Đề tài: Hợp tác tiền tệ ở Đông Á từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997/1998
I. Hợp tác tiền tệ ở Đông Á từ sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997/1998
Dự định về hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á (bao gồm các nước ASEAN và Nhật
Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) đã được thai nghén từ khá lâu. Đến tháng 12/1997, các nhà
lãnh đạo ASEAN và các đối tác từ Đông Á là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tổ
chức Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần
thứ hai tại Malaysia thì hợp tác tài chính - tiền tệ Đông Á chính thức ra đời. Đặc biệt,
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 1997-1998 đã thúc đẩy tiến trình hợp tác tiền
tệ ở Đông Á và Hội nghị cấp cao ASEAN + 3 (ASEAN + Nhật Bản + Trung Quốc + Hàn
Quốc). Năm 1999 hội nghị này đã thông qua Tuyên bố chung về hợp tác Đông Á. Cơ chế
hợp tác ASEAN + 3 đã được hình thành.
Kể từ đó đến nay, theo tiến trình Đông Á sẽ trải qua nhiều hình thức hợp tác tài
chính - tiền tệ từ thấp đến cao cùng với sự thay đổi các điều kiện bên trong và bên ngoài
khu vực. Trong ngắn hạn, mục tiêu của các quốc gia là bình ổn tỷ giá hối đoái và các hợp
đồng hoán đổi (swap) tiền tệ để cung cấp khả năng thanh khoản quốc tế trong trường hợp
cần thiết. Với mục đích này, hợp tác tiền tệ Đông Á được thực hiện chủ yếu thông qua
các cơ chế đối thoại chính sách và giám sát kinh tế vĩ mô và các cơ chế hoán đổi tiền tệ
được xác lập trong khuôn khổ ASEAN + 3. Trong trung hạn, các quốc gia sẽ tính đến
việc thiết lập cơ chế chung cho hợp tác tài chính tiền tệ khu vực nhằm ổn định tỷ giá hối
đoái chắc chắn hơn. Tiếp theo, các quốc gia sẽ xây dựng Quỹ trái phiếu Châu Á và thị
trường trái phiếu khu vực. Cuối cùng, một Liên minh tiền tệ Châu Á là đề xuất quan
trọng để các quốc gia Châu Á đi đến đích hợp tác tiền tệ của mình.
1. Các cơ chế đối thoại chính sách và giám sát kinh tế vĩ mô
1.1 Nhóm khuôn khổ Manila (Manila Framework Group - MFG)
Nhóm khuôn khổ MFG được thành lập vào tháng 11/1997. Thành viên của MFG
bao gồm các thứ trưởng tài chính và phó thống đốc Ngân hàng trung ương (NHTW) của
14 nước trong và ngoài khu vực (ASEAN+3) và đại diện của ADB, IMF, BIS và WB.
MFG đã thành lập một cơ chế giám sát khu vực bổ sung cho cơ chế giám sát toàn cầu của
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Cơ chế này đã tạo lập một hệ thống giám sát khu vực tập trug
tại các cuộc đối thoại giữa các nước thành viên. Mục đích của MFG là phát triển một
khuôn khổ hợp tác tài chính khu vực nhằm khôi phục và tăng cường ổn định tài chính
1.3 Quy trình đối thoại chính sách và kiểm điểm kinh tế ASEAN +3
(ASEAN+3 Economic Review and Policy Dialogue Process)
Để thúc đẩy hơn nữa hợp tác tài chính – tiền tệ khu vực, trong cuộc họp tháng
11/1999 các Bộ trưởng tài chính đã khẳng định sự cần thiết “tăng cường khả năng tự tài
trợ và các cơ chế tài trợ ở Đông Á thông qua khuôn khổ ASEAN + 3”. Tiếp theo đó, vào
2
tháng 5/2002, các nước ASEAN + 3 đá thống nhất Quy trình kiểm điểm kinh tế và đối
thoại chính sách ASEAN+3 (ERPD) thông qua việc thúc đẩy đối thoại và phối kết hợp
chính sách về những vấn đề tài chính – tiền tệ trên cơ sở những lợi ích chung. Quy trình
này tập trung vào những vấn đề như quản lý rủi ro kinh tế vĩ mô, quản lý công ty, theo
dõi sự di chuyển dòng vốn trong khu vực, củng cố hệ thống tài chính – ngân hàng, cải
cách hệ thống tài chính quốc tế và thúc đẩy việc thiết lập một hệ thống tự tài trợ Đông Á.
