BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
ĐỀ TÀI:
THÂU TÓM VÀ SÁP NHẬP (M&A)
NGÂN HÀNG VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NHÓM 1
1. NGUYỄN THỊ THƠM
2. LÊ THANH TUẤN
3. BÙI VŨ NHẬT HUYÊN
4. ĐINH THỊ HỒNG THANH
5. NGUYỄN THANH GIÀU
Lớp: Chiều thứ 7
TP.HCM, tháng 10/2015
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) ở Việt Nam đang phát triển theo chiều
hướng đi lên, nhất là từ năm 2006 tới nay. Qua đó, ta thấy thị trường M&A có nhiều
sự thu hút và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Xét riêng ngành ngân hàng ở Việt Nam,
một ngành đang trong giai đoạn phát triển khá nhanh chóng và rầm rộ từ sau khi “mở
cửa” năm 1990, thì các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng chiếm tỷ trọng rất
đáng kể về số lượng và giá trị trong các thương vụ M&A. Các thương vụ M&A trong
ngành ngân hàng tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng nhanh chóng về số và lượng,
nhất là trong thời gian gần đây. Sự lớn mạnh của thị trường M&A tại Việt Nam và
1.2.1. Phân loại theo mức độ liên kết
- M&A theo chiều dọc (vertical merger): Là sự sáp nhập hoặc mua lại của hai
hay nhiều công ty nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước
hoặc phía sau hoặc cả về hai phía của công ty sáp nhập trên chuỗi giá trị đó. M&A
theo chiều dọc được phân làm hai loại:
+ Sáp nhập tiến (forward): Xảy ra khi một công ty mua lại công ty khách hàng
của mình, như trường hợp các công ty sản xuất mua lại các chuỗi cửa hàng bán lẻ.
+ Sáp nhập lùi (backward): Khi một công ty mua lại nhà cung cấp, cung ứng sản
phẩm, nguyên liệu đầu vào của mình, điển hình là trường hợp công ty sữa mua lại
công ty bao bì, đóng chai hoặc công ty chuyên nuôi bò sữa.
3
- M&A theo chiều ngang (horizontal merger): Còn được gọi là sáp nhập cùng
ngành, là hình thức sáp nhập giữa các công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ
cùng dòng sản phẩm và thị trường.
- M&A tổ hợp (conglomerate merger): Xảy ra khi hai hay nhiều công ty không
có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình
– mở rộng kinh doanh sang những lĩnh vực khác không liên quan – tiến hành sáp nhập
lại với nhau.
1.2.2. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ
- M&A trong nước: Là các thương vụ xảy ra trong phạm vi một lãnh thổ, một
quốc gia.
- M&A xuyên biên giới: Là các thương vụ xảy ra giữa các quốc gia với nhau.
1.2.3. Phân loại theo cơ cấu tài chính
- Sáp nhập mua: Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra
khi một công ty mua lại một công ty khác. Việc mua công ty được tiến hành bằng tiền
mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính.
- Sáp nhập hợp nhất: Với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới
đối thủ, mà còn tạo ra một vị thế cạnh tranh lớn hơn, có thể ép giá đối với nhà cung
cấp hoặc độc quyền đặt giá cho những sản phẩm của mình.
+ Bán chéo (cross selling): các công ty có thể tận dụng khai thác các dịch vụ của
nhau để tăng thêm tiện ích cho khách hàng từ đó tăng thu nhập, hoặc bảo vệ mối quan
hệ với khách hàng.
+ Động cơ về thuế (Taxes): một công ty đang kinh doanh có lời có thể mua lại
một công ty thua lỗ, từ đó sẽ hưởng được khoản thuế khấu trừ.
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÂU TÓM VÀ SÁP NHẬP NH VIỆT NAM
2.1. Hoạt động sáp nhập Ngân hàng tiêu biểu trong thời kỳ sơ khai của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam
Năm 1990 đánh dấu mốc quan trọng trong ngành NH Việt Nam với sự thành lập
của 4 NHTMNN. Kể từ đó, hệ thống NH hai cấp đã thay thế hệ thống NH đơn cấp,
hoạt động theo định hướng thương mại. Thời điểm năm 1989-1990, Việt Nam gặp
cuộc khủng hoảng kinh tế từ đó kéo theo phần lớn các TCTD lâm vào tình trạng khó
khăn, nợ xấu có NH đến 40-50% tổng dư nợ. Thực hiện các Pháp lệnh về NH, từ năm
1990 đến năm 1996 NHNN đã cấp giấy phép hoạt động cho 20 NH TMCP, trong đó
10 NH được thành lập trên cơ sở sắp xếp, sáp nhập từ các hợp tác xã tín dụng trước
Pháp lệnh, 10 NH được cấp giấy phép thành lập mới.
Đến thời điểm 1996 – 1997, nền kinh tế Việt Nam lại chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực với việc hàng loạt các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và
không có khả năng trả nợ NH và các vụ án liên quan đến lĩnh vực NH. Vào đầu năm
1998, một số NH TMCP, đặc biệt là các NH TMCP nông thôn đã lâm vào tình trạng
5
mất khả năng thanh toán, có nguy cơ đổ vỡ gây ảnh hưởng dây chuyền đến cả hệ
thống. Trước tình hình đó, NHNN đã áp dụng hàng loạt các biện pháp để xử lý, củng
cố và hỗ trợ các NH TMCP yếu kém, cải tổ cơ cấu lại toàn bộ hệ thống NH. Thực hiện
Đề án “Chấn chỉnh và sắp xếp lại các NH TMCP Việt Nam” được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt tại Quyết định số 212/1999/QĐ-TTg ngày 29/10/1999, các NH TMCP
NH TMCP Tứ Giác Long Xuyên
NH TMCP Nông thôn Tây Đô
NH TMCP Nông thôn Cái sắn
NH TMCP Mekong
NH TMCP Nam Đô
NH TMCP Nông thôn Tân Hiệp
Thời gian
1997
1999
2001
2000
2003
2003
2003
2003
2001
2003
2003
2001
2003
2003
2.2. Các thương vụ M&A nổi bật gần đây
2.2.1 SCB - Tín Nghĩa- Đệ Nhất (09/2011)
Nguyên nhân chính dẫn đến sáp nhập
Chủ yếu do 3 NHTMCP trên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
(chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản), gặp khi thị trường biến động, nhất là khi nguồn
vốn huy động ngắn hạn không còn dồi dào như trước nên rủi ro thanh khoản xảy ra.
TCKT và cá nhân
Lợi nhuận trước
219,3
thuế
Tỷ lệ nợ xấu
1,7%
Tỷ lệ an toàn vốn
-/ROE
6,69% (2010)
ROA
-/-
SCB
78.014
4.184
2012
2013
2014
SCB Sau sáp nhập
149.206 181.019 242.222
10.584 12.295
12.295
35.029
40.930
91.142
2,51%
7,23%
10,35%
0,56%
0,04%
1,63%
9,95%
0,35%
0,03%
0,5%
9,39%
0,69%
0,04%
(**): Tổng huy động
Sau sáp nhập, NH hợp nhất có vốn điều lệ 10,58 nghìn tỷ đồng, hơn 230 chi
nhánh. Tổng tài sản của SCB sau sáp nhập đạt 149,2 nghìn tỷ đồng vào thời điểm cuối
năm 2012 và đạt 242,2 nghìn tỷ đồng vào cuối 2014. Dư nợ của NH đạt 88,1 nghìn tỷ
vào thời điểm cuối năm 2012 và đến 31/12/2014 đạt 134 nghìn tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ
nợ xấu giảm từ 7,28%, năm 2012 xuống 9,39%. Năm 2012, SCB đã có lãi trước thuế
77 tỷ đồng. Tỷ lệ an toàn vốn đạt 10,35% đáp ứng được quy định của NHNN đến
31/12/2014 đạt 9,39%, đáp ứng được quy định của NHNN.
