TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI :
NỢ CÔNG VÀ TÌNH HÌNH NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. MAI THU HIỀN
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 13, LỚP : 19A-TCNH
DANH SÁCH NHÓM:
STT HỌ VÀ TÊN
3 NGUYỄN HOÀNG ANH
26 PHẠM THỊ HẢI HẬU
35 NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
43 TRẦN THÙY LINH
45 ĐÀO THỊ LOAN
64 NGUYỄN THU PHƯƠNG
82 BÙI THỊ THU TRANG
HÀ NỘI 2013
2
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
MỤC LỤC
!"#$"%
& '()*$$+,-.
(/".
00123456
01347 8, 9
09:(0;;<0;0
009: )+=(0;;<0;0&
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Tuy nhiên, hầu hết
những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của
một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Tuy nhiên, nợ công
hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một
quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp,
tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia.
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ
của bốn nhóm chủ thể bao gồm: (1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban,
ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3) nợ của Ngân hàng
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
4
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
trung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn,
hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ
là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ. Cách định nghĩa
này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của
Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Nợ công, còn gọi là Nợ chính phủ hoặc
Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương
đến địa phương đi vay.
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu nợ chính phủ, nợ công hoặc nợ quốc gia là
tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương
đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách. Việc đi vay này là nhằm tài trợ
cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân
sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ,
người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản
phẩm quốc nội (GDP).
1.1.2 Đặc điểm của nợ công
a) Đặc trưng của nợ công
chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của
dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa
trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất.
b) Bản chất kinh tế của nợ công
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu
vượt quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì
phải vay vốn và điều đó làm phát sinh nợ công. Như vậy, nợ công là hệ quả của việc
Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả.
Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sách nhà
nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi
nhận trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng.
Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà ở đó, số chi
bằng với số thu. Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang
phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm
thu thông qua việc quyết định các khoản thuế.
Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những người
khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công. Và chính vì
thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước có thể vay nợ để
chi tiêu.
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánh giá là
có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883-1946) và
những người ủng hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường
hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp,
thì Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân
sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường
học, cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại. Học thuyết của Keynes (cùng
với sự chỉnh sửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối của một số nhà kinh
tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các Chính phủ áp
dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế.
toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước.
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong
quản lý nợ. Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình
hình cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài
còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước
ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế
khác.
- Theo thời hạn nợ: Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm
đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm).
- Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận
trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ.
+ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay
trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
7
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các
hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài.
+ Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn
ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài
chính
19
.
- Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công có ba loại là
nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông
thường.
- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công phải trả
và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền
địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách
1.1.5 Các vấn đề gặp phải khi tính toán nợ công
Lạm phát
Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnh hưởng
của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toán các khoản trả
lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉ nên tính theo lãi suất
thực tế. Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát, nên thâm
hụt ngân sách đã bị phóng đại. Trong những thời kỳ lạm phát ở mức cao và nợ chính
phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn.
Tài sản đầu tư
Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ chính phủ cần phải trừ đi tổng giá trị
của tài sản chính phủ. Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản của cá nhân: khi
một cá nhân vay tiền để mua nhà thì không thể tính anh ta đã thâm hụt ngân sách bằng
số tiền đã vay mà phải trừ đi giá trị của căn nhà. Tuy nhiên khi tính toán theo phương
pháp này lại gặp phải vấn đề những gì nên coi là tài sản của chính phủ và tính toán giá
trị của chúng như thế nào, ví dụ: đường quốc lộ, kho vũ khí hay chi tiêu cho giáo
dục…
Các khoản nợ tiềm tàng
Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua các khoản nợ
tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoản bảo hiểm xã hội mà chính phủ sẽ phải chi
trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chi trả khi đứng ra bảo
đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trong tương lai họ không có
khả năng thanh toán…
1.1.6 Tác động của nợ công
Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
- Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn vốn để phát
triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước. Việt Nam đang
trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố có tính chất quyết định. Muốn phát triển cơ sở
hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất. Với chính sách huy
động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ sở hạ
(tương đương 83% GDP), Italy nợ trên 2,4 nghìn tỷ USD (tương đương 120,8% GDP),
Pháp nợ hơn 2,3 nghìn tỷ USD (tương đương 90,5% GDP), Anh nợ hơn 2,2 nghìn tỷ
USD (tương đương 91,4% GDP), … Hy Lạp, “tâm bão” nợ công của châu Âu hiện nợ
gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP).