Với quy trình này, ERPD chưa thực sự có được hiệu quả như mong muốn. Hiện tại
không có ban thư ký nhằm trợ giúp cho hoạt động của quy trình cũng như chưa có thể
chế (ngoài ADB) cung cấp đầy đủ dữ liệu cho quy trình.
2. Các cơ chế hoán đổi tiền tệ
2.1 Mở rộng Thỏa thuận hoán đổi ASEAN (ASA)
Hoạt động hoán đổi tiền tệ giữa các nước ASEAN được thực hiện thông qua Quỹ
hoán đổi tiền tệ ASEAN và hệ thống hoán đổi đa phương giữa các nền kinh tế Đông Á
trong khuôn khổ Thỏa thuận đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM). Thỏa thuận
hoán đổi ASEAN (ASA) được thành lập vào tháng 8/1997 do 5 thành viên sáng lập
ASEAN là Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore, Thái Lan với mục đích cung cấp các
phương tiện tài chính hoán đổi ngắn và trung hạn cho các nước thiếu hụt các phương tiện
thanh khoản ngắn hạn hoặc gặp khó khăn trong cán cân thanh toán. Tổng giá trị đóng góp
ban đầu của ASA là 100 triệu USD. Đến năm 1999 có thêm các nước thành viên mới
tham gia Quỹ hoán đổi tiền tệ là Việt Nam, Là, Campuchia và Myanmar. Quỹ này cho
phép các thành viên vay mượn bằng đồng USD, yên Nhật hay Euro. Nghĩa vụ đóng góp
được xác định cho từng nước và mức tối đa mà mỗi nước có thể vay sẽ không vượt quá
hai lần mức đóng góp của mỗi nước. Tuy nhiên nguồn vốn của ASA còn quá nhỏ so với
nhu cầu, khoảng 2,5 tỷ USD vào năm 2005. Vì vậy ASA không thể cung cấp một lượng
khi một sự thiếu hụt xảy ra.
2.3 Đề xuất thiết lập Thỏa thuận tài trợ khu vực và xây dựng hệ thống cảnh báo
sớm ở Đông Á
Theo như “Thỏa thuận tài trợ khu vực” khuyến cáo mỗi một NHTW cần trích ra
một khoản tiền từ dự trữ ngoại hối của họ để góp vào một quỹ chung cùng với 12 NHTW
khác trên cơ sơ tỷ lệ thuận (Pro rata basis) và được xác định một cách công bằng hợp lý.
Quỹ đó được sử dụng với hai mục đích: nâng cao vai trò của các đồng tiền nội địa và
giảm vai trò của các đồng tiền nước ngoài trong khu vực; cho phép mỗi nước vay được
nhiều hơn rất nhiều so với khoản tiền mà họ đóng góp. Đề xuất này của CMI đã giúp cho
các nước trong khu vực được lợi hơn và sử dụng hiệu quả hơn lượng dự trữ ngoại tệ, vốn
đang tăng lên của mình. Việc xây dựng một quỹ dự trữ ngoại tệ chung sẽ giúp các nước
4
giảm thiểu được chi phí cơ hội trong việc duy trì một lượng dự trữ ngoại tệ lớn.
Ngu ồn: World Development Indicators (tr ực tuy ến) c ủa Ngân hàng Th ế gi ới
Bảng 1: Tổng dự trữ chính thức của các nước ASEAN + 3
1997 2000 2003 2006 2008
PRC 146,4 171,8 416,2 1080,8 1946
HongKong, China 92,8 107,6 118,4 133,2 182,5
Indonesia 17,5 29,4 36,3 42,6 51,6
Japan 226,7 361,6 673,6 895,3 1030,8
Korea 20,5 96,3 155,5 239,1 201,5
Malaysia 21,5 28,7 44,3 82,9 92,2
Philippines 8,7 15,1 17,1 23,0 37,5
Singapore 71,4 80,2 96,2 136,3 174,2
Thailand 26,9 32,7 42,2 67,0 111,0
Nguồn: World Bank, World Development Indicators (Online through the Global
Development Network)
Song song với đó, một nhóm nghiên cứu được thành lập nhằm xây dựng một
Phòng theo dõi hoặc giám sát với nhiệm vụ thực hiện thành công những đề xuất của Sáng
kiến Chiang Mai (CMI). Phòng này có trách nhiệm giám sát: khả năng thanh khoản cũng
USD (tỷ) (%)
Trung Quốc 38,40 Trung Quốc (không bao gồm
Hồng Kong) 34,2
32,00 28,50 0,5
Hồng Kong 4,20 3,50 2,5
Nhật Bản 38,40 32,00 0,5
Hàn Quốc 19,20 16,00 1,00
ASEAN+3 96,00 80,00
Indonesia 4,77 3,97 2,5
Thái Lan 4,77 3,97 2,5
Malaysia 4,77 3,97 2,5
Singapore 4,77 3,97 2,5
Philipines 3,68 3,07 2,5
Việt Nam 1,00 0,83 5,0
6
Campuchia 0,12 0,10 5,0
Myanmar 0,06 0,05 5,0
Brunei 0,03 0,02 5,0
Lào 0,03 0,02 5,0
ASEAN 24,00 20,00
Tổng 120,00 100,00
Nguồn:
http://ec.europa.eu/economy_finance/events/2010/20100204/2_1_sussangkarn_paper_
en.pdf
Mỗi nước thành viên có một số nhân vay mượn (hay còn gọi là số nhân mua – purchasing
multiplier) được xác định theo thỏa thuận, hạn ngạch vay mượn của mỗi nước được xác
định dựa trên mức đóng góp và số nhân vay mượn.