Chỉ số ROA, ROE tại 3 ngân hàng trước khi sáp nhập khá cao, tuy nhiên, ngay
sau khi sáp nhập, các tỷ số ROA, ROE cũng giảm dần xuống 0, kéo theo sự sụt giảm
thu nhập cổ phiếu SCB từ 665 đồng/cổ phiếu năm 2010 xuống còn 60 đồng/cổ phiếu
năm 2012.
Tuy các chỉ số ROA và ROE đã giảm nghiêm trọng, nhưng năm 2014 đã đánh
sự biến
mất
của
thương hiệu Habubank một thời, NH SHB cũng đứng vào hàng ngũ những NH có vốn
8
điều lệ lớn với hơn 8.865 tỷ đồng, tổng tài sản sau khi sáp nhập khoảng 116 nghìn tỷ,
gần gấp đôi so với trước khi sáp nhập và tính đến 31/12/2014 thì đạt khoảng hơn 169
nghìn tỷ đồng, gấp 2,4 lần tổng tài sản của SHB so với trước khi sáp nhập, nhờ đó
SHB đã trở thành 1 trong 10 NH TMCP lớn nhất Việt Nam về quy mô và thị phần.
Chỉ tiêu
Tổng tài sản (tỷ VNĐ)
Vốn điều lệ (tỷ VNĐ)
Huy động từ TCKT và cá
nhân (tỷ VNĐ)
Dư nợ cho vay TCKT và
cá nhân (tỷ VNĐ)
Lợi nhuận trước thuế (tỷ
VNĐ)
Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ an toàn vốn
Habuban
SHB
k
1.825,2
2,23%
2,23%
>13%
8,8%
14,18%
2013
2014
143.625,8 169.035,5
8.865,8
1.000
4,06%
12,38%
8.865,8
1.012,35
2,02%
11,33%
Tổng nguồn vốn huy động đạt 127.353,1 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hơn
1.012,35 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của SHB từ năm 2012 là 8.8%/ tổng dư nợ giảm còn
2,02%/tổng dư nợ tính đến 31/12/2014. Các khoản nợ nhóm 4, nhóm 5 của SHB đều
có tài sản đảm bảo và SHB đang quyết liệt xử lý bằng các giải pháp thích hợp nhằm
thu được kết quả tốt nhất.
bổ sung nguồn lực, BIDV sau sáp nhập nâng tổng tài sản lên trên 700.000 tỷ đồng, vốn
điều lệ cũng tăng lên trên 34.000 tỷ đồng, mạng lưới kênh phân phối mở rộng lên gần
1.000 điểm trên cả nước, với tổng số lao động là gần 24.000 cán bộ, nhân viên.
+ Tương tự, sau khi sáp nhập với Southern Bank, Sacombank thuộc Top 5 NH
lớn nhất Việt Nam với tổng tài sản đạt 297.184 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu đạt gần
24.506 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 18.853 tỷ đồng; mạng lưới hoạt động lên đến
563 điểm giao dịch trên toàn quốc và 2 nước Lào, Campuchia.
Nhận định về xu thế M&A NH, một chuyên gia kinh tế cho rằng : “Xu thế sáp
nhập, mua bán, đang diễn ra khá sôi động trong thời gian vừa qua. Xu thế này sẽ
còn tiếp tục không chỉ năm nay mà trong cả thời gian sắp tới và nó hoàn toàn khả
thi. Thực tế trong những năm qua đã có nhiều thương vụ sáp nhập và sau khi sáp
nhập thì khá ổn định, đến thời điểm hiện tại thì nó được coi là khá thành công”.
