Nghiên cứu chế tạo màng quang xúc tác TiO2 và TiO2 pha tạp N - Pdf 27

MỞ ĐẦU
Môi trường sống hiện nay đang bị ô nhiễm khói, bụi và ngày càng trầm trọng.
Từ việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch, hoạt động của các nhà máy công
nghiệp,… các loại khí SO
2
, NO
x
, CO
2
, … thải vào bầu khí quyển ngày càng nhiều
đã và đang gây ra nhiều tác hại như hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng dần, các
trận mưa acid có độ đậm đặc tăng dần đang đe dọa trực tiếp các công trình xây
dựng, đồng thời gây hoang hóa đất canh tác. Để cải thiện môi trường, con người đã
có nhiều giải pháp tích cực và có hiệu quả. Trong số đó, giải pháp sử dụng các loại
vật liệu quang xúc tác đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu trong
những năm gần đây. Trong rất nhiều loại vật liệu có tính năng quang xúc tác như
ZnO, Ta
2
O
5
, ZrO
2
, TiO
2
, , vật liệu titandioxide (TiO
2
) cho thấy có triển vọng, ứng
dụng hiệu quả nhất nhờ khả năng ôxy hóa mạnh của lỗ trống được sản sinh bởi
photon khi hấp thụ ánh sáng có bước sóng ngắn hơn 380nm (vùng ánh sáng tử
ngoại, UV), tính trơ hóa học và tính thân thiện với môi trường.
Vật liệu TiO

Khi nghiên cứu về tính năng quang xúc tác của vật liệu TiO
2
, các nhà khoa học
quan tâm hai dạng chủ yếu là bột và màng. Vật liệu bột đã được nghiên cứu nhiều
và đã đạt được những kết quả nhất định [42,90]. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế
như: tốn kém vật liệu, không thuận lợi trong việc xử lý các bề mặt có diện tích lớn
và phức tạp trong việc thu hồi bột sau khi sử dụng. Trong những năm gần đây, việc
nghiên cứu vật liệu màng được quan tâm nhằm khắc phục những hạn chế đó
[32,49,53,61,68,74].
Với độ rộng vùng cấm khoảng 3.2eV - 3.8eV, vật liệu TiO
2
chỉ có thể cho hiệu
ứng quang xúc tác trong vùng ánh sáng UV. Tuy nhiên, hiệu suất quang xúc tác
ngoài trời thấp do bức xạ UV chỉ chiếm khoảng 5% năng lượng Mặt Trời. Để sử
dụng năng lượng Mặt Trời một cách hiệu quả hơn, cần mở rộng phổ hấp thu của
TiO
2
vào vùng ánh sáng khả kiến (loại bức xạ chiếm đến 45% năng lượng mặt trời).
Để chế tạo vật liệu có tính năng quang xúc tác tốt trong vùng ánh sáng khả kiến
trên nền vật liệu TiO
2
, cho đến nay có bốn phương pháp chủ yếu được đề nghị là:
(1) pha tạp ion kim loại chuyển tiếp (để tạo những trạng thái trung gian trong vùng
cấm TiO
2
); (2) gắn kết chất nhạy quang (đóng vai trò là chất hữu cơ có khả năng
hấp thụ ánh sáng khả kiến); (3) thành lập TiO
x
(tạo trạng thái khuyết oxygen (O)
định xứ trên mức năng lượng trong khoảng 0.75eV – 1.18 eV ở dưới vùng dẫn); (4)

2
pha tạp N (TiO
2
:N)
trong vùng ánh sáng khả kiến đã có nhiều công trình nghiên cứu đề xuất các
phương pháp khác nhau. Cụ thể, trong [40,90], các tác giả đã sử dụng phương pháp
solgel. Đây là một phương pháp dễ triển khai ứng dụng, thiết bị chế tạo đơn giản
nhưng luôn cho lượng pha tạp N nhỏ. Trong [53,62,68], các tác giả đã sử dụng
phương pháp IBAD (ion beam assisted deposition) và PLD (pulse laser deposition).
Đây là các phương pháp sử dụng chùm ion hoặc photon năng lượng cao để phún xạ
vật liệu nên có khả năng cho lượng pha tạp N lớn. Tuy nhiên, các thiết bị chế tạo rất
đắt tiền và khó triển khai tạo màng trên diện tích rộng. Với các hạn chế của các
phương pháp nêu trên, đã xuất hiện nhiều công trình tập trung sự chú ý vào phương
pháp phún xạ magnetron. Đây là một phương pháp dễ thực hiện được việc tạo màng
trên diện tích rộng và có khả năng triển khai ứng dụng nhưng theo [49,68], kết quả
nhận được lại cho lượng pha tạp N vẫn nhỏ. Kết quả trong [61] đạt được lượng tạp
N lớn (lên đến 20.8%atN) nhưng màng lại chuyển sang cấu trúc TiN. Vì vậy, việc
cải tiến phương pháp phún xạ magnetron nhằm chế tạo được màng TiO
2
:N có lượng
pha tạp N lớn để có tính năng quang xúc tác tốt trong vùng ánh sáng khả kiến cũng
là một yêu cầu có ý nghĩa khoa học cũng như tính thực tiễn ứng dụng cao.
Để có thể sử dụng phương pháp phún xạ magnetron nhằm mục đích khắc phục
những hạn chế đã nêu ở trên, chúng tôi thực hiện việc nghiên cứu chế tạo màng
quang xúc tác TiO
2
và TiO
2
:N theo các nội dung như sau:
A. Thiết kế và chế tạo các thiết bị đo tính năng quang xúc tác và tính năng siêu

magnetron không cân bằng), các phương pháp phân tích tính chất và cấu trúc màng
(nhiễu xạ tia X, đo độ truyền qua UV-Vis, xác định E
g
, đo độ ghồ ghề bằng kính
hiển vi lực nguyên tử AFM, đo lượng pha tạp N trong màng bằng phổ tