Tiểu luận Những tích cực và hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình trong pháp luật phong kiến Việt Nam - pdf 13

Download miễn phí Tiểu luận Những tích cực và hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân - gia đình trong pháp luật phong kiến Việt Nam



Trong Bộ luật thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu với tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế từ gia đình mỗi người. Đối với tài sản này vợ chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản này được quản lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức từ tài sản đó mang lại là tài sản chung, nhưng tài sản này chỉ tạm thời gộp lại để vợ chồng quản lý trong thời gian hôn nhân. Như vậy có thể hiểu tài sản riêng của vợ và chồng thì cả hai đều có quyền chiếm hữu, sử dụng trong thời gian hôn nhân nhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của người khác. Do đó khi họ ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó và họ có quyền mang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm. Việc thừa nhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng đó là điểm đặc sắc của pháp luật phong kiến nhà Lê và tạo cho người vợ có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng.


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39364/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

Trải qua 1000 năm Bắc thuộc có lẽ dấu ấn lớn nhất mà chính quyền đô hộ để lại cho nước Đại Việt đó là mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu QCCC, kéo theo đó là sự biến đổi của pháp luật để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Pháp luật phong kiến Việt Nam đã có những thành tựu to lớn nổi bật trong đó là lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình có những nét độc đáo tiến bộ và có tính chất vượt thời đại còn ảnh hưởng đến ngày nay. Bên cạnh đó còn có những điểm hạn chế do tồn tại xã hội quyết định, quan điểm trọng nam khinh nữ. Vậy trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam có những điểm gì tích cực và hạn chế đó là vấn đề mà em muốn làm sáng tỏ qua bài viết này.
I. Những điểm tích cực ở lĩnh vực hôn nhân của pháp luật phong kiến Việt Nam.
Theo quan điểm của nho giáo vai trò của gia đình là rất to lớn, trong đó hôn nhân là một công cụ để củng cố quyền lực gia đình, dòng họ. Với hệ tư tưởng nho giáo xây dựng gia đình phụ quyền vai trò của người đàn ông rất lớn họ là trung tâm của mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Tuy nhiên trong lĩnh vực hôn nhân thì có những điểm tích cực tiến bộ có tính chất vượt thời đại là do nhà làm luật đã xây dựng trên những phong tục tập quán độc đáo của người Việt Nam phù hợp với thực tế cuộc sống điều đó làm cho nó khác biệt với pháp luật phong kiến Trung Quốc thể hiện rõ nhất qua QTHL.
1.Xác lập quan hệ hôn nhân.
a. Các điều kiện kết hôn
Cả hai Bộ luật đều quy định rất cụ thể điều kiện kết hôn.
- Điều kiện về sức khoẻ thể lực mới được kết hôn, QTHL quy định con trái con gái bị ác tật đều có quyền từ hôn, con trai mà phá tán tài sản gia đình thì con gái được quên quan trả đồ lễ mà không phải cưới (Điều 322). Những trường hợp như vậy không phải là bội hôn không bị phân biệt đối xử như thoái hôn. Việc cho con gái quyền từ hôn là điểm mà pháp luật phong kiến Trung Quốc không hề có.
- Tuy hôn nhân là sự ưng thuận của đôi bên gia đình, thể hiện ý chí của đôi bên trai gái, Điều 109 HVLL quy định con trai từ 20 tuổi trở lên và con gái tái giá có quyền tự chủ trong hôn nhân đây là điểm tiến bộ không có trong QTHL và pháp luật phong kiến Trung Quốc.
Khi xác lập hôn nhân phải xác lập bằng văn bản làm bằng gọi là hôn thư. Pháp luật nhà Nguyễn quy định rằng sau lễ đính hôn nếu có văn bản (hôn thư) hay đã trao nhận lễ kỷ nạp thì hôn nhân có hiệu lực pháp luật. Có thể nói hứa gả con gái bằng văn bản là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Đây là một hiện tượng pháp luật độc đáo chỉ có ở pháp luật phong kiến Việt Nam thời Nguyễn. Ở QTHL còn quy định những trường hợp hôn nhân cẩu thả nhưng nếu nộp phạt thì trở thành giá thú hợp pháp nhằm hạn chế những trường hợp tiêu hủy giá thú.
b. Cấm kết hôn.