2.3. Tình hình tham gia vốn nước ngoài tại các NHTM Việt Nam, vấn đề nới lỏng
room
Hiện có đến 13 NH TMCP có vốn nhà đầu tư nước ngoài tham gia và nhìn chung
phần lớn các NHTMCP này thuộc nhóm đầu. Việc tham gia của NĐT nước ngoài vào
các TCTD Việt Nam giúp các TCTD Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng kể như:
Tăng năng lực tài chính thông qua tăng vốn điều lệ và thặng dư vốn cổ phần; năng lực
quản trị điều hành được cải thiện đáng kể thông qua tái cơ cấu bộ máy, tư vấn, đào tạo
của TCTD nước ngoài; mở rộng nghiệp vụ hoạt động, mở rộng quan hệ đại lý…
10
Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy không phải có sự tham gia của NĐT nước ngoài
thì hoạt động kinh doanh của TCTD sẽ có chuyển biến tích cực. Trường hợp Ngân
hàng Phương Nam (Southern Bank) bán 19,99% cổ phần cho Ngân hàng UOB nhưng
đến nay sau một thời gian dài hợp tác, Ngân hàng Phương Nam vẫn nằm trong nhóm
Ngân hàng có quy mô nhỏ, yếu kém, lợi nhuận qua các năm đều không đạt chỉ tiêu kế
hoạch, tỷ lệ nợ xấu cao và đến ngày 14/09/2015, NH Phương Nam buộc phải sáp nhập
Eximbank
Mizuho Corporate Bank .Ltd
The Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ. Ltd
IFC Capitalization (Equity) Fund
Inter Finance Corporation
Standard Chartered APR Lts,
Standard Chartered Bank Hong Kong Ltd
Maybank
IFC
HSBC
Sumitomo Mitsui Banking Corporation
15
19,73
5,39
2,63
8,77
6,23
20
10
19,48
15
Trước đây, các NĐT nước ngoài mua cổ phần tại các TCTD Việt Nam thực hiện
theo Nghị định số 69 ban hành ngày 20/04/2007 của Chính phủ. Tuy nhiên từ ngày
20/02/2014, các NĐT nước ngoài mua cổ phần tại các TCTD Việt Nam đang thực hiện
theo Nghị định 01 do Chính phủ ban hành ngày 03/01/2014. Nghị định quy định rõ,
cụ thể về tỷ lệ sở hữu tối đa của một NĐT, của đối tác chiến lược và tổng tỷ lệ sở hữu
của các NĐT nước ngoài tại 1 TCTD Việt Nam.
Nam trong thời hạn 12 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ mua cổ phần.
Năm là, có tổng tài sản tối thiểu tương đương 10 tỷ đô la Mỹ đối với nhà đầu tư
nước ngoài là NH, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính hoặc có mức vốn điều
lệ tối thiểu tương đương 1 tỷ đô la Mỹ đối với nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức khác
vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ mua cổ phần.
12
Về phía các NĐT nước ngoài, nhiều NĐT nước ngoài đã đánh giá việc gia tăng
tỷ lệ sỡ hữu cổ phần của các NĐT nước ngoài từ 15% lên 20% là không có cải thiện
đáng kể, vì Tổng mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá
30% vẫn như Nghị định 69 đã ban hành trước đó. Nếu NĐT nước ngoài không có
quyền đủ lớn thì họ khó mà có được những tác động hiệu quả đến hoạt động Ngân
hàng. Việc gia tăng tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài tại các TCTD trong nước lên
mức cao hơn để có được tiếng nói trong việc xây dựng chiến lược phát triển, tham gia
điều hành, quản lý NH, bao gồm xử lý nợ xấu của Ngân hàng nội địa vì các TCTD
nước ngoài vừa có kinh nghiệm, kĩ năng đánh giá nợ xấu, vừa có nguồn vốn để có thể
tham gia vào quá trình xử lý nợ xấu của NH nội.
