TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP HỒ CHÍ MÍNH
Khoa: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Học phần: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Chủ đề bài nghiên cứu:
DÒNG VỐN VÀ BỘ BA BẤT KHẢ THI
Ở TRUNG QUỐC
Danh sách nhóm số 6 lớp TCDN – CH22:
1) Võ Thị Thúy Diễm (Nhóm trưởng - SĐT: 0909 070 436)
2) Trần Thân Bích Hợp
3) Phan Thị Thanh Kiều
4) Trần Thị Trang
5) Trương Phú Trí
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
MỤC LỤC
TRONG BÀI BÁO NÀY , CHÚNG TÔI ƯỚC TÍNH THỊ TRƯỜNG VỐN MỞ CỦA TRUNG
QUỐC TRONG ĐO LƯỜNG THỰC TẾ,VÀ SO SÁNH NÓ VỚI ĐO LƯỜNG CHÍNH THỨC
(HỢP PHÁP). MẶC DÙ TRONG THẬP KỶ GẦN ĐÂY THỊ TRƯỜNG VỐN MỞ CỦA TRUNG
QUỐC VẪN ỔN ĐỊNH Ở ĐO LƯỜNG CHÍNH THỨC (HỢP PHÁP), NÓ ĐÃ TĂNG LÊN ĐÁNG
KỂ TRONG ĐO LƯỜNG THỰC TẾ. SỰ GIA TĂNG DÒNG VỐN LỚN VÀO ĐÃ BUỘC TRUNG
QUỐC PHẢI ĐỐI MẶT VỚI SỰ LỰA CHỌN GIÀNH ĐƯỢC ĐỘC LẬP TIỀN TỆ HAY ỔN
ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI . CHÚNG TÔI PHÁC THẢO SỐ LIỆU CHO ĐO LƯỜNG CÁC KHÍA
CẠNH BỘ BA BẤT KHẢ THI: ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ, TIỀN TỆ ĐỘC LẬP VÀ MỞ CỬA THỊ
TRƯỜNG VỐN , CÓ TÍNH VÔ HIỆU HÓA . CHUYÊN GIA CỦA TRUNG QUỐC ĐƯA VÀO
HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG MỞ VÀ DỰ TRỮ BẮT BUỘC LÀ CÔNG CỤ VÔ HIỆU HÓA ĐỂ
GIỮ LẠI MỘT SỐ MỨC ĐỘ TỰ CHỦ TIỀN TỆ , NHƯNG TỐN KÉM VÀ KHÔNG BỀN VỮNG.
CHÚNG TÔI CŨNG THỬ NGHIỆM TUYẾN TÍNH BỘ BA BẤT KHẢ THI, VÀ THẤY RẰNG
TỔNG TRỌNG SỐ CỦA BA TRILEMMA BIẾN THÊM LÊN ĐẾN MỘT HẰNG SỐ , CHO THẤY
TRUNG QUỐC ĐÁP ỨNG CÁC TRILEMMA. VÌ VẬY , CHÚNG TÔI ĐỀ NGHỊ LINH HOẠT TỶ
GIÁ VÀ KIỂM SOÁT VỐN THÍCH HỢP NÊN ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG TƯƠNG LAI, XEM
XÉT THÊM DÒNG VỐN NGÀY CÀNG TĂNG VÀ ÁP LỰC LẠM PHÁT TRONG NƯỚC.
