Câu 1: các loại sản phẩm phái sinh ngoại hối của NHTM: tại các ngân hàng hiện nay đã có
rất nhiều các sản phẩm phái sinh ngoại hối để cung cấp đáp ứng các nhu cầu của khách hàng:
+ hợp đồng kỳ hạn: đây là một thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng với nhau để mua
bán một số lượng tiền nhất định với một tỷ giá xác định gọi là tỷ giá kỳ hạn vào một ngày
nào đó trong tương lai. Mọi điều khoản của hợp đồng giao dịch được định ra ở hiên tại nhưng
việc thực hiện các điều khoản đó được xảy ra ở tương lai. Giao dịch chủ yếu trên thị trường
OTC, khối lượng giao dich thường rất lớn và chẵn.+hợp đồng tương lai: là một thỏa thuận
mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo một tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu
lực và chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai đực xác định bởi sở
giao dịch. Tuy nhiên khác với hợp đồng kỳ hạn hợp đồng giao sau chỉ sẵn sàng cung cấp một
vài ngoại tệ mà thôi.+ hợp đồng quyền chọn: là một hợp đồng giữa bên mua và bên bán
quyền, trong đó mua quyền có quyền nhưng ko có nghĩa vụ thực hiện quyền của mình. Có hai
loại quyền chọn đó là quyền chọn mua: bên mua có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua một
lượng ngoại tệ xác định với một tỷ giá xác định trong một khoản thòi gian thỏa thuận trước.
quyền chọn bán:bên mua quyền có quyền nhưng không có nghiac vụ bán một lượng ngoại tệ
xác định vơí một tỷ giá xác định trong một khoản thòi gian thỏa thuận trước.người mua quyền
phải trả cho người bán quyền một lượng tiền tệ nhất định gọi là giá quyền chọn+ hợp đồng
hoán đối: là hợp đồng mua bán ngoại tệ trong đó 2 bên đồng ý hoán đổi cho nhau một khối
lương ngoại tệ nhất định, sau một thời hạn lại đổi ngược lại theo tỷ giá đã được xác định. Hợp
đồng này mua vào và bán ra một loại ngoại tệ được ký kết đồng thời . số lượng mua vào và
bán ra đối với đồng tiền đó là như nhau với cả hai vế của hợp đồng. liên hệ thực tế: giai đoạn
1998-2008 với sự thông thoáng trong cơ chế chính sách thị trường ngoại hối có nhiều khởi
sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn. Tại Việt Nam, phái sinh tiền tệ là
công cụ phái sinh xuất hiện sớm nhất, chủ yếu ở các ngân hàng (Vietcombank, Techcombank,
Eximbank, HSBC, Citibank…) nhưng số
lượng khách hàng còn ít với khối lượng giao dịch khá nhỏ so với nhu cầu có thật của
thị trường về phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất. Nghiệp vụ kỳ hạn mà các NHTM thường
xuyên thực hiện nhất là mua bán ngoại tệ kỳ hạn. Ngoại thương Việt Nam khiến nhu cầu bảo
hiểm rủi ro ngoại hối của các doanh nghiệp cũng như ngân hàng tăng cao. Đây là tiền đề
giúp hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ phát huy hiệu quả và được chú trọng sử dụng. Tuy nhiên, trải
1
cho vay nước ngoài.Nhờ có uy tín ngân hàng, bảo lãnh được sử dụng như công cụ tiếp cận tới
các nguồn vốn.Do vậy bảo lãnh giúp thu hút một lượng lớn vốn nước ngoài thường có thời
hạn dài và lãi xuất tương đối thấp. Chính sách bảo lãnh của ngân hàng như: ưu tiên bảo lãnh
vay vốn và các bảo lãnh khác làm ngành được ưu đãi phát triển về cả chiều rộng và chiều
sâu.bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển qua việc
ưu đãi về tỷ lệ phí bảo lãnh bảo đảm cho họ có thể vay được nguồn vốn với lãi xuất thấp. Từ
đó bảo đảm cho các doanh nghiệp này có khả năng đứng vững trên thị trường. chính vì điều
đó mà với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay thì nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
đang ngày càng được phát triển nhanh chóng
Hình thức bảo lãnh NH nào phổ biến hiện nay: Theo Điều 5 của Quy chế bảo lãnh ngân
hàng, hiện nay có các loại bảo lãnh dưới đây:
(1). Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của Tổ chức tín dụng với Bên nhận bảo lãnh về việc sẽ trả
nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng
hạn nợ vay đối với Bên nhận bảo lãnh.
(2). Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của Tổ chức tín dụng với Bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ
thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn.
(3). Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của của Tổ chức tín dụng với Bên mời thầu để bảo đảm
nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp, khách hàng phải nộp phạt do vi
phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc không nộp đầy đủ tiền phạt cho Bên mời thầu thì
Tổ chức tín dụng sẽ thực hiện thay.