Thỏa thuận sửa đổi bổ sung các điều khoản phù hợp với chức năng ngăn ngừa khủng
hoảng. Các Bộ trưởng Tài chính cũng hoan nghênh việc tham gia của các Thống đốc
NHTW vào cơ chế ra quyết định cao nhất của CMIM.
và Steinherr (1989) cho rằng vấn đề không hẳn ở những biến động ngắn hạn mà chính
là những dao động trong trung và dài hạn có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực lớn
đến thương mại quốc tế. Do đó, hợp tác tiền tệ từ ngắn hạn đến trung và dài hạn sẽ
loại trừ được những tác động bất lợi đó.
- Khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 1997
Hợp tác tiền tệ khu vực giúp tăng cường khả năng chống lại các cuộc tấn công tiền
tệ và phá giá cạnh tranh. Hợp tác tiền tệ Đông Á cho phép khu vực tự bảo vệ chống lại
các tấn công tiền tệ trong tương lai và ngăn chặn khủng hoảng tài chính như đã diễn
ra vào những năm 1997-1998. Hậu quả tiêu cực mà cuộc khủng hoảng gây ra là quá
rõ ràng, toàn diện và hết sức nặng nề đối với mỗi quốc gia bị khủng hoảng, cũng như
khu vực và thế giới. Hậu quả dễ nhận thấy nhất, phổ biến nhất trong toàn khu vực và
tại các trung tâm khủng hoảng là sự mất ổn định của đồng tiền và thị trường tiền tệ
trong mỗi nước, là sự giảm sút các nguồn vốn nước ngoài vào các nước Châu Á (và
ngược lại nó cũng gây ảnh hưởng cho những nước đầu tư vào nó), là sự giảm sút cả
đầu tư trong nước do lãi suất cao và yếu tố lòng tin Tất cả những yếu tố này đã làm
8
giảm sút tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này và toàn khu vực nói riêng, toàn
bộ thế giới nói chung đi đôi với gia tăng tình trạng thất nghiệp và lạm phát cao; Cũng
như làm tăng nợ nứơc ngoài bằng ngoại tệ do sự mất giá của đồng bản tệ và do phải
thu hút thêm các khoản tín dụng quốc tế để vượt qua khủng hoảng.
Mặc dù Đông Á đã có những nỗ lực rất lớn, song những thoả thuận hoán đổi
hoặc mua lại đã được thực hiện cũng chỉ có tác dụng nhất định. Với cơ chế hiện
hành, vấn đề rủi ro đạo đức có thể tạo ra những thông lệ xấu là các nước trong khu
vực với những điều kiện lỏng lẻo hơn sẽ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô thiếu
thận trọng. Do đó, tăng cường hợp tác tiền tệ với sự minh bạch và kỷ luật kinh tế sẽ
là cách tốt hơn để chống lại tấn công tiền tệ. Hơn nữa, ổn định về tỷ giá cũng giúp
các quốc gia tránh được tác động lây lan của khủng hoảng tiền tệ trong khu vực.
Hình thành liên minh tiền tệ và theo đó là hệ thống tỷ giá cố định giữa các quốc gia
thành viên sẽ xoá bỏ mối đe doạ phá giá cạnh tranh giữa các nước trong khu vực.