Trung Quốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới. Tổng mức nợ
công của Trung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ
công cũng chỉ chiếm có 17% GDP của Trung Quốc.
Châu Phi có số quốc gia mắc nợ ít nhất thế giới. Nước nợ nhiều nhất ở đây là
Ai Cập với 224 tỷ USD.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm nước có mức nợ công trung bình của thế giới.
Tổng mức nợ công của Việt Nam hiện vào khoảng 71,6 tỷ USD, tương đương 49,4%
GDP, tăng 12,7% so với năm trước. Mức nợ công bình quân đầu người của Việt Nam
đang là 798,92 USD.
1.2.2 Nợ công ở các nước châu Âu
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm 2009 với sự gia
tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ai-len, I-ta-li-a, Hy Lạp và Tây Ban
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
10
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
Nha). Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này, với mức thâm hụt ngân
sách đạt tới 13,6% GDP. Nợ công Hy Lạp cũng lên tới 236 tỷ Ơ-rô, bằng khoảng
115% GDP của Hy Lạp vào năm 2009. Vào tháng 11-2010, Ai-len chính thức trở
thành nạn nhân thứ hai của cơn bão khủng hoảng nợ công khi phải cầu viện Liên minh
châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp
tục là quốc gia thứ ba rơi vào khủng hoảng khi tuyên bố mức thâm hụt ngân sách đã
lên tới 8,5% GDP, cùng với đó, nợ công cũng đã vượt quá 90% GDP. I-ta-li-a và Tây
Ban Nha mặc dù chưa thực sự rơi vào khủng hoảng, nhưng cũng ở trong vòng nguy
hiểm.Thâm hụt ngân sách của I-ta-li-a vào năm 2011 mới chỉ ở mức 5% GDP, nhưng
nợ công đã xấp xỉ 120% GDP.Tây Ban Nha nợ công ở mức 72% GDP, trong khi thâm
hụt ngân sách lại rất cao, gần 9% GDP.
đi vay trên thị trường vốn quốc tế và trong suốt một thập kỷ, trước khi diễn ra cuộc
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
11
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nước này đã trở thành “con nợ”, với tổng số
nợ nước ngoài lên tới 115% GDP (năm 2009). Đến năm 2010, báo cáo của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho thấy, nợ công của Hy Lạp đã lên tới con số
330 tỷ Ơ-rô, tương đương với 147,8% GDP.
Một nguyên nhân nữa dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là sự hạn
chế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sử dụng đồng tiền chung
(Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa. Các quốc gia trong khu vực chủ yếu hợp
tác trong các chính sách tiền tệ, nhằm bảo đảm duy trì giá trị đồng Ơ-rô, trong khi các
chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tương ứng. Rõ
ràng, mặc dù đã có những quy định cụ thể về mức thâm hụt ngân sách cũng như nợ
công, nhưng lại không có một cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả đối với từng quốc
gia thành viên. Chính vì vậy, sự kiện vỡ nợ tại một quốc gia là Hy Lạp đã kéo theo
khủng hoảng niềm tin lan sang các quốc gia có chính sách tài khóa lỏng lẻo khác.
Bên cạnh đó, nguyên nhân khác khiến cuộc khủng hoảng lan rộng và có nguy
cơ trầm trọng hơn chính là việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong
khu vực. Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiện những chính sách của riêng mình
và khi không thể giải cứu được nền kinh tế mới nhờ đến sự viện trợ của EU và IMF,
mà không hề có những cảnh báo sớm với một chiến lược xử lý về dài hạn được đưa ra.