2.4. Những thách thức trong hoạt động M&A NH tại Việt Nam
Thứ nhất, một số NH nhỏ vừa được thành lập. Nếu ép buộc phải sáp nhập ngay
với NH lớn hơn, cổ đông của các NH này sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Khi xem xét sự ảnh
hưởng của các thương vụ M&A tới giá trị của các cổ đông thông qua thị giá của cổ
phiếu trên thị trường, nhiều nhận định cho rằng về ngắn hạn cổ phiếu của công ty tiến
hành sáp nhập sẽ giảm và giá của công ty mục tiêu sẽ tăng. Còn giá của công ty tiến
hành sáp nhập thường giảm xuống sau mỗi vụ sáp nhập. Đó là do công ty phải trả một
số tiền lớn hơn nhiều giá trị thực của công ty mà nó thôn tính, mặt khác có rất nhiều
những rủi ro bất trắc mà công ty thôn tính có thể gặp phải và từ đó, giá cổ phiếu giảm.
NH là một loại hình kinh doanh đặc biệt nhưng cũng tuân theo quy luật đó.
Thứ hai, M&A NH còn ảnh hưởng không nhỏ đến nhân viên NH và các khách
kế hoạch xử lý nợ xấu đến 2015; đồng thời, đang tích cực triển khai đồng bộ các giải
pháp xử lý nợ xấu trong khả năng tài chính của mình, song song với việc hỗ trợ, tháo
gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh của các khách hàng. Thống kê đến hết tháng
8/2014, Công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC) đã mua được 59.511 tỷ đồng
nợ xấu từ 35 tổ TCTD; các NHTM tự xử lý thêm được 20.000 tỷ đồng so với 12/2013
VND, nâng tổng số nợ xấu được xử lý là khoảng 105.000 tỷ đồng.
Thứ tư, từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực tiền tệ, ngân
hàng hỗ trợ cơ cấu lại các TCTD. Ngoài các văn bản như: Nghị định số101/2012/ NĐCP về thanh toán không dùng tiền mặt; Nghị định số 01/2013/NĐ-CP về việc nhà đầu
tư nước ngoài mua cổ phần của TCTD Việt Nam; Quyết định số48/2013/ QĐ-TTg
ngày 01/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc góp vốn, mua cổ phần bắt
buộc của TCTD được kiểm soát đặc biệt… NHNN đang khẩn trương hoàn thiện để
trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp lý về thanh tra, giám sát; xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; quy định về các tỷ lệ đảm bảo an
toàn trong hoạt động ngân hàng…
14
3.1.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm
Vấn đề định giá trong thương vụ M&A
Định giá là một giai đoạn trong xác định giá trị doanh nghiệp. Đây luôn luôn
là vấn đề phức tạp đối với các nhà đầu tư và doanh nghiệp khi đàm phán giao
dịch M&A. Chính vì lý do trên mà đây là một vấn đề được quan tâm rất nhiều trong
quá trình tiến hành thương vụ M&A. Để định giá doanh nghiệp mục tiêu thì NH
thường phải thuê chuyên gia định giá và các chuyên gia này thường phải kết hợp nhiều
phương pháp khác nhau để có thể định giá được một cách gần đúng nhất giá trị của
doanh nghiệp mục tiêu.
Vấn đề minh bạch thông tin
khi hợp nhất NH lại với nhau.