Cả hai bộ luật đều đưa ra các trường hợp cấm kết hôn, cấm các vương hầu quý tộc, quan lại cậy thế bắt ép con gái nhà lành kết hôn với mình tại Điều 338 của QTHL và Điều 103 của HVLL “Cấm quan cướp phụ nữ bộ dân làm thê thiếp”, tại Điều 105 còn quy định cấm cường hào cưỡng đoạt đàn bà con gái làm vợ. Việc quy định cấm các quan, vương hầu quý tộc bắt ép dân thường kết hôn với mình là vì sợ các quan bị chi phối về mặt tình cảm làm sao nhãng bổn phận với triều đình, hay ngăn ngừa sự lộng quyền có thể đe doạ đến quyền lực của nhà Vua nhưng nó phần nào đã bảo vệ quyền lợi của người dân, phẩm giá của người phụ nữ.
2. Quan hệ hôn nhân.
Việc kết hôn có hiệu lực làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng pháp luật chủ yếu nhìn nhận mối quan hệ này ở 2 góc độ: nhân thân và tài sản.
a. Tài sản.
Tuy ảnh hưởng của nho giáo pháp luật phong kiến Trung Quốc địa vị pháp lý của người vợ rất thấp kém, họ không có quyền gì trong gia đình và bị ràng buộc bởi thuyết tam tòng, nhưng QTHL đã thiết lập một chế độ tài sản tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng đây là điểm tiến bộ nhất so với pháp luật Trung Quốc. Quyền bình đẳng về tài sản thể hiện qua các quyền sở hữu tài sản của vợ và chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng.
* Nguồn tài sản gồm có:
- Tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình nhà chồng (phu điền sản)
- Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ (thê điền sản)
- Tài sản chung do cả hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân (tần tảo điền sản).
Tại các Điều 374, 375 của QTHL qui định mọi tài sản trong gia đình đều thuộc tài sản của vợ và chồng. Vợ chồng với tư cách là cha mẹ, giữ quyền làm chủ gia đình cũng như được hưởng các lợi tức từ tài sản trên, con cái không được hưởng lợi tức từ tài sản đó, trừ trường hợp cha mẹ mất. Điều đặc sắc là quyền sở hữu tài sản giữa cha mẹ và con cái độc lập khi con cái có tài sản riêng, Bộ luật đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng giữa các thành viên trong gia đình làm cho họ có tính độc lập và linh hoạt hơn trong các mối quan hệ giữa các thành viên. Qua đây ta thấy được sự khác biệt rất lớn với gia đình truyền thống Trung Quốc, về quy mô gia đình rất đông gồm nhiều thế hệ gọi là đại gia đình. Mặt khác quan hệ tài sản rất khó tách rời quyền sở hữu giữa các thành viên trong gia đình mỗi người đều có quyền làm chủ tài sản của gia đình. Vì vậy rất khó xác định đâu là tài sản riêng của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình. Tóm lại sự qui định rõ ràng thành phần khối lượng tài sản giữa vợ chồng là điểm tiến bộ và độc đáo của pháp luật thời Lê mà nó còn được tiếp thu đến ngày nay.
* Quyền sở hữu với tài sản riêng.
Trong Bộ luật thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu với tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế từ gia đình mỗi người. Đối với tài sản này vợ chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản này được quản lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức từ tài sản đó mang lại là tài sản chung, nhưng tài sản này chỉ tạm thời gộp lại để vợ chồng quản lý trong thời gian hôn nhân. Như vậy có thể hiểu tài sản riêng của vợ và chồng thì cả hai đều có quyền chiếm hữu, sử dụng trong thời gian hôn nhân nhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của người khác. Do đó khi họ ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó và họ có quyền mang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm. Việc thừa nhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng đó là điểm đặc sắc của pháp luật phong kiến nhà Lê và tạo cho người vợ có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng.
* Quyền sở hữu với tài sản chung.
Là tài sản chung vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại các Điều 374, 375của QTHL qua đó ta thấy tính chất bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung, sự bình đẳng này thể hiện ở hai khía cạnh:
+ Trong trường hợp cần chia tài sản chung thì tài sản của vợ chồng làm ra đều được chia đôi, mỗi người một nửa. Phầ...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status