1.2.3 Nợ công các nước Châu Á và khu vực
Theo The Economist, Nhật Bản vẫn là nước nặng nợ nhất thế giới với hơn
12.513 tỷ USD, dù đã giảm nhẹ so với năm ngoái. Nợ công trên GDP của quốc gia này
cũng dẫn đầu với 229% và nợ bình quân trên 99.000 USD. Dù vậy, đây không phải
vấn đề quá lo ngại tại nước này khi 95% do nhà đầu tư nội địa nắm giữ.
Tại Châu Á, Trung Quốc là quốc gia có tổng nợ lớn thứ hai với trên 1.415 tỷ
USD, theo sau là Ấn Độ với khoảng 1.076 tỷ USD. Theo báo cáo từ chính phủ Trung
Quốc, tính đến cuối năm 2012, nợ chính phủ do chính quyền trung ương phát hành
2.1 Thực trạng nợ công & quản lý nợ công ở Việt Nam
2.1.1 Thực trạng nợ công giai đoạn 2006-2012
Giai đoạn từ 2006 - 2012, xu hướng vốn vay nợ công tăng: năm 2006 là 91.757
tỷ đồng (22,7%) đến năm 2012 là 989.300 tỷ đồng (41,1%); riêng năm 2008, do ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế nên nợ công xuống thấp (23,7%). Đa phần vốn vay nợ
công chiếm một tỷ lệ rất quan trọng trong vốn vay đầu tư phát triển.
Về phân bổ, sử dụng vốn vay: thứ nhất, chúng ta vay để bù đắp bội chi ngân
sách. Tỷ lệ bình quân bội chi ngân sách tính cả giai đoạn 2006 - 2012 là 5%. Thứ hai,
vay để đầu tư từ TPCP cho y tế, giáo dục, giao thông, thủy lợi Thứ ba, vay để cho
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
14
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
vay lại, chủ yếu đối với các công trình trọng điểm quốc gia đang cần huy động vốn;
trong đó nguồn vay này chủ yếu từ nguồn vốn ODA.
Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ công giai đoạn 2006 - 2012: Con số trả nợ cho
Chính phủ là rất cao (từ 42.440 tỷ đồng/2006 - 108.186 tỷ đồng/2012). Tỷ lệ bình quân
trả nợ Chính phủ, thu NSNN chiếm khoảng 15%.
Về thực trạng nợ công giai đoạn 2006 - 2012: nếu tính chỉ số nợ công/ GDP thì
giai đoạn 2006 — 2012 nợ công đã tăng đáng kề, từ 41,5% (404.556 tỷ đồng) năm
2006 lên 55,6% (1.641.296 tỷ đồng) năm 2012.
Cơ cấu dư nợ công tính đến 31/12/2012 thì nợ Chính phủ chiếm 77,6%, nợ
Chính phủ bảo lãnh chiếm 20,9% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,5%.