- Sự bất ổn định của nền kinh tế toàn cầu và dòng vốn quốc tế
vệ hệ thống tỷ giá cố định trong khu vực, qua đó, tạo lập lòng tin về hệ thống tỷ giá
hiện hành. Hơn nữa, cố định tỷ giá với các thành viên khác đòi hỏi lạm phát phải được
duy trì ở mức độ thấp. Vì vậy, một quốc gia với chính sách tiền tệ yếu kém có thể kiềm
chế được lạm phát và ổn định giá cả bằng việc tham gia liên minh tiền tệ với quốc gia
duy trì lạm phát thấp. Hợp tác tiền tệ với thể chế một đồng tiền cũng sẽ giúp người
tiêu dùng và doanh nghiệp được hưởng lợi do minh bạch về giá cả. Khi tất cả các hàng
hoá đều được niêm yết dưới cùng một đơn vị tiền tệ thì việc so sánh trở nên dễ dàng
hơn, các nhà sản xuất khó có thể duy trì được mức giá chênh lệch quá mức giữa các
thị trường. Điều đó sẽ làm cạnh tranh trong khu vực, tạo sức ép giảm giá và đem lại
lợi ích cho người tiêu dùng.
III. Những trở ngại của hợp tác tiền tệ Đông Á
Với mối quan hệ kinh tế ngày một gia tăng giữa các nước của ASEAN+3 và sự tiến
triển của Sáng kiến Chiang Mai qua sự thành lập quỹ hỗ trợ tài chính, hầu hết các nhà
10
bình luận đều lạc quan về triển vọng hợp tác giữa ASEAN và các nước Nhật, Trung
Quốc và Hàn Quốc. Song, có rất nhiều trở ngại trong tiến trình hội nhập để ASEAN+3
có thể trở thành một liên hiệp kinh tế với mức độ hội nhập cao theo như mô hình của
Liên hiệp Châu Âu.
1. Trình độ phát triển
Tính đa dạng của các hệ thống chính trị - xã hội cũng như sự phát triển kinh tế và tài
chính khác nhau giữa các quốc gia Đông Á hạn chế khả năng hội nhập khu vực.
Tính đa dạng và không đồng nhất về kinh tế, chính trị và xã hội giữa các nền kinh tế
Đông Á chẳng hạn như thu nhập bình quân đầu người, các giai đoạn phát triển thị
trường tài chính và kinh tế, quy mô và phạm vi kiểm soát về vốn, năng lực con người
và thể chế, các điều kiện xã hội… có thể tạo nên một trở ngại nghiêm trọng đối với phối
hợp chính sách khu vực. Trình độ phát triển chênh lệch với mức lợi tức đầu người của
Singapore cao gấp 150 lần Myanmar, so với mức chênh lệch giữa nước có lợi tức đầu
người cao nhất (Luxemburg) và thấp nhất (Portugal) của Liên hiệp Âu Châu chỉ có 4
lần (1).
Sự khác biệt và đa dạng về hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội sẽ dẫn tới tốc độ tự do
thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng chưa phát triển. Những bất cập này đã hạn
chế việc đa dang hoá hoạt động của hệ thống ngân hàng, các định chế tài chính. Cùng
với những bất ổn vĩ mô, các định chế tài chính – ngân hàng các nước này thường phải
đối mặt với các rủi ro về quản lý kỳ hạn, rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái, trong khi sử
dụng các công cụ phòng chống rủi ro còn rất sơ khai.
- Dịch vụ tài chính ở một số nước vẫn thiên về các sản phẩm truyền thống, chất lượng
dịch vụ còn hạn chế. Cho tới nay, đối với hệ thống ngân hàng Indonexia, Malaixia,
Thailan, Việt nam,… thì hoạt động huy động và cho vay vẫn là mảng hoạt động chính.
Gần đây hoạt động ngân hàng điện tử phát triển với tốc độ nhanh , song vẫn ở mức độ
sơ khai, chất lượng chưa cao. Hệ thống thanh toán đã có những bước tiến đáng kể, với
việc kết nối, liên kết các hệ thống thanh toán quốc tế và khu vực, nhưng cũng còn
nhiều bất cập. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại như kinh doanh theo uỷ thác của khách
hàng đối với các sản phẩm tài chính, tiền tệ; môi giới tiền tệ; quản lý đầu tư; quản lý
quỹ; dịch vụ tín thác; tư vấn đầu tư, tài chính; quản lý danh mục đầu tư, bán chéo,…
mới chỉ phát triển ở Singapore và ở một mức độ nhất định ở các thị trường Thái lan,
Philippin, còn các nước Vietnam, Lào, Campuchia …còn rất hạn chế.
- Về tiềm lực tài chính và năng lực quản trị ngân hàng. Mặc dù hệ thống các định chế
12
tài chính, ngân hàng của các nước Châu Á nói chung, ASEAN nói riêng đã được lành
mạnh hoá đáng kể, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản có điều chỉnh theo mức độ rủi ro tăng
dần từ 8% đến 13%, dự phòng rủi ro được cải thiện…(3), song do tiềm lực tài chính
còn thấp, nên khả năng chống đỡ rủi ro của từng ngân hàng còn hạn chế.
- Vấn đề giám sát hoạt động của khu vực tài chính còn yếu, một mặt, do hệ quả của hạ
tầng thông tin, chế độ kế toán, hạch toán, cơ chế phân loại tài sản, nợ… chưa đảm bảo
việc phản ánh chính xác tình trạng tài chính của các định chế tài chính, hệ thống thông
tin chưa kịp thời, đầy đủ. Mặt khác, sự phát triển nhanh của khu vực tài chính ngân
hàng, tính chất phức tạp của các dịch vụ tài chính, nói chung thường đi trước so với
vấn đề phát triển tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, các công cụ, phương tiện thanh tra,
giám sát. Đây là tình trạng điển hình của các nước mới nổi, đang phát triển trong khu
vực ASEAN, với khu vực tài chính – ngân hàng đang phát triển nhanh chóng. Thực tiễn
hiện chiến lược hướng về xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do tính tương
đồng về cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế thấp tạo nên tính cạnh tranh gay gắt giữa
các nước trong khu vực, không chỉ ở những nước có cùng mặt hàng xuất khẩu, mà còn
giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
và khối các nước ASEAN.
Sự mâu thuẫn và tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc là chướng ngại quan trọng
khác, Joel Rathus trên tờ Jakarta Globe tháng 3/2010 phân tích. Joel Rathus cho rằng
sự đối kháng giữa hai quốc gia này là nguyên nhân chính của sự thất bại trong các nỗ
lực hợp tác đa phương và định chế hoá ASEAN+3 trước đây. Mặc dù Nhật và Trung
Quốc đã đạt được sự thoả thuận trong việc thành lập quỹ hỗ trợ ASEAN+3 do áp lực
của cuộc khủng hoảng tài chánh, nhưng "sự đối nghịch này khó có thể chấm dứt và sẽ
tiếp tục cản trở sự phát huy của Sáng kiến Chiang Mai" (7)
5. Sự tác động của các nhân tố bên ngoài
Sự tác động của các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng nhiều đến xu hướng hợp tác nội
khối của các nước Đông Á. Tiến trình hợp tác đa phương trong khu vực Đông Á ngày
càng hiện thực nhưng chỉ là những bước khởi đầu và diễn biến chậm do những
nguyên nhân nội tại của từng nước, khu vực, cũng như những tác động từ bên ngoài.
Các nước Đông Á vẫn lệ thuộc rất lớn vào thị trường Mỹ và EU. Tỷ trọng mậu dịch nội
vùng mặc dù có tăng lên đáng kể nhưng vẫn thấp hơn so với trao đổi thương mại
ngoại vùng. Đông Á cũng được xem là một thị trường lớn hàng đầu của Mỹ với gần 40
14
thoả thuận thương mại song phương với Nhật Bản và 20 hiệp định thương mại với
ASEAN. Mỹ cũng đang thúc giục lôi kéo các nước Đông Á tăng cường hợp tác APEC và
liên kết châu Á – Thái Bình Dương hơn là liên kết vùng Đông Á. Do vậy, tính chất mở,
hướng ngoại của Đông Á vẫn nổi trội hơn tính hướng nội của khu vực này.
IV. Cơ hội và thách thức với Việt Nam
1. CƠ HỘI
Thứ nhất, hợp tác tiền tệ Đông Á sẽ giúp thúc đẩy thương mại trong khu vực. Lý do cơ
bản của việc hình thành thoả thuận thương mại khu vực như AFTA hay APEC là dỡ bỏ
các rào cản tăng cường thương mại trong nội bộ và thịnh vượng cho các nước thành
Khi tất cả các hàng hoá đều được niêm yết dưới cùng một đơn vị tiền tệ thì việc so
sánh trở nên dễ dàng hơn, các nhà sản xuất khó có thể duy trì được mức giá chênh
lệch quá mức giữa các thị trường. Điều đó sẽ làm cạnh tranh trong khu vực, tạo sức ép
giảm giá và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Việt.