3.2. Kiến nghị một số giải pháp
3.2.1. Các giải pháp từ phía NHNN, cơ quan pháp luật nhằm góp phần hoàn thiện
khung pháp lý về M&A NH tại Việt Nam
Xây dựng tập trung và có hệ thống đối với quy định của pháp luật về M&A NH
với (i) hoạt động mua lại, sáp nhập và hợp nhất và (ii) đầu tư mua cổ phần để trở thành
cổ đông chiến lược trong Luật Các tổ chức tín dụng với tư cách là đạo luật điều chỉnh
chuyên ngành, theo đó cần có các định nghĩa, khái niệm, hình thức, điều kiện, quy
trình và hợp đồng M&A NH cụ thể. Đồng thời, với tư cách là một hình thức tập trung
kinh tế bị điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật cạnh tranh, các quy định về M&A
NH cần phải phù hợp, đáp ứng các điều kiện về kiểm soát cạnh tranh không lành
mạnh, về thị phần, thị trường liên quan... để tránh việc độc quyền, hạn chế cạnh tranh
lành mạnh trên thị trường NH. Hiện nay, các đạo luật về đầu tư, các cam kết của Việt
Nam về đầu tư cũng đã xác nhận M&A là một hình thức đầu tư, tuy nhiên quy định
này mới chỉ xác định nó với tư cách là một hình thức đầu tư trực tiếp và còn rất sơ sài
về yêu cầu, điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư này trong lĩnh vực NH, trong khi đó Luật
Chứng khoán coi hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư đối với các NH trên
thị trường chứng khoán là một hình thức đầu tư gián tiếp… Ngoài ra, các vấn đề pháp
lý khác cũng rất đáng được quan tâm như định giá tài sản, thương hiệu, thuế, giải
quyết lao động sau M&A... cũng cần phải được làm rõ trong quá trình hoàn thiện các
chính sách, cơ chế cho hoạt động M&A NH.
3.2.2. Các giải pháp từ phía NHTM và các đối tượng liên quan trực tiếp khác góp
phần thúc đẩy hoạt động M&A tại các NHTM Việt Nam.
Xây dựng mục tiêu và chiến lược, quy trình cụ thể cho hoạt động M&A
Mục đích của việc mua lại, sáp nhập là tăng giá trị của NH bằng cách này hoặc
cách khác. Vì thế, chiến lược thương hiệu của các NH M&A cũng phải được đặt mục
tiêu làm tăng giá trị thương hiệu lên hàng đầu. Các NH tham gia M&A nên quyết định
16
hơn và có hiệu quả hơn.
Tại Việt Nam, tiềm ẩn nhu cầu phát triển hoạt động M&A là rất lớn và sẽ góp phần tái
cấu trúc và năng cao năng lực cạnh tranh đối với ngành NH tại Việt Nam. Bên cạnh
các giải pháp vĩ mô để cải thiện khung pháp lý, nâng cao vai trò của NH Nhà nước
Việt Nam trong định hướng và lộ trình thúc đẩy hoạt động M&A, và giải pháp từ phía
NH kết hợp với các chủ thể liên quan được trình bày trên đây sẽ góp phần thúc đẩy
phát triển hoạt động sáp nhập và mua lại trong lĩnh vực NH tại Việt Nam thành công.
17
KẾT LUẬN
Nhìn chung, thời gian vừa qua là khoảng thời gian khá rộn ràng của thị trường
M&A ngân hàng tại Việt Nam. Mặc dù các ngân hàng đều phải trả giá sau mỗi thương
vụ sáp nhập, hợp nhất, song có thể thấy hệ thống ngân hàng nói chung và các ngân
hàng nói riêng sẽ được nhiều hơn là mất. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhìn vấn đề từ
hai mặt, những hiệu quả ban đầu của M&A thì đã rõ ràng nhưng những việc phải giải
quyết sau M&A cũng là vẫn đề phải lưu tâm. Để bắt kịp với xu hướng chung của nền
kinh tế cũng như sự vận động toàn cầu và lành mạnh hóa hệ thống tài chính, trách
nhiệm của các cơ quan chức năng, ngân hàng nhà nước cũng như bản thân các ngân
hàng là rất nặng nề, đòi hỏi phải hoàn thiện hơn nữa để nền kinh tế Việt Nam sẽ có
một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh, phát triển ổn định và đảm bảo quyền lợi cho
khách hàng cũng như cổ đông.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Luật Doanh nghiệp 2014
(2) http://bizlive.vn/ngan-hang/infographic-sau-4-nam-tai-co-cau-he-thong-ngan-hang-dathay-da-doi-thit-the-nao-1303155.html
(3) http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/trao-doi---binh-luan/tai-co-cau-he-thongngan-hang-va-nhung-van-de-dat-ra-55818.html
(4) MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP (M&A) NH TẠI VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA TỪ THƯƠNG VỤ SÁP NHẬP NH THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN