7/2/1992 Hiệp ước Mastricht được ký kết là một bước ngoặt lớn ở Tây Âu, nó đánh dấu sự thành lập chính thức của Liên minh châu Âu (EU). Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử mới sau Chiến tranh lạnh kết thúc, EU có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít những khó khăn.
Thuận lợi: Hiệp ước Mastricht thể hiện chính sách thích ngi mới của Cộng đồng châu Âu khi quyết định đặt vấn đề nhất thể hóa châu Âu làm mục tiêu nền tảng cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới, nhằm tạo dựng một liên minh ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân các nước châu Âu. Việc thống nhất thị trường của các nước thành viên EU với các nước thành viên EU với các nước trong hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu trong một “không gian kinh tế châu Âu” cũng như sự nhất trí của các nước thành viên EU trao quyền thay mặt cho Ủy ban Châu Âu trong WTO đã tạo nên một sức mạnh lớn chi phối các vấn đề kinh tế, thương mại quốc tế. Nhìn chung, thập niên đầu tiên của thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, EU đã xây dựng được những cơ sở làm tiền tệ cho quá trình nhất thể hóa của mình.
Khó khăn: Về kinh tế, do có sự khác biệt về lợi ích giữa các nước thành viên trong nhiều vấn đề khác nhau nên vẫn còn tồn tại nhiều bất đồng liên quan đến liên quan đến tiến trình nhất thể hóa. Về chính trị, các nước EU mặc dù đều là những nền kinh tế phát triển nhưng bị phụ thuộc gần như toàn vào nguồn năng lượng từ bên ngoài. Về mặt xã hội, dân số già kéo theo sự suy giảm sức sản xuất và gắng nặng về phúc lợi xã hội cũng như tỷ lệ thất nghiệp cao, chênh lệch khoảng cách giàu cùng kiệt lớn, những nguyên nhân tiềm tang gâ...