Thứ tư, sự tương đồng về chính sách giữa các nền kinh tế của Việt Nam với các nước
ASEAN+3 cũng tạo thuận lợi cho quá trình hợp tác tiền tệ. Việt Nam và các nước
ASEAN+3 đều sử dụng chế độ neo tỷ giá vào đồng USD ở các mức độ khác nhau.
Nghiên cứu của Frankel và Wei (1994) hay Volz (2006) cho thấy, với ngoại lệ của Nhật
Bản, đồng USD vẫn có trọng số lớn trong các đồng tiền khu vực. Rhee (2004) chỉ ra
rằng lạm phát đã giảm xuống mức thấp trong nhiều nền kinh tế ASEAN+3 có thu nhập
trung bình. Mức lạm phát thấp và sự ổn định giá cả trong các nền kinh tế ASEAN+3
cũng tạo thuận lợi nhất định cho việc phối hợp chính sách tiền tệ và tỷ giá.
2. THÁCH THỨC
Trong khi hợp tác tiền tệ khu vực hứa hẹn những cơ hội tiềm tàng, vẫn còn những khó
khăn, thách thức đối với sự tham gia sâu rộng hơn của Việt Nam vào quá trình hợp tác
tiền tệ khu vực do những khác biệt về trình độ phát triển và cơ cấu kinh tế, sự khác biệt
trong các mục tiêu chính sách cũng như sự kém phát triển của hệ thống tài chính.
Thứ nhất, có sự tương đồng nhất định về cơ cấu kinh tế, nhưng có sự khác biệt trong
chính sách kinh tế vĩ mô. Năm 2014, nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam có những dấu hiệu
tích cực, song chuyển biến còn chậm, chưa ổn định, vững chắc. Tăng trưởng tiềm năng
của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, tăng trưởng kinh tế trong hai năm trở lại đây
chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi nhu cầu trong nước phục hồi chậm, sức mua còn
yếu, lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại…
16
Bảng trên cho thấy có mức tương quan nhất định về tăng trưởng GDP giữa Việt Nam và
Trung Quốc, và ở mức độ ít hơn với một số nước ASEAN như Malaysia hay Thái Lan.
Một mặt, sự tương quan về tăng trưởng phản ánh mối liên kết thương mại và đầu tư giữa
Việt Nam và các nước khu vực. Mặt khác, nó phản ánh thực tế là Việt Nam cũng như các
nền kinh tế ASEAN đều dựa vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, do đó đều chịu ảnh
hưởng từ chu kỳ kinh tế trong các nước công nghiệp phát triển.
Thứ năm, đối với Việt Nam, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển nhanh chóng,
phát huy vai trò là kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào thành
tựu chung trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do mới ở trong giai
đoạn đầu của quá trình phát triển cùng với việc phát triển trong điều kiện chưa có một
nền tảng bền vững, hệ thống tài chính của Việt Nam đã tích tụ và bộc lộ những rủi ro, yếu
kém như chất lượng tài sản giảm, nợ xấu tăng, thanh khoản kém. Đặc biệt, sau khủng
hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2007-2008 cũng như khi tăng trưởng kinh tế suy giảm,
những rủi ro, yếu kém này đã bộc lộ rõ hơn. Điều này cho thấy sự yếu kém của hệ thống
tài chính-ngân hàng là một trở ngại đối với việc hội nhập tài chính và tiền tệ khu vực của
Việt Nam.
V. Các vấn đề chính sách đặt ra đối với Việt Nam
- Việt Nam cần chuẩn bị cả về kinh tế và thể chế để tham gia sâu rộng hơn vào quá
trình hợp tác tiền tệ trong ASEAN +3
- VN cần tăng cường tham gia các cơ chế trao đổi thông tin và đối thoại chính sách
khu vực
- Tăng cường hệ thống thông tin kinh tế cả về tính minh bạch, độ tin cậy và tính cập
nhập. Đồng thời nâng cao năng lực phân tích và dự báo kinh tế.
- Tham gia cơ chế hoán đổi tiền tệ khu vực trong khuôn khổ CMIM sẽ giúp ổn định
kinh tế và đối phó tốt hơn với những bất ổn trong nền thế giới cũng như trong
nước
18