Nợ chính phủ 77.60%
Nợ Chính phủ bảo lãnh 20.90%
Nợ chính quyền địa phương 1.50%
Nguồn: Cục quản lý nợ công & tài chính – Bộ tài chính
Nếu cơ cấu dư nợ công chia theo chủ nợ:Nợ công ở nước ta chủ yếu được vay
bằng Việt Nam đồng, đồng yên, đồng đô la, điều này cũng đồng nghĩa với việc rủi ro
về tỷ giá, lãi suất. Vay nước ngoài lớn nhất chủ yếu là vay Nhật Bản 17%; thứ hai là
vay World Bank (WB) thông qua nguồn vốn đặc biệt 13%; thứ ba là vay của Ngân
quy trình, thủ tục đối với từng nghiệp vụ quản lý nợ nước ngoài như cấp và quản lý
bảo lãnh chính phủ, cho vay lại từ nguồn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ, xây
dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng và báo cáo thông tin nợ. Nhìn
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
16
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
chung, các văn bản quy phạm pháp luật điểu chỉnh hoạt động vay nợ nước ngoài là
tương đối đầy đủ và đồng bộ, đã thể hiện những quan điểm đổi mới trong quản lý nợ
của Chính phủ, phù hợp luật Ngân sách nhà nước năm 2002, đồng thời cập nhật những
khái niệm, phương pháp luận quản lý nợ hiện đại. Khuôn khổ pháp luật và thể chế cho
quản lý nợ công ở nước ta đã có bước cải thiện đáng kể từ khi Luật Quản lý nợ công
và Nghị định 79/2012/NĐ-CP hướng dẫn nghiệp vụ quản lý nợ công ban hành và có
hiệu lực vào 1/1/2010. Vai trò của các thiết chế chủ yếu như Quốc Hội, Chính phủ,
Thủ tướng, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Ngân hàng nhà nước….đều được
quy định rõ từ khâu hoạch định chủ trương đến các khâu cụ thể của quá trình quản lý
nợ. Đặc biệt, Luật đã quy định Bộ tài chính có vai trò trách nhiệm nòng cốt trong quá
trình quản lý nợ.Điều này đã khắc phục được những hạn chế của những năm trước là
vai trò và mối quan hệ của Chính phủ và các cơ quan chính phủ như Bộ Tài chính, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng nhà nước đều chưa rõ. Hơn nữa việc thành lập Cục
quản lý nợ và tài chính trực thuộc Bộ Tài chính là một bước tiến lớn về mặt thiết chế
quản lý, đưa Việt Nam tiến sát với các nước có khuôn khổ pháp lý và thể chế quản lý
vững mạnh trên thế giới.
b. Thực trạng về tuyên truyền và phổ biến pháp luật liên quan đến quản lý nợ công
Về công khai thông tin về tài chính, đây là một nguyên tắc căn bản hàng đầu và
phổ biến trên thế giới trong quản trị công nói chung, quản trị tài khoá và đặc biệt là
trong quản trị nợ công. Theo Hướng dẫn quản lý nợ công của IMF (2003) cũng như
Cẩm nang tính minh bạch tài khoá (2007).Tuy nhiên, thực tế công tác này chưa đạt
yêu cầu.Thứ nhất, xác định rõ vai trò và trách nhiệm tài khoá của các cơ quan chính
phủ vẫn còn nhiều tiêu chí chưa rõ ràng. Đây là yêu cầu thiết yếu để đảm bảo trách
nhiệm giải trình trong việc hoạch định và thực thi chính sách. Thứ hai, khu vực chính
trình nợ công trung hạn thì đang trong giới hạn an toàn.
Thứ ba, các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất cố định
và ưu đãi; Chẳng hạn như các dự án của WB hay ADB thường khoảng 20 - 30 năm,
thậm chí có dự án 40 năm; thời gian ngắn hạn từ 5 đến 10 năm; lãi suất 11 - 12%.
Thực tế khoảng 80% khoản vay của chúng ta là khoản vay ưu đãi nên áp lực nợ công
không lớn lắm và có thể nói là nằm trong tầm kiểm soát được.
Thứ tư, cơ cấu đồng tiền vay đa dạng; đặc biệt những năm gần đây tỷ giá đồng
Việt Nam và đồng đô la tương đối ổn định; Nhật Bản nới lỏng chính sách tiền tệ nên
đồng yên yếu đi, chúng ta sẽ có lợi rất nhiều trong chính sách tỷ giá, giảm thiểu rủi ro.
Thứ năm, xu hướng giảm tỷ trọng nước ngoài trong cơ cấu Chính phủ với tiêu
chí: tỷ trọng hàng năm là nợ trong nước tăng lên và nợ nước ngoài giảm đi.
Thứ sáu, hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng, linh hoạt: không chỉ vay
từ các tổ chức tài chính mà hiện nay vay rất nhiều từ các dịch vụ phái sinh và các văn
phòng tài chính khác.