(4). Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của Tổ chức tín dụng với Bên nhận bảo lãnh,
bảo đảm việc thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết
với Bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho
Bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Tổ chức tín dụng sẽ
thực hiện thay. Cùng một số các loại hình bảo lãnh khác như : BL bảo đảm chất lượng sản
phẩm,bảo lãnh hoàn trả tiền ững trước, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh
Kết quả hoạt động bảo lãnh của các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam cho
thấy, nghiệp vụ này đã có sự phát triển nhanh trong thời gian qua. Doanh số và dư Nợ bảo
lãnh của các ngân hàng thương mại Nhà nước liên tục tăng trưởng qua các năm. Từ năm 1997
4
giảm nhẹ thiệt hại cho ngân hàng khi gặp các rủi ro đối với các khoản cho vay. Nó tạo cơ sở
pháp lý giúp cho ngân hàng có khả năng thu hồi được nợ vay của khách khi họ không có khả
năng trả nợ.
Khi ngân hàng phải áp dụng các biện pháp xứ lý các tài sản đảm bảo của khách để thu nợ có
nghĩa là khách hàng đã có những khó khăn nhất định về tài chinh, làm ăn thua lỗ vv . Mặt
khác, không phải tài sản nào cũng có thể đem ra thanh lý trên thị trường một cách dễ dàng để
thu nợ, đặc biệt đó là tài sản cầm cố thế chấp của nhà nước thì việc phát mại tài sản càng đặt
ra khó khăn hơn thực hiện quyền truy đòi trong cho vay gián tiếp.—bán các khoản cho
vay: ngân hàng có quyền bán hay chuyển nhượng các khoản cho vay quá hạn khó thu đòi cho
các công ty mua bán nợ để thu hồi được một phần nợ quá hạn của mình phá sản doanh
nghiệp:. Ngân hàng áp dụng biện pháp này trong trường các biện pháp nêu trên không áp
dụng được vì khi thực hiện biện pháp này ngân hàng phải nộp một khoản phí để mở thủ tục
phá sản. và thời gian giải quyết rất lâu. Đây là biện pháp không được sử dụng nhiều với các
ngân hàng.
làm đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản là biện pháp cuối cùng để ngân
hàng thanh lí nợ: trong các biện pháp thanh lý nợ thì đây là biện pháp cuối cùng được ngân
hàng áp dụng. áp dụng cho các khoản nợ không có tài sản đảm bảo or tài sản đảm bảo không
hợp lệ nguy cơ mất các khoản vay cao. Khi khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ
với ngân hàng là do khách hàng gặp khó khăn về tài chính, gặp các vấn đề trong kinh doanh
không thể trả nợ cho ngân hàng trừ các trường hơp cố tình của khách hàng. Khi đó Ngân hàng
luôn ưu tiên các biện pháp như xử lý ts đảm bảo or bán khoản nợ thay vì đưa đơn phá sản.
làm đơn yêu cầu tòa mở thủ tục tuyên bố phá sản với doanh nghiệp thì khi đó phải mất phí
cho nhà nước và khoản phí này rất cao. Chưa kể việc không chỉ có một mình ngân hàng là
chủ nợ của doanh nghiệp đó, theo đúng trình tư trong luật phá sản thì ngân hàng không thể
chắc chắn được rằng tài sản mình thu hồi lại được hay không. đồng thời để hoàn tất thủ tục
phá sản rất phức tạp và mất nhiều thời gian chính vì điều đó mà ngân hàng luôn chọn giải
pháp làm đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản là biện pháp cuối cùng trong thanh lý nợ của
NH
5
6
sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; thủ tục cho vay cũng cần
phải tiếp tục nghiên cứu cải tiến.
Tín dụng bị suy giảm và tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng, cơ cấu tín dụng không phù hợp sẽ
là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí là suy thoái hoặc
khủng hoảng. Trong thời gian qua các ngân hàng do áp lực cạnh tranh và tạo lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng mà các ngân hàng TM khi cho vay chỉ chú trọng đến tài sản thế chấp mà
không phân tích hiệu quả của phương án và hiệu quả của phương án kinh doanh không hiệu
quả vẫn được vay điều này đã làm phát sinh nợ quá hạn. trong thời gian gần đây NHNN đã áp
dụng việc giảm lãi suất cho vay nhưng mức tăng trưởng tín dụng tại các NHTM nhìn chung
kông tăng cao đồng thời bên canh đó thì rủi ro tín dụng tại các NHTM lại có xu hướng tăng
do tỷ lệ xấu tại các ngân hàng tăng, vì vậy mà các ngân hàng cần chú trọng trong quy trình tín
dụng cho vay để có thể đảm bảo được các yêu cầu về tín dụng, hạn chế được các rủi ro tín
dụng xảy ra. Giám sát chặt chẽ khách hàng trogn thời gian sử dụng vốn vay để giảm thiểu nợ
xấu xảy ra.
Chất lượng TD của các NHTM chủ yếu được đánh giá thông qua tỉ lệ nợ xấu cao hay thấp,
ảnh hưởng trực tiếp đến KQKD của NH.THông lệ quốc tế cho phép tỉ lệ này duy trì ở mức từ
5% trở lại,với các NH lớn trên thế giới tỉ lệ này khoảng 3%
+Số liệu báo cáo của các ngân hàng cũng cho thấy, đến cuối tháng 7/2014, tổng nợ xấu nội
bảng là 162.200 tỷ đồng, chiếm 4,11% tổng dư nợ, trong khi cuối năm 2013 là 3,61%. Thống
đốc lý giải nợ xấu của hệ thống ngân hàng có xu hướng tăng trong các tháng đầu năm 2014
do tình hình kinh tế vĩ mô chưa có nhiều cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp còn khó khăn. Bản thân các NH cũng áp dụng chuẩn mực mới về phân loại nợ chặt
chẽ hơn để phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng và thực trạng nợ xấu. Tính từ đầu
năm, tháng 7 có tốc độ tăng nợ xấu thấp nhất (tăng 0,79% so với tháng trước) cho thấy chất
lượng tín dụng đang có chiều hướng cải thiện”,nợ xấu đã được kiềm chế và tiếp tục được xử
lý. Liên quan đến hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
(VAMC), Thống đốc cho hay, đến cuối tháng 8/2014, công ty này đã mua được 3.281 khoản
nợ, với tổng dư nợ gốc hơn 56 ngàn tỷ đồng nợ xấu, giá mua hơn 46 ngàn tỷ đồng. Nhìn
chung vấn đề rủi ro tín dụng vẫn là vấn đề đang phải nói đến và cần giải quyết.
các khó khăn và hạn chế sau: + lợi ích của BTT là không cần dùng thương phiếu để tài trợ và
8
giải quyết mọi tranh chấp thương mại mà chỉ cần có hợp đồng và các hóa đơn TM đã đc đóng
dấu quyền sở hữu. trong đk VN mới chỉ có luật các công cụ chuyển nhượng mà chưa có các
văn bản luật hướng dẫn thực hiện thi hành nên việc đưa hợp đồng BTT vẫn còn gặp nhiều hạn
chế.+ sản phẩm BTT hienj nay còn chưa đa dạng. các NH hầu như chỉ thực hienj BTT truy
đòi và số nhiều chỉ thưc hienj BTT trong nước.+ tốc độ BTT của các NHTM còn chưa nhanh.
Trong khi các NH nc ngoài thực hienj các công việc như thẩm định khách hàng xtes duyệt hồ
sơ rất nhanh chóng.+ mức phí về BTT mà các NHTM đưa ra chưa hấp dẫn, chủ tịch hiệp hội
BTT quốc tế (FCI) đã khẳng định chi phí dịch vụ này ở VN còn khá cao cao hơn so với thế
giới.+ BTT tại việt nam còn gặp rất nhiều các rủi ro tỏng quá trình thực hienj mà biện pháp
khắc phục thì chưa hiệu quả.+ việc thực hiện BTt chưa có sự hạch toán độc lập, một số NH
chưa có bộ phân thực hiên BTT riêng. Các NHTM cần khắc phục các hạn chế trên để dịch vụ
BTT được phát triển tốt hơn mạnh mẽ hơn
Câu 7: sự khác biệt giữa cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động:
Tiêu thức Hoạt động CTTC Hoạt động cho thuê vận hành
Hủy ngang
hợp đồng
Khách hàng Không được quyền hủy
ngang hợp đồng
KH đục quyền hủy ngang hợp đồng
Rủi ro và thiệt
hại liên quan
đến tài sản
Do bên đi thuê gánh chịu, chuyển giao
cho bên đi thuê
bên đi thuê k chịu rủi ro thiệt hại nếu k
phải lỗi do mình gây ra, k có sự
chuyển giao cho bên đi thuê
Quyền sở hữu
trị của TS thuê ban đầu. do vậy để thu
hồi vốn đầu tư và có lãi thì người cho
thuê bắt buộc phải cho thuê nhiều bên
qua nhiều hợp đồng.
Tuy có nhiều sự khác biệt như vậy nhưng trên thực tế vẫn tồn tại những trường hợp mập mờ
không có ranh giới rõ ràng giữa CTTC và cho thuê vận hành
9
thách thức đối với sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở VN: +hoạt động cho thuê
tài chính phát triển chưa lâu vì vậy mà với loại hình dịch vụ này còn có rất nhiều thách thức
để phát triển: trng tiềm thức người quản lý doanh nghiệp tai VN kênh huy động vốn hiệu nhất
bao giờ cũng là đi vay ngân hàng. Đây là một nghiệp vụ còn mới ngay cả với người cho thuê
và người đi thuê. Đối tượng phục vụ chủ yếu cho thuê tài chính chủ yếu là các doanh nghiệp
tư nhân Cty TNHH và người thuê vẫn coi đây là phương thức cuối cùng trong việc lựa chọn
nguồn tài trợ kinh doanh. Vì vậy thách thức đối với các công ty tài chính đó là sự quảng bá
sau rông về loại hình dịch vụ này tới tát cả các khách hàng, làm sao để họ thấy được lợi ích
mà loại hình dịch vụ này mang lại để tin tưởng và sử dụng phổ biến. chỉ có như vậy mới có
thể phát triển mạnh mẽ loại hình này trên thị trường tài chính VN.+về phía các công ty cho
thuê tài chính mạng lưới hoạt động của các tổ chức TC làm về lĩnh vực này mới chỉ đặt tại
một vài trung tâm kinh tế lớn chưa trải rộng rãi ra cả nước, vì vậy mà đòi hỏi sự phát triển
mạnh mẽ về mạng lưới hoạt động trê địa bàn cả nc, để loại hình dịch vụ này trở nên phổ biến
và phát triển mạnh mẽ hơn.+ cho thuê tài chính ở VN chỉ mới thực hiện đc với động sản mà
với BĐS thì chưa thực hiện đc. Nguyên nhân cũng do thị trường bất động sản của chúng ta
phát triển thất thường chưa có quy luật, đông thời khả năng thu hồi vốn của loại hình dịch vụ
này chưa cao. Cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ này để đáp ứng tất cả các nhu cầu của
khách hàng một cách toàn diện nhất. + các hành lang pháp lý cần được hoàn thiện để đảm bảo
lợi ích của bên cho thuê đảm bảo khả năng thu hồi vốn cao đối với các tổ chức cho thuê. Với
các thách thức lớn trong quá trình phát triể loại hình dịch vụ này thì đòi hỏi các tổ chức cung
cấp dịch vụ này cần nhìn thấy được các tiềm năng phát triển, đồng thời hoàn thiện loại hình
dịch vụ của mình để phát triển hơn, đem lại thu nhập cao hơn
Câu 8: nhận xét về thực tế quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM Việt nam hiện nay:
Một vài ngân hàng có được mức thanh khoản cao thì lợi nhuận lợi bị âm, hoạt động kinh
doanh đạt hiểu quả không cao. Tuy nhiên thì trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại
các NHTM trong năm 2012 đã đạt được một số các thành tựu như: Một số NHTM đã chủ
động ban hành cơ chế, chính sách, qui trình quản trị rủi ro thanh khoản. Các NHTM đã bước
đầu đầu tư công nghệ hỗ trợ QTRR thanh khoản để đánh giá tình hình thanh khoản của NH
tại các thời điểm khác nhau. Rủi ro thanh khoản xảy ra có thể dẫ tới bờ vực phá sản đối với
các ngân hàng chính vì điều đó mà các NHTM cần chú trọng trong công tác quản trị rủi ro
11
thanh khoản, thường xuyên giám sát và đo lường để tránh gặp phải rủi ro thanh khoản của
toàn hệ thống, đảm bảo HĐ kinh doanh của ngân hàng luôn được lưu thông và phát triển
Câu 9: Bình luận câu nói “Việc làm đầu tiên của Quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM
Việt Nam là giải quyết vấn đề nợ xấu” : Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và
thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục
tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp
phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng
doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong
ngắn hạn và dài hạn của NHTM. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng bao gồm 5 bước: Nhận
dạng rủi ro tín dụng, Phân tích rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro,
tài trợ rủi ro.
việc làm đầu tiên của quản trị rủi ro tín dụng không phải giải quyết nợ xấu. rủi ro tín dụng là
khả năng xảy ra biến cố khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, không hoàn
trả gốc và lãi cho các khoản tín dụng của ngân hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra nguy cơ mất vốn
lớn và tác động nghiêm trọng đến năng lực thanh khoản của NHTM. Để quản lý và kiểm soát
rủi ro tín dụng hay nói để quản trị được rủi ro tín dụng thì việc làm đầu tiên và nhất thiết thực
hiện đó là nhận dạng rủi ro tín dụng nhằm ước lượng rủi ro tín dụng trong hoạt động tài trợ
của mình chứ không phải là giải quyết vấn đề nợ xấu. Hoạt động giám sát, kiểm soát hđ rủi ro
tín dụng đực thực hiện trước trong và sau khi ra quyết định tín dụng nhằm hạn chế tối đa rủi
ro tín dụng bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan. Như vậy trức khi ra quyết định tín dụng tài
trợ, NHTM phải ước lượng rủi ro tín dụng cho khoản tín dụng đó và thực hiện giám sát quá
trình hoàn trả tín dụng. Dấu hiệu rủi ro tín dụng biểu hiện khách hàng không thực hiện giám
là nền tảng để duy trì hoạt động, bởi thế nó là phần cơ bản trong quản trị doanh nghiệp: Trên
thực tế, rủi ro ngân hàng khá đa dạng, ngoài 3 loại rủi ro chính là rủi ro tín dụng, rủi ro thị
trường và rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động cũng bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro tuân thủ,
rủi ro hệ thống, rủi ro công nghệ thông tin, rủi ro về tài sản, rủi ro về con người…Tại Việt
Nam, một trong những hệ thống quản trị rủi ro được một số ngân hàng áp dụng thành công và
13
được các chuyên gia quốc tế khuyến nghị áp dụng rộng rãi là mô hình 3 tuyến phòng thủ và
quản trị rủi ro toàn hàng. 3 tuyến phòng thủ được xây dựng bao gồm: Tuyến phòng thủ thứ
nhất là các khối kinh doanh, bán hàng, các chuyên viên khách hàng, chi nhánh, các đơn vị vận
hành tại hội sở, Nhiệm vụ chính của các đơn vị này là xác định, đánh giá, ngăn ngừa, báo
cáo và theo dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh (cho vay) và các quy trình vận
hành khác; bảo vệ lợi ích của đơn vị thông qua việc tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính hiệu
quả của từng đơn vị.Tuyến phòng thủ thứ 2 chính là Khối quản trị rủi ro và Khối tuân thủ,
quản trị rủi ro hoạt động và pháp chế. Nhiệm vụ của tuyến này là rất nhiều, nhưng quan trọng
hơn cả là độc lập đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối) tính hiệu quả của hệ thống ở
tuyến phòng thủ thứ nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc thiết lập khẩu vị rủi ro/chính
sách cho vay, xây dựng quy trình/hướng dẫn tín dụng và cho vay, theo dõi, cảnh báo sớm,
quản trị danh mục…, giám sát các chương trình kiểm soát nội bộ, tuân thủ, ….Tuyến phòng
thủ thứ ba là bộ phận Kiểm toán nội bộ, đây là bộ phận trực thuộc Ban kiểm soát và không
thuộc Ban điều hành của ngân hàng nên việc đánh giá với 2 tuyến phòng thủ trước và các rủi
ro có thể xảy ra được độc lập và khách quan.Mô hình phòng thủ này, nói thì rất đơn giản,
nhưng theo các chuyên gia thì để mô hình vận hành thành công đòi hỏi sự đầu tư rất tốn kém
cả về tiền bạc, thời gian. Điều quan trọng là để thực hiện thành công đòi hỏi sự tuân thủ đầu
tiên từ lãnh đạo ngân hàng, bởi không ít người ngại những “quy định rối rắm” của quản trị rủi
ro làm cản ngân hàng chớp những cơ hội kinh doanh tốt.ngân hàng techcombank là ngân
hàng đã thành công với mô hình quản trị rủi ro này. sau một thời gian tuân thủ nghiêm ngặt
mô hình quản trị phòng thủ 3 lớp tại Techcombank là các chuẩn mực an toàn đã được tuân thủ
và dần tiệm cận với các chuẩn mực quản trị tiên tiến thế giới, đặc biệt, tạo nên văn hóa ý thức
và kiểm soát rủi ro trong mỗi nhân viên của ngân hàng.
Câu 12:quan điểm về nhận định “Rủi ro thanh khoản có thể làm ngân hàng đứng trên
dụng quá nóng. Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng đi kèm với cơ cấu đầu
tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro
cao khi thị trường đóng băng + công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng
Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhà
nước +tính liên kết hệ thống giữa các NH để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự
cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm
giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NH khác dẫn đến làm suy yếu khả năng
15
chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống.+ vấn đề quản trị thanh khoản tại các NH chưa
tốt. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản nợ, có của các NH và sự thiếu hụt của các công cụ quản
lý hữu hiệu +: xuất phát từ phía khách hàng Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa
minh bạch, một số khách hàng (kể cả pháp nhân) đã rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển
sang ngân hàng khác, dân cư rút tiền để mua vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ…đã làm tăng
tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại tệ.
Từ những nhận định trên có thể thấy răng, RRTK là mối đe dọa nguy hiểm cho NH, cần hiểu
rõ để dự báo trước đồng thời có những biện pháp cần thiết để hạn chế tổn thất khi nó xảy ra
Câu 13Nhận xét về thực trạng giám sát NHTM theo Basel II: Mặc dù vào thời điểm hiện
nay, Việt Nam mới bắt đầu các bước để áp dụng Basel II, nhưng điều đó không có nghĩa Việt
Nam đi chậm so với các nước, So với các chuẩn mực vốn Basel trước đó, chuẩn mực vốn
Basel II đã có những thay đổi cơ bản về cách tiếp cận. Theo đó, Basel II không chỉ yêu cầu về
tỷ lệ an toàn vốn một cách toàn diện và tiến bộ hơn, mà còn yêu cầu TCTD phải tự đánh giá
mức độ đủ vốn, quản lý rủi ro và yêu cầu của Cơ quan giám sát ngân hàng thực hiện thanh
tra, giám sát về vốn, quản lý rủi ro của TCTD và yêu cầu TCTD công khai thông tin theo kỷ
luật thị trường,
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn chưa phải là một thành viên của BCBS, do đó
không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ Basel II. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã dần tiếp cận với Basel II bằng cách ban hành nhiều văn
bản luật và quy định theo định hướng Basel II. theo quy định của Thông tư 13, cách tính tổng
vốn, bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2 đã khá tương đồng với Basel II, nhưng phần mẫu số
mới chỉ xác định rủi ro tín dụng, chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp. Lý do là
NHTM và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn
từ đó tạo ra sự cạnh tranh k chỉ giữa các NHTM mà còn là giữa các tổ chức tài chính. Để cạnh
tranh lại thì các NHTM bắt buộc phải điều chỉnh giá các dịch vụ sao cho có thể cạnh tranh lại
với các tổ chức khác và đảm bảo lợi nhuận của mình.
4, sự gia tăng cạnh tranh giữa các NHTM và các TCTD: sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài
chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi các NH và các TCTD đang mở rộng các dịch vụ,
các dịch vụ tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, tư vấn tài chính là những dịch vụ
17
đnang phải đối mặt với sự cạnh tranh, điều này cũng ảnh hưởng k nhỏ tới việc đinh giá đưa ra
giá của các dịch vụ sao cho phù hợp để cạnh tranh với các dịch vụ khác,
5 ,sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động NH và xu hướng phi quản lý: nếu các quy định
của chính phủ hợp lý, phù hợp với xu thế phất triển thì các NHTM có điều kienj phát triển
dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu của xã hội từ đó duy trì sức cạnh tranh trogn linh vực cung
caaos dịch vụ tài chính đảm bảo mức giá hợp lý, đảm bảo số lượng và chất lượng dịch vụ
thỏa đáng cho công chúng.
6, sự gia tăng chi phí vốn: khi chi phsi vốn tăng, để đảm bảo lợi nhuận vf duy trì hoạt động
của các dịch vụ thì đòi hỏi các NH phải điều chỉnh giá dịch vụ sao cho phù hợp với chi phí và
lợi nhuận cần thiết.
Liên hệ thực tế: Hầu hết các NHTM hiện nay luôn phải đối mặt với một thực trang đó là
lượng tiền gửi của xã hội vào NH tương đối cao do đây vẫn là một kênh đầu tư hiệu quả và an
toàn nhất trong nền kinh tế hiện nay. Nhưng trái ngược điều đó thì quá trình giải ngân cho
vay của các NHTM thì bị hạn chế do sự kiểm soát cao hơn về tín dụng cũng như do sự khó
khăn của các doanh nghiệp mà tiếp cận vốn vay ngân hàng bị hạn chế. Điều đó làm lợi nhuận
từ hoạt động cho vay của các NH bị giảm trng khi đó thì các chi phí hđ vẫn không đổi điều
này tác động đến giá dịch vụ mà các NHTM phải cung cấp cho KH. Theo sự đánh giá của các
tổ chức có uy tín thì chi phí hoạt động nói chung tại các NH năm 2012 cho đến này tăng chi
phí hđ tăng tới 49% so với thu nhập của các NH. Các NH tại việt nam so với các NH ở các
nước châu á thì có chi phí hoạt động rất cao.vì điều đó mà các NH phải điểu chỉnh chi phí
dịch vụ của mình để đảm bảo lợi nhuận cho hđ kinh doanh. Tuy nhiên một nghịch lý xảy ra
tại các NHTM đó là do sự cạnh tranh trong trị trường mà rất nhiều NH đưa ra các mức phí
Viettinbank, VCB… cũng tập trung nghiên cứu, đầu tư và phát triển các loại hình sản phẩm -
dịch vụ ngân hàng ngoài dịch vụ tín dụng truyền thống.
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng các sản phẩm dịch vụ của NH đã và đang có vai
trò rất lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, dó đó dưới áp lực cạnh tranh về cung
cấp dịch vụ ngân hang thì việc cải tiến, nâng cao chất lượng và đưa ra các giải pháp về giá các
dịch vụ của NHTM là một yếu tố dẫn đến sự thành công của các NHTM Và trong bối cảnh
thị trường hiện nay thì giá cả đang là một vấn đề được mọi người quan tâm, từ những vật
dụng thông thường hay đến những đồ xa sỉ thì giá luôn là một trong những yếu tố quyết định
19
việc ng mua có sử dụng nó hay k. Chính vì lẽ đó, để bán được nhiều sản phẩm dịch vụ thì
việc cạnh tranh giá giữa các NH là điều k tránh khỏi. Giá cả hợp lý, phù hợp với thị hiếu của
ng tiêu dùng thì sẽ được ưa chuộng hơn. Do đó, tìm hiểu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, tính
toán chi phí, lợi nhuận để đưa ra giá của các sản phẩm dịch vụ tỏng NH là điều k thể bỏ qua,
đó vừa là 1 chiến lược cạnh tranh giá, vừa là 1 định hướng an toàn cho các NHTM.
Liên hệ :Hầu hết các NHTM hiện nay luôn phải đối mặt với một thực trang đó là lượng tiền
gửi của xã hội vào NH tương đối cao do đây vẫn là một kênh đầu tư hiệu quả và an toàn nhất
trong nền kinh tế hiện nay. Nhưng trái ngược điều đó thì quá trình giải ngân cho vay của các
NHTM thì bị hạn chế do sự kiểm soát cao hơn về tín dụng cũng như do sự khó khăn của các
doanh nghiệp mà tiếp cận vốn vay ngân hàng bị hạn chế. Điều đó làm lợi nhuận từ hoạt động
cho vay của các NH bị giảm trng khi đó thì các chi phí hđ vẫn không đổi điều này tác động
đến giá dịch vụ mà các NHTM phải cung cấp cho KH. Theo sự đánh giá của các tổ chức có
uy tín thì chi phí hoạt động nói chung tại các NH năm 2012 cho đến này tăng chi phí hđ tăng
tới 49% so với thu nhập của các NH. Các NH tại việt nam so với các NH ở các nước châu á
thì có chi phí hoạt động rất cao.vì điều đó mà các NH phải điểu chỉnh chi phí dịch vụ của
mình để đảm bảo lợi nhuận cho hđ kinh doanh. Tuy nhiên một nghịch lý xảy ra tại các
NHTM đó là do sự cạnh tranh trong trị trường mà rất nhiều NH đưa ra các mức phí hấp dẫn
thu hút sự quan tâm tới khách hàng . cũng vì điều đó mà để duy trì đc cạnh tranh các NH phải
giảm các phí dịch vụ của mình so với các đối thủ cạnh tranh đồng thời thu hút đc KH. Như
các NH như An Bình đã giảm mức phí dịch vụ của mình . tuy nhiên thì ko phải tất cả các NH
đều dùng chiến lược này để thu hút KH, ở VN một số NH do sự tin tưởng và uy tín của mình
báo cáo và theo dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh (cho vay) và các quy trình
vận hành khác; bảo vệ lợi ích của đơn vị thông qua việc tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính
hiệu quả của từng đơn vị.
Tuyến phòng thủ thứ 2 chính là Khối quản trị rủi ro và Khối tuân thủ, quản trị rủi ro hoạt
động và pháp chế. Nhiệm vụ của tuyến này là rất nhiều, nhưng quan trọng hơn cả là độc lập
đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối) tính hiệu quả của hệ thống ở tuyến phòng thủ thứ
nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc thiết lập khẩu vị rủi ro/chính sách cho vay, xây dựng
quy trình/hướng dẫn tín dụng và cho vay, theo dõi, cảnh báo sớm, quản trị danh mục…, giám
sát các chương trình kiểm soát nội bộ, tuân thủ, ….
21
Tuyến phòng thủ thứ ba là bộ phận Kiểm toán nội bộ, đây là bộ phận trực thuộc Ban kiểm
soát và không thuộc Ban điều hành của ngân hàng nên việc đánh giá với 2 tuyến phòng thủ
trước và các rủi ro có thể xảy ra được độc lập và khách quan.
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng quản tị rủi ro k chỉ cần 1 bộ phận trong Nh đảm nhiệm
là đủ mà cần có sự góp sức của tất cả các bộ phận, phòng ban, có như vậy rủi ro mới được
hạn chế, tổn thất mới là nhỏ nhất.
Câu 17: những tổn thất chính mà rủi ro gây ra cho ngân hàng thương mại: Hoạt động
kinh doanh của NHTM là hoạt động mang tính đặc thù, tài sản có được hình thành chủ yếu từ
nguồn huy động bằng công cụ nợ và công cụ tiết kiệm, các công cụ này có tíh thanh khoản
cao và là nguồn vốn rất nhạy cảm, k ổn định. Trong khi đó nguồn vốn của NH có tính kì hạn
cao và kém thanh khoản hơn. Do đó trong hoạt động kinh doanh, NHTM đối mặt với rủi ro
bắt nguồn từ nguyên nhân khả năng thanh khoản, tín dụng, lãi suất, hối đoái và các rủi ro
khác. Những rủi ro này đã gây ra cho NHTM những tổn thất đáng kể:
Đói với các NH: rủi ro xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, nguồn thu
nhập,lợi nhuận NH,thậm chí Nh phải lấy vốn tự có để bù đắp các khoản thiếu hụt do rủi ro
gây ra, khả năng thanh toán của NH kém đi, lòng tin của khách hàng k còn nữa, ng gửi tiền
muốn rút tiền để tránh rủi ro.những tổn thất thường gặp là mất vốn cho vay, gia tăng ch phí
hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị tài sản cuối cùng là sự tín nhiệm dành cho
NH bị giảm sút nghiêm trọng và tổn hại thương hiệu của NH
Đối với nền kinh tế: Nh là một trung gian tài chính của nền kinh tế, nó có quna hệ trực tiếp và
phải chấp nhận rủi ro ở một mức độ hợp lí sao cho tổn thất nó gây ra là ít nhất.
Câu 18 quan điểm về giải pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của
NHTM hiện nay: Nhiều ngân hàng, công ty cho thuê tài chính đã phải "ngậm đắng, nuốt
cay" vì không thu hồi được tài sản đã cho thuê, như: tàu biển, phương tiện, máy móc Tệ
hơn, khi khách hàng thuê tài chính đã bị kiệt quệ, không trả nợ thì các đơn vị này cũng khó
thu hồi tài sản, hoặc tài sản giảm giá trị, chỉ còn cách bán sắt vụn! Nguyên nhân của thực
trạng này, theo NHNN, là do năng lực, quản trị, điều hành của công ty cho thuê tài chính còn
hạn chế, đặc biệt là quản trị rủi ro. Một số công ty có kế hoạch, chiến lược hoạt động kinh
doanh không phù hợp, vượt quá năng lực, trong khi quy mô hoạt động nhỏ, vốn điều lệ và uy
23
tín thấp, huy động vốn gặp khó khăn (chủ yếu từ TCTD). Việc tập trung cho thuê vào một số
ít khách hàng có chung lĩnh vực kinh doanh trong tập đoàn hoặc tổng công ty và cho vay một
số lĩnh vực có rủi ro cao như tàu thủy đã dẫn đến rủi ro hoạt động. Công tác phòng ngừa rủi
ro cho thuê tài chính ngày nay đã được chú trọng đẩy mạnh và nâng cáo chất lượng hoạt
động, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay, các biện pháp phòng ngừa rủi ro cho thuê
tài chính thẻ hiện qua chính sách cho thuê tài chính, chiến lược quản trị rủi ro và được thực
hiện trogn tất cả các khâu của quy trình cho thuê tài chính nhằm nhận diện sớm nhất những
rủi ro có thể xảy ra và đưa ra biện pháp xử lý phù hợp
1, chính sách quản lý rủi ro cho thuê tài chính: thể hiện cụ thể qua các văn bản, các công văn,
toong báo do giám đốc và chủ tịch hội đồng ban hành
+ quy định về giới hạn cho thuê tài chính: thường sẽ quy định tổng dư nợ cho thuê đối với
một khách hàng k vượt quá bao nhiêu % vốn tự có của cty tại moi thời điểm và giới hạn đối
với 1 nhóm khách hàng có liên quan là bao nhiêu % vốn tự có của cty.
+ định hướng ngành nghề ưu tiên cho thuê tài chính: cty thực hiện cho thuê tài chính khác
nhau, ưu tiên hoặc hạn chế cho thuế với các đôi tượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực
khác nhau, phù hợp với đk cụ thể dựa tren cac thời kì và nguyên tắc sau: - hạn chế việc mở
rộng và cho thuê, bảo lãnh đối với các khách hàng hoạt động sản xuất kinh doanh trong các
ngành nghề được nhận là kém hiệu quả, mức độ rủi ro cao. – ưu tiên cho thuê tài chính đối
với khách hàng hoạt động lĩnh vực có hiệu quả kinh tế xã hội cao
+ chính sách khách hàng: chính sách khách hàng được xây dựng và áp dụng dựa trên kêt quả
và sau đó là dẫn tới sự mất uy tín của NH, làm cho NH về tính lành manh trọng hoạt động
NH, trên mức đó là sự k tin vào tin vào tiềm lực tài chính của NH dẫn tới RRTK có thể đẩy
NH tới bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống NH. Mặt khác khi khách
hàng nhìn vào tình hình nợ quá hạn của NH thì ng gửi tiền có thể nghi ngờ và k gửi tiền vào
NH đó làm cho nguồn vốn NH giảm mạnh và người gửi tiền thì rút tiền ra để gửi vào NH
khác vì nghi ngờ vào tiềm lực tài chính của NH dẫn đến nguồn vốn của NH lại càng giảm
mạnh hơn
Thực trạng: trong thời kì đổi mới, công tác tín dụng tại các NHTM đã có những bước
phát triển tiến bộ đáng ghi nhận, đó là khả năng huy động vốn được cải thiện, các hình thức
cho vay mới xuất hiện linh hoạt và phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, thủ tụcho vay
25