1. GIỚI THIỆU: 1
04
Mối quan hệ tuyến tính giữa các chỉ
số trong bộ ba bất khả thi+Kết luận
Phan Thị Thanh Kiều
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
Tổng quan:
Trong bài báo này , chúng tôi ước tính thị trường vốn mở của Trung Quốc trong đo lường
thực tế,và so sánh nó với đo lường chính thức (hợp pháp). Mặc dù trong thập kỷ gần
đây thị trường vốn mở của Trung Quốc vẫn ổn định ở đo lường chính thức (hợp
pháp), nó đã tăng lên đáng kể trong đo lường thực tế. Sự gia tăng dòng vốn lớn vào
đã buộc Trung Quốc phải đối mặt với sự lựa chọn giành được độc lập tiền tệ hay ổn
định tỷ giá hối đoái . Chúng tôi phác thảo số liệu cho đo lường các khía cạnh Bộ Ba
bất khả thi: ổn định tỷ giá, tiền tệ độc lập và mở cửa thị trường vốn , có tính vô hiệu
hóa . Chuyên gia của Trung Quốc đưa vào hoạt động thị trường mở và dự trữ bắt
buộc là công cụ vô hiệu hóa để giữ lại một số mức độ tự chủ tiền tệ , nhưng tốn kém
và không bền vững. Chúng tôi cũng thử nghiệm tuyến tính Bộ ba bất khả thi, và thấy
rằng tổng trọng số của ba trilemma biến thêm lên đến một hằng số , cho thấy Trung
Quốc đáp ứng các Trilemma. Vì vậy , chúng tôi đề nghị linh hoạt tỷ giá và kiểm soát
vốn thích hợp nên được thực hiện trong tương lai, xem xét thêm dòng vốn ngày càng
tăng và áp lực lạm phát trong nước.
1. Giới thiệu:
Trong 30 năm qua, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các dòng vốn xuyên biên
giới đã trở thành nét đặc trưng nổi bật trong một nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa.
Trong khi đó, tuy nhiên, những dòng biến động khác không ổn định chưa từng có trong
những năm gần đây. Vốn quốc tế giảm đáng kể vào đầu năm 2008 của cuộc khủng hoảng
tài chính, nhưng hồi phục nhanh chóng trong vòng chưa đầy một năm. Nền kinh tế thị
trường mới nổi đã chứng kiến nhiều biến động của dòng vốn hơn các nước phát triển.
Là một trong những nền kinh tế thị trường mới nổi lớn nhất, Trung Quốc đang trải
qua phát triển dòng vốn, dẫn đến một tình trạng lựa chọn giữa sự độc lập tiền tệ và
ổn định tỷ giá hối đoái. Một mặt, chính quyền Trung Quốc duy trì ổn định tỷ giá hối đoái
nhiên , sự can thiệp vô hiệu hóa , có thể tốn kém , vì nó mang nguy cơ tăng lãi suất và
tăng cường dòng vốn đầu tư hơn nữa, do đó gây ra thiệt hại tài chính cho Ngân hàng
Trung ương. " Bên cạnh đó, vô hiệu hóa có thể khuyến khích rủi ro đạo đức vĩ mô và vi
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 2
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
mô, biến dạng lĩnh vực tài chính hàng đầu . Vì vậy, vô hiệu hóa sẽ không bền vững trong
dài hạn . ( Aizenman và Glick , 2008 ; Taguchi , 2011).
Trong bài báo này , chúng tôi sẽ phân tích tác động của dòng vốn đầu tư quốc tế về
sự lựa chọn giữa hai mục tiêu chính sách quan trọng : tỷ giá hối đoái ổn định và tiền tệ
độc lập ,có tính đến các dòng vốn khác nhau ảnh hưởng đến thị trường vốn mở Trung
Quốc mặc dù các quy định vốn chính phủ áp dụng nghiêm ngặt. Chúng tôi áp dụng
phương pháp " biểu đồ kim cương " ( Aizenman và cộng sự, 2008) để xem xét tác động
của dòng vốn trên các cấu hình của Bộ ba bất khả thi của Trung Quốc. Tuy nhiên , thay
vì sử dụng chỉ số của Aizenman IR/GDP để đo dự trữ quốc tế (IR) tích trữ như một cách
để giảm thiểu Trilemma , chúng tôi sử dụng một chỉ số mới, đánh giá vô hiệu hóa, để tiết
lộ thêm những nỗ lực hoạch định chính sách Trung Quốc để hòa giải bất khả thi. Chúng
tôi thấy rằng để giữ lại một số mức độ tự chủ tiền tệ , mức độ vô hiệu hóa liên tục tăng .