Thứ bảy, thể chế chính sách dần được hoàn thiện, công tác quản lý nợ ngày
càng tốt hơn và tiếp cận được thông lệ quốc tế.
2.2.2 Một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lý nợ công ở Việt Nam
Thứ nhất, nhu cầu vốn của Việt Nam rất lớn nhưng khả năng ngân sách không
đủ do đoa bắt buộc chúng ta phải đi vay nên đã tạo sức ép rất lớn, thúc đẩy tăng nợ
công.
Thứ hai, thị trường trái phiếu trong nước cũng chưa phát triển, huy động vốn
trong nước còn hạn chế, tính thanh khoản thấp.
Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn ODA và các chính sách sử dụng vốn ODA chưa
được cao và chưa gắn với chính sách huy động vốn đối ứng.
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
18
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
Thứ tư, các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường chưa
được tính toán kỹ càng; rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vay lại và
phí bảo lãnh của Chính phủ.
CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ NỢ CÔNG
3.1 Giải pháp ứng phó của các nước phát triển và bài học cho Việt Nam
Thứ nhất, xây dựng chiến lược quản lý nợ công. Tại Hội nghị Thượng đỉnh
châu Âu (26/10/2011), các nước thành viên khu vực đồng euro đã đạt được đồng thuận
về kế hoạch chống khủng hoảng để đảm bảo cho sự tồn tại của khu vực. Kế hoạch bao
gồm 4 điểm chính: 1) xóa 50% nợ công của Hy Lạp; 2) tăng vốn cho các ngân hàng
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
19
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
châu Âu; 3) nâng khả năng can thiệp của Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) lên
thành 1000 tỷ euro thay vì 440 tỷ như hiện nay; 4) gia tăng các biện pháp giới hạn bội
chi ngân sách của các thành viên trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
Trước thực trạng khủng hoảng nợ công, EU và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã thiết
lập Quỹ chống khủng hoảng (tháng 5/2010) với số tiền lên tới 750 tỷ euro. Ngay lập
tức, Quỹ chống khủng hoảng đã trợ cấp cho Hy Lạp gói cứu trợ 110 tỷ euro và tiếp tục
gói cứu trợ thứ hai 85 tỷ euro (tháng 12/2010). Năm 2013, Quỹ sẽ bắt đầu hoạt động
với tên mới là Cơ chế phát triển bền vững của Liên minh châu Âu.
Thiết lập cơ chế “European Semester” (Học kỳ châu Âu) để liên kết phối hợp
chặt chẽ giữa các thành viên châu Âu về kinh tế để tránh tái diễn khủng hoảng nợ
tương tự. Mục tiêu của cơ chế là giám sát mạnh mẽ để kiểm soát kinh tế vĩ mô, kiểm
soát chi tiêu ngân sách, thâm hụt tài chính. Cùng với việc hỗ trợ về tài chính, EU thắt
chặt hơn các nguyên tắc về việc chi tiêu ngân sách, tăng cường các biện pháp trừng
phạt đối với những nước thành viên vi phạm nguyên tắc này; kiên quyết và chấm dứt
các gói kích thích kinh tế, cắt giảm chi tiêu công và tăng thuế nhằm giảm bớt thâm hụt
ngân sách; củng cố chính sách tài khóa. Xuất khẩu tiếp tục được coi là động lực quan
trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế EU.
Thứ hai, thành lập Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) (hay còn gọi là Quỹ
cứu trợ khẩn cấp tạm thời) và thành lập Quỹ hỗ trợ thường trực. Quỹ bình ổn tài chính
châu Âu và Quỹ hỗ trợ thường trực sẽ do Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quản
lý. Các Quỹ này được xây dựng nhằm giúp đỡ các thành viên gặp khó khăn. Việc giải
trình an sinh xã hội, an ninh, quốc phòng), đẩy mạnh tiết kiệm, tăng cường kiểm soát
thu chi, tích cực chống tham nhũng và trốn thuế, tăng một số sắc thuế và các nguồn thu
khác. Châu Âu thắt chặt chi tiêu sẽ giúp giảm bớt hàng nhập khẩu, giảm bớt gánh nặng
thâm hụt thương mại. Thắt chặt chi tiêu sẽ có lợi cho các quốc gia và duy trì được mức
tiêu thụ hàng trong nước sản xuất.
Thứ tư, củng cố và cải tổ hệ thống tài chính – ngân hàng. Thực tế, các ngân
hàng châu Âu đã bị khủng hoảng từ trước đó. Năm 2009, Ngân hàng Trung ương châu
Âu cho các ngân hàng vay 450 tỷ euro (hơn 540 tỷ USD) để vượt qua khủng hoảng.
Song thực tế, tình trạng đó không những không được cải thiện mà ngày càng thêm
nguy ngập. Hệ thống ngân hàng châu Âu gặp khó khăn là do: Một là, sự ra đời của
đồng euro (năm 1999) và khả năng đi vay rất rẻ nhờ xương sống của đồng tiền này là
nền kinh tế Đức, các ngân hàng ồ ạt bơm tín dụng và tạo lên bong bóng địa ốc lớn hơn
bong bóng địa ốc ở Mỹ (như miền Nam nước Anh và Hy Lạp); Hai là, một số quốc
gia châu Âu đem tiền từ nơi có lãi suất thấp đến đầu tư vào nơi có lãi suất cao hơn.
Nhờ vậy, đồng euro tràn vào các nước Đông Âu và Trung Âu đang chuyển đỏi và đang
trong cơn sốt tái thiết; Ba là, nhiều ngân hàng của các nước có quy mô trung bình,
thậm chí là kém như Hy Lạp cũng trút tiền vào các dự án ở Đông Âu và bị đọng vốn ở
đó; Bốn là, làn gió độc từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008. Hệ thống ngân
hàng châu Âu vốn có nhiều khuyết tật ngay bên trong nội tạng khó mà thoát khỏi
khủng hoảng;Năm là, yếu tố khách quan như tình trạng già hóa dân số, tỉ trọng người
già ngày càng cao.
Liên minh châu Âu có sự thống nhất về kinh tế mà không có sự thống nhất về
chính trị. Ngân hàng Trung ương châu Âu cũng trong tình trạng tương tự. Nghĩa là, có
thể bơm tiền cho các ngân hàng vay để mua trái phiếu chính phủ cho từng quốc gia
nhằm trợ giúp cho các mục chi tiêu công, nhưng lại không có thẩm quyền cần thiết để
ép các ngân hàng vì mọi quyết định phải có sự đồng ý của tất cả. Khác với Mỹ, nơi
doanh nghiệp chủ động tìm vốn trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp châu
Âu lệ thuộc vào hệ thống ngân hàng nhiều hơn. Vì vậy, nếu ngân hàng sụp đổ thì
nhiều doanh nghiệp khốn đốn và kinh tế châu Âu không chỉ bị suy trầm mà còn bị suy
thoái, tức là nặng hơn, sâu hơn và rộng hơn. Khủng hoảng nợ công xảy ra kh6ong chỉ
hàng chấm dứt tình trạng huy động vốn ngắn hạn. Biện pháp an toàn bảo đảm đó là đòi
hỏi các ngân hàng dành ra 9% (tháng 6/2012) giá trị tài sản để làm nguồn vốn dự
phòng (tăng gần gấp đôi so với tỷ lệ 5% hiện tại). Nhằm tránh việc giảm giá trị tổng tài
sản để dễ dàng đạt được tỉ lệ 9%, các nhà quản lý cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát
đối với các ngân hàng.
Ngân hàng Trung ương châu Âu là cơ quan có đầy đủ thẩm quyền và khả năng
để làm hạ nhiệt lãi suất tín dụng cấp cho những thành viên yếu kém nhất trong khu vực
đồng euro. ECB có thể đơn phương can thiệp hoặc phối hợp cùng với EFSF để bảo vệ
đồng euro một cách lâu dài. Các ngân hàng nên giữ lãi suất ở mức thấp để khuyến
khích tiêu thụ và đầu tư. Bên cạnh đó, môi trường kinh tế cần phải được cải thiện,
củng cố niềm tin của khu vực tư nhân và người tiêu dùng.
Thứ năm, tái cấu trúc nền kinh tế. Tính cấp thiết của tái cấu trúc nền kinh tế
được thể hiện thông qua các nhân tố sau: 1) Cuộc khủng hoảng nợ công cho thấy chiến
lược hướng ra thị trường quá mức có thể đưa tới những khó khăn nghiêm trọng khi thị
trường nước ngoài chao đảo. Do đó, trong thời gian tới trên thế giới sẽ diễn ra xu thế
cơ cấu lại nền kinh tế và thị trường theo hướng cân bằng hơn giữa thị trường trong
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
22
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
nước và nước ngoài, đặc biệt ở các nền kinh tế có dung lượng thị trường nội địa lớn; 2)
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại với nội dung chủ yếu là cách mạng
trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, có
đặc trưng nổi bật là sự thâm nhập nhanh của tri thức và công nghệ cao vào tất cả các
ngành, các lĩnh vực kinh tế, và quyết định xu hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới
đang tác động rất mạnh mẽ đến các nền kinh tế trên thế giới. Nền kinh tế được gọi
bằng những khái niệm khác nhau như nền kinh tế kỹ thuật số (digital economy), kinh
tế thông tin (information economy), kinh tế mạng (network economy); 3) Cơ sở cho tái
cấu trúc nền kinh tế dựa trên: i) mật độ kinh tế cao hơn thể hiện thông qua mức độ tập
trung của hoạt động kinh tế hay tổng sức mua trên một đơn vị diện tích bề mặt, ví dụ
như GDP trên một km2; ii) khoảng cách ngắn hơn để tiếp cận thị trường; iii) ít sự chia
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
23
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
Mục tiêu giảm chi ngân sách từ mức 53% GDP năm 2009 xuống 44% GDP vào năm
2015. Trước mắt, Hy Lạp sẽ tiết kệm 23 tỷ euro từ các chính sách cắt giảm chi tiêu
giai đoạn 2012 – 2015 và tiết kiệm 3 tỷ euro khác thông qua các biện pháp “sửa chữa”
tài chính áp dụng ngay trong năm 2011. Ngoài ra, Hy Lạp cũng sẽ bán tài sản quốc gia
trị giá 15 tỷ euro, đồng thời tư nhân hóa vài tập đoàn quốc doanh như công ty điện lực
công cộng (Public Power Company – PPC) và tập đoàn viễn thông OTE nhằm giảm
“núi nợ” khổng lồ. Mục tiêu của Hy Lạp là sẽ đạt được ít nhất 50 tỷ euro (khoảng
71,22 tỷ đôla) thông qua chương trình tư nhân hóa trong 4 năm (2010 – 2014) nhằm
cắt giảm nợ. Theo mục tiêu mới đây nhất, Hy Lạp sẽ phấn đấu đạt được 15 tỷ euro
(khoảng 21,36 tỷ đôla) cho tới năm 2013. Hy Lạp đã chỉ định nhóm các nhà tư vấn cho
15 dự án tư nhân hóa, trogn đó có dự án bán 34% cổ phần trong công ty cung cấp dịch
vụ cá cược OPAP, một trong số ít ỏi các công ty làm ăn có lãi. Việc tư nhân hóa một
phần hay toàn bộ khoảng 30 doanh nghiệp nhà nước, từ lĩnh vực vận tải (xe lửa, cảng
và sân bay) đến năng lượng với công ty điện lực quốc gia, đến lĩnh vực giải trí (xổ số,
cá cược) hay quản lý nước có thể mang lại thêm 15 tỷ euro cho Hy Lạp. Tuy nhiên,
việc bán phần bất động sản do nhà nước sở hữu, được xem là mang lại nhiều tiền nhất,
khoảng 35 tỷ euro. Yêu cầu của các chủ nợ (Ủy ban châu Âu, IMF và Ngân hàng
Trung ương châu Âu) đặt Hy Lạp dưới sự giám sát chặt chẽ nên chương trình tư nhân
hóa của Hy Lạp không phải chỉ có mình Nhà nước Hy Lạp quản lý. Một cơ quan quản
lý độc lập và chuyên nghiệp được thiết lập để triển khai giám sát chương trình tư nhân
hóa của Hy Lạp.