Tuy nhiên , tính bền vững của hiệu ứng vô hiệu hoá là vấn đề trong tương lai, và việc hòa
giải Bộ ba bất khả thi cũng trong câu hỏi này . Vì vậy , chúng tôi đề nghị tỷ giá linh hoạt
hơn và kiểm soát vốn thích hợp nên được áp dụng trong dài hạn.
Phần còn lại của bài báo được tổ chức như sau: Phần II đánh giá mức độ của dòng
vốn quốc tế của Trung Quốc và các biện pháp mở cửa thị trường vốn. Trong phần III,
chúng tôi đo Bộ ba bất khả thi của Trung Quốc bằng cách xây dựng chỉ số tính được độc
lập tiền tệ (MI), Tỷ giá ổn định (ERS) và thị trường vốn mở (CMO). Sau đó, chúng tôi
kiểm tra các mối quan hệ tuyến tính của ba mục tiêu chính sách trong Bộ ba bất khả thi
để tìm hiểu xem ba chỉ số có "ràng buộc" không. Mục IV kết luận bài báo.
2. Dòng vốn quốc tế Trung quốc
2.1. Tổng quan về dòng vốn quốc tế ở Trung Quốc:
Sau năm 2002, khi suy thoái kinh tế theo chu kỳ đánh vào Mỹ trong lúc Trung quốc
vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, dòng chảy vốn vào Trung quốc khá mạnh mẽ. Theo
trường chứng khoánTrung quốc.Tuy nhiên, sự phát triển của thị trưởng danh mục đầu tư
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 4
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
của Trung quốc đã luôn được tăng trưởng dẩn dần, đặc biệt một phần vì cuộc khủng
hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 khi các nước nhanh chóng mở cửa thị trường vốn
của họ để ngăn chặn tác động tiêu cực của đầu cơ tiền tễ quốc tế. Bên cạnh, Việc gia tăng
của những dòng vốn đầu tư khác thể hiện kết quả từ việc giảm kiểm soát vốn và việc
đánh giá cao ngày càng tăng của đồng nhân dân tệ.
Khi so sánh với FDI và đầu tư gián tiếp, loại đầu tư khác , trong đó bao gồm cho
vay ngân hàng và tín dụng thương mại, là một trong những bất ổn nhất. Đó là vì một
lượng lớn tiền nóng đã lọt vào Trung quốc thong qua kênh này, tìm kiếm lợi nhuận ngắn
hạn từ việc chênh lệch lãi suất giữa đồng nhân dân tệ và đồng USD, và mong đợi một sự
đánh giá cao của đồng nhân dân tệ. Những dòng tiền nóng đầu cơ có thể di chuyển rất
nhanh chóng vào ra thị trưởng Trung quốc, có khả năng dẫn đến thị trường mất ổn định.
Các dòng vốn đầu tư khác tăng đột ngột vào khoảng những năm 2002-2007, nhưng cũng
đột ngột giảm xuống thậm chí là một con số tiêu cực vào năm 2008. Tuy nhiên, vào năm
2009, con số tăng lại vào khoảng mức ¾ của năm 2007. Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián
tiếp là nhạy cảm nhất đối với những cú sốc bên ngoài. Nó bắt đầu giảm ngay sau khi cuôc
khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn xảy ra vào năm 2007. Một trong những dòng vốn nhạy
cảm nhất là dòng vốn FDI không giảm cho đến năm 2009, có lẻ vì dòng vốn FDI thường
là dài hạn không thể đảo ngược và khó di chuyển.
2.2. Đo lường độ mở thị trường vốn:
Làm thế nào để đo lưởng việc mở tài khoản từ lâu đã là một thử thách cho cho các
nhà nghiên cứu. Cho đến giờ, nền văn học hiện đại đã cung cấp hai phương pháp đo
lường việc mở cửa thị trường vốn: Đo lường hợp pháp và đo lường thực tế.
Đo lường hợp pháp:
Đo lường hợp pháp là việc dựa trên báo cáo thường niên của FDI về thỏa thuận trao
đổi và hạn chế trao đổi. Vệc đo lường này cố gắng xây dựng “cổ phần” để phản ánh phần
nhỏ của nă, trong mẫu trong đó tài khoản vốn của một quốc gia đã được mở ( thep Kose
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 5
Hình 2 mô tả việc mở thị trường vốn trung quốc bằng việc sử dụng đo lường hợp
pháp( bên phía phải) và đo lường thực tế( bên trái). Trong các phương pháp đo lường
thực tế, chỉ số dao động trong khoàng 0 đến 1. Giá trị cao hơn của chỉ số này cho thấy
mức độ cao của việc mở cửa thị trường vốn của Trung quốc. Ở bên phải, tay trái hình 2,
chúng tôi cho thấy kết quả của việc đo lường hợp pháp khi sử dụng chỉ số kaopen. Chỉ số
này có thể là trên hoặc dưới số 0. Đối với các nước có chỉ số Kaopen dưới số 0, việc mở
cửa thị trường vốn của họ tương đối thấp. Tương tự với việc đo lường thực tế, giá trị cao
hơn của chỉ số Kaopen chỉ ra độ cao của việc mở cửa thị trường vốn và ngược lại. Việc
mở cửa thị trường vốn vẫn không thay đổi từ 1993 đến 2009 trong đo lường hợp pháp mà
chỉ ra mức độ tương đối thấp của việc mở cửa thị trường vốn Trung quốc. Tuy nhiên,
bằng cách sử dụng đo lường thực tế, chúng tôi thấy mức độ ngày càng tăng của thị trường
vốn Trung quốc, và xu hướng này tăng sau năm 2003.
Việc đo lường hợp pháp không phản ánh sự thay đổi của hôi nhập thị trường vôn
của Trung quốc trong những năm gần đây. Vì giấy này có ý định phân tích việc mở cửa
thị trường vốn Trung quốc theo thời gian mà không cần so sánh với các nước khác, chúng
tôi áp dụng đo lường thực tế, cụ thể, tổng số cổ phiếu của tổng tài sản và nợ phải trả như
một tỷ lệ so với GDP nước ngoài.
3. Bằng chứng thực nghiệm của bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc:
3.1 Xây dựng đo lường bộ ba bất khả thi
Chính sách tiền tệ độc lập
Theo nguyên tắc, lãi suất và tỉ lệ lạm phát thường được lựa chọn là những biến dẫn
xuất cho chính sách tiền tệ độc lập. Tuy nhiên, cách dùng của tỉ lệ lạm phát có thể gây
hiểu lầm bởi vì sự tính toán CPI hoặc là PPI khác nhau từ quốc gia này so với quốc gia
khác và điều đó chúng không thể so sánh chéo giữa các quốc gia khác nhau. Sự khác biệt
trong lãi suất ngắn hạn trong các quốc gia khác nhau là những biến tốt hơn để phản ánh
chính sách tiền tệ độc lập. Bài nghiên cứu này chọn một phương pháp được dùng bởi
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 7
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
Aizenman (2009) để đo lường chỉ số của chính sách tiền tệ độc lập. Nó được định nghĩa
như sau:
Bảng 3 diễn tả tình trạng của chỉ số bộ ba bất khả thi của Trung Quốc trong suốt giai
đoạn khảo sát. Có một vài đặc điểm nổi bật của ba chỉ số. Đầu tiên, chỉ số mức độ mở thị
trường vốn của Trung Quốc tăng nhanh chóng từ 1996-2009. Thứ hai, mặc dù tỉ giá ổn
định tăng từ 0.5 đến khoảng 0.9 suốt giai đoạn 1996-2008, nó vẫn duy trì mức độ cao
xung quanh 0.9 mãi đến năm 2004. The pluge (Sự nới lỏng) trong 2005 gây ra bởi cải
cách chế độ ngoại tệ của Trung Quốc (China’s exchange regime reform), trong đó đã phá
vỡ sự cố định của Trung Quốc với đồng đô la, và chuyển sang một hệ thống tỷ giá hối
đoái linh hoạt hơn (which broke China’s fixed peg to the dollar, and shifted to a more
flexible exchange rate system). Đồng CNY được cố định trong một rổ tiền tệ, thay vì chỉ