Hy Lạp giải quyết cuộc khủng hoảng nợ bằng biện pháp “tái cấu trúc kinh tế”
chứ không phải là “tái cơ cấu nợ” bởi vì “tái cơ cấu nợ” có thể phá hủy lòng tin của
các nhà đầu tư đối với Hy Lạp. Hy Lạp không nên tái cơ cấu nợ (tức là cho miễn trả lãi
trong một thời gian hoặc đẩy lùi thời điềm thanh toán nợ) vì giải pháp này không giải
quyết được những khó khăn kinh tế của Hy Lạp, trái lại sẽ gây thiệt hại cho khu vực
Eurozone. Tái cấu trúc nợ khổng lồ của Hy Lạp sẽ không giúp gì nước này bởi Chính
Ba là, tăng cường công tác giám sát và quản lý rủi ro về nợ công: trước hết là
nghiên cứu, xây dựng và triển khai phương án xử lý rủi ro. Trước đây nợ công chúng
ta huy động nhiều nhưng giờ đây cách tiếp cận chuyển hướng sang việc thay vì chỉ
huy động nhiều, mục tiêu là chúng ta phải giám sát và quản lý rủi ro. Chúng ta có
những bài học từ nợ xấu, cần phải xây dựng những phương án, khuôn khổ, thể chế để
chuyển đổi nợ thành viện trợ/đầu tư, mua bán nợ, hoán đổi nợ, phải chủ động trích lập,
bố trí nguồn dự phòng vì rủi ro rất lớn.
Bốn là, kiểm soát chặt chẽ việc cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ. Có nhiều dự
án, chẳng hạn trước đây như Vinashin do Chính phủ bảo lãnh, hiện nay một số dự án
về điện, xi măng, cơ sở hạ tầng, giao thông, giấy còn khó khăn trong lĩnh vực trả nợ.
Năm là, tăng cường phát triển thị trường trái phiếu trong nước: Phát triển thị
trường trái phiếu sơ cấp là ưu tiên hàng đầu; Phát triển thị trường thứ cấp nhằm tăng
cường tính thanh khoản và minh bạch của thị trường trái phiếu; Xây dựng đường cong
lãi suất trái phiếu Chính phủ.
Sáu là, chú trọng công tác quản lý nợ chính quyền địa phương. Hiện nay, nợ
chính quyền địa phương theo hai khuôn khổ: nợ công và phát hành trái phiếu chính
quyền địa phương, ngoài ra còn theo luật ngân sách. Vì thế, chúng ta phải hoàn thiện
cơ chế huy động vốn vay và trả nợ vốn vay chính quyền địa phương; Đa dạng hóa hình
thức huy động vốn đầu tư phát triển: phát hành trái phiếu chỉnh quyền địa phương,
BOT, BTO BT, PPP,
Bảy là, xây dựng, hoàn thiện mô hình cơ quan quản lý nợ công theo hướng hiện
đại hóa và từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế; Tăng cường công tác kiểm toán
nội bộ, giám sát rủi ro hoạt động, tự đánh giá công tác quản lý đối chiếu với các tiêu
chuẩn quốc tế; Đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nợ.
Nhóm 13 – Lớp 19A-TCNH
25
Tiểu luận môn Tài chính quốc tê
Tám là, tiếp tục từng bước tăng cường cập nhật và công khai minh bạch hoá
thông tin về nợ công thông qua việc xây dựng hệ thống thông tin theo dõi, giám sát và
đánh giá bền vững nợ công.