là USD. Kể từ đó, Trung Quốc trải qua sự ổn định dần của đồng CNY (experienced a
steady but gradual appreciation of the Renminbi) mãi đến 8/2008, khi mà khủng hoảng
tài chính toàn cầu chạm đỉnh. Chính phủ Trung Quốc lựa chọn tái can thiệp (re-intervene)
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 9
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
trong thị trường ngoại hối để bảo tồn giá trị của CNY và cũng là để ngăn tác động âm
trong thị trường nội địa thông qua kênh ngoại hối. Cuối cùng, chỉ số tiền tệ độc lập không
take an obvious (diễn biến) theo một hướng; chỉ số dao động suốt giai đoạn (observed)
quan sát. Hình 3 chỉ ra rằng ngoại trừ 1997,2003 và năm 2005, chỉ báo ở những năm khác
đều cơ bản dưới 0.6. Ngoại trừ 2006, có vẻ như là chính sách tiền tệ độc lập của Trung
Quốc xấu đi 1 cách nhanh chóng (deteriorated dramatically). Nguyên nhân chính gây ra
điều này là tình trạng quá nóng của nển kinh tế trong nước. Đề mà ngăn cản đảo chiều
(inverted) lãi suất, ngân hàng trung ương can thiệp (intervened) bởi tăng lãi suất. Cùng
lúc đó, những quốc gia khác cũng đối mặt với lạm phát toàn cầu, và tăng lãi suất của họ,
bao gồm cả Mỹ. Chính điều này đã dẫn đến liên kết (linkage) của lãi suất giữa Mỹ và
Trung Quốc, và điều này gây ra sự suy yếu của chỉ số chính sách tiền tệ độc lập của
Trung Quốc.
Để đánh giá tốt hơn tình trạng của những chỉ số trên trong suốt giai đoạn, Aizenman
(2009) xây dựng “biểu đồ kim cương”, ở đó chúng đưa 3 Trilemma dimensions đo lường
của dự trữ quốc tế hoarding (IR/GDP), một chỉ số diễn tả xu hướng giảm nhẹ (mitigating)
Bộ ba bất khả thi bởi việc cộng dồn dự trữ quốc tế. Guta và Abhijit (2010) ứng dụng
thay đổi rõ ràng Hình 4 ( c ) cho thấy một sự gia tăng đáng kể của mở cửa thị trường vốn
trong khoảng thời gian này, cùng với tốc độ tăng trưởng gần như giống hệt nhau trong
mức độ khử. Cấp cao của vốn thị trường mở của Trung Quốc buộc hoạch định chính sách
để điều chỉnh lại mục tiêu chính sách trong bộ ba bất khả thi . Vì vậy, để một số mức độ ,
hoạch định chính sách đã đánh đổi sự ổn định tỷ giá hối đoái để trả lời việc tăng mở cửa
thị trường vốn. Năm 2005, Trung Quốc đã kết thúc chế độ tỷ giá cố định và chuyển dần
sang quản lý một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi linh hoạt hơn. Dưới hệ thống mới , tuy
nhiên , đồng Nhân dân tệ dường như chỉ có một hướng. Sự mong đợi xung quanh la Úc
đánh giá cao thúc đẩy một số lượng ngày càng tăng của dòng vốn vào Trung Quốc thông
qua nhiều cách khác nhau. Để tránh các vấn đề liên quan đến biến động tỷ giá ngoài kiểm
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 11
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
soát, Chính phủ tiếp tục can thiệp vào thị trường ngoại hối . Các ngân hàng trung ương
buộc phải mở rộng dự trữ ngoại hối do sự can thiệp vào tỷ giá hối đoái. Sự tích lũy dự trữ
ngoại hối lại tăng kỳ vọng lạm phát. Để giảm thiểu lạm phát, ngân hàng trung ương phải
tăng lãi suất, trong đó có một tác động thụ động về sự độc lập tiền tệ . Bằng chứng là một
hình 4 ( c ) , độc lập tiền tệ xấu đi chủ yếu trong năm 2006. Ngoài ra, việc tăng lãi suất sẽ
gây ra dòng vốn lớn hơn và nhu cầu lượng giá đồng Nhân dân tệ . Để giảm bớt những
phản ứng phụ, các ngân hàng trung ương tăng cường khử.
Hình 4 (d) chỉ ra rằng mức độ mở cửa thị trường vốn đạt đỉnh điểm vào năm 2009.
Cũng tại thời gian này, chính phủ Trung Quốc tiếp tục ổn định tỷ giá hối đoái. Vì nhiều
nền kinh tế tiên tiến đưa ra chính sách mở rộng tiền tệ, đặc biệt là Mỹ, đã làm suy yếu đô
la và tăng sức mạnh đồng Nhân dân tệ, Trung Quốc bắt đầu lại một lần nữa bị dòng vốn
lớn hơn do cả hai khác biệt tỷ lệ lãi suất và kỳ vọng tăng giá của nhân dân tệ. Để tránh
biến động quá mức của các giá trị của đồng Nhân dân tệ, chính phủ Trung Quốc tiếp tục
can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách tích lũy dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, áp lực
lạm phát ngày càng trở nên nghiêm trọng, nó kêu gọi chính sách tiền tệ hiệu quả đểkiểm
soát tình hình. Trong các trường hợp, lãi suất huy động dường như là thuận tiện nhất và
hiệu quả, nhưng nó sẽ mang đến các dòng vốn nhiều hơn bằng cách mở rộng truyền bá.
Do đó, hoạch định chính sách thích hơn là tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thay vì gia tăng lãi
mục tiêu chính sách trong Bộ ba bất khả thi có nghĩa là tăng một biến, mở cửa thị trường
vốn cao hơn, nên dẫn đến sự độc lập tiền tệ thấp hơn, hay sự ổn định tỷ giá hối đoái thấp
hơn, hoặc kết hợp cả hai. Do đó, chúng tôi kiểm tra tính hợp lệ của các hình thức đơn
giản nhất của Bộ ba bất khả thi thông qua một sự cân bằng tuyến tính. Cụ thể, chúng tôi
kiểm tra xem tổng trọng số của ba biến chính sách bằng hằng số 1. Điều này sẽ cho phép
chúng tôi kiểm tra sự tồn tại của bộ ba bất khả thi, bằng cách kiểm tra sự phù hợp của hồi
quy tuyến tính. Công thức hồi quy tuyến tính được định nghĩa như sau:
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 13
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
(4)
Nếu sự phù hợp cho mô hình hồi quy là cao, thì các đặc điểm kỹ thuật tuyến tính là
tốt, đủ để giải thích sự cân bằng giữa ba mục tiêu chính sách. Tuy nhiên, sự phù hợp thấp
hơn sẽ cho thấy không tồn tại bộ ba bất khả thi, hoặc mối quan hệ tuyến tính là nhạy cảm.
Chúng tôi sử dụng các dữ liệu giữa các năm 1996 và 2009 bởi vì số liệu chính thức đầu
tiên của bình quân gia quyền lãi suất qua đêm liên ngân hàng ở Trung Quốc, được sử
dụng để xác định chỉ số MI, có thể chỉ được thu thập từ năm 1996. Kết quả, kiểm tra
bằng Stata, có thể được tìm thấy trong bảng 3.
Sự phù hợp cho mô hình hồi quy nói trên là 94,78%, và sự phù hợp điều chỉnh là
93,35%. Như là bằng chứng từ kết quả trên, sự phù hợp là đủ mạnh để giải thích sự cân
bằng giữa ba mục tiêu chính sách ở Trung Quốc. Ngoài ra, Bảng 3 cũng chỉ ra rằng mức
ý nghĩa các hệ số ước tính của ERS và EMO là đủ cao để bác bỏ giả thuyết. Mặc dù
chúng tôi không bác bỏ giả thuyết cho hệ số MI vì kết quả sẽ không có được ý nghĩa ở
mức 0,1, chúng ta thấy rằng p - value của nó là rất gần với 10%.
Tuy nhiên, các hệ số ước tính trong mô hình hồi quy nói trên chỉ có thể cung cấp
trọng lượng ước tính cho ba mục tiêu chính sách, và chúng không thể cung cấp đầy đủ
thông tin về mức độ của mục tiêu chính sách Trung Quốc đã thực sự đạt được. Do đó, để
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 14
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
điều tra bao nhiêu mục tiêu chính sách mà Trung Quốc muốn đạt được, chúng tôi sử dụng
sản phẩm của các hệ số ước tính và giá trị thực tế cho các biến như:
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
4. Kết luận
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi phân tích kích thước của dòng vốn và mức độ
mở cửa thị trường vốn ở Trung Quốc bằng cách sử dụng đo lường de jure và de facto.
Mở cửa thị trường vốn của Trung Quốc cải thiện đáng kể do cả hai xúc tiến và áp lực
chính quyền Trung Quốc từ dòng vốn đầu tư nước ngoài lớn. Các dòng vốn vào lần lượt
có ảnh hưởng chủ yếu đến hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc, dẫn đến
gia tăng khó khăn để giải quyết Bộ ba bất khả thi (Trilemma). Suy thoái kinh tế toàn cầu
dẫn đến chính sách tiền tệ thích ứng trong tương lai ở Mỹ, trong đó sẽ tạo ra dòng vốn
đầu cơ hơn là chảy vào thị trường mới nổi, bao gồm cả Trung Quốc. Trong khi đó, chỉ số
CPI tăng buộc các quan chức Trung Quốc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thì hiệu
quả hơn là để đối đầu với áp lực lạm phát nghiêm trọng. Hiện nay, chính quyền Trung
Quốc giảm bớt áp lực lạm phát nhập khẩu bằng cách sử dụng khử trùng, nhưng các công
cụ tiệt trùng được chứng minh là tốn kém và không bền vững. Dưới trường hợp này,
chúng ta thấy rằng để duy trì sự độc lập tiền tệ, tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn nên được
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 17
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
thực hiện trong tương lai. Tuy nhiên, nó không có nghĩa là một cách đánh giá cao
Nhân dân tệ, nhưng làm suy yếu các động cơ đầu cơ của các dòng vốn ngắn hạn bằng
cách mở rộng phạm vi của biến động tỷ giá.
Tất nhiên, tồn tại kiểm soát vốn và các quy định hiện hành, bao gồm cả quy định "vĩ
mô thận trọng" là hợp lý. Kiểm soát vốn có thể ít nhất là có hiệu quả như là ngưỡng đầu
tiên để vào bên trong dòng vốn, và ở một mức độ cách ly Trung Quốc từ các cuộc tấn
công bên ngoài không ổn định. Quy định vĩ mô, bảo đảm an toàn có thể là một cách để
giảm bớt các vấn đề trong việc giải quyết bộ ba bất khả thi trong một thời gian dài. Nhiều
nghiên cứu về vấn đề này là cần thiết trong tương lai.
PHỤ LỤC
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 18
Đề tài: Dòng vốn và bộ ba bất khả thi ở Trung Quốc
[Nhóm 06-Lớp TCDN Ngày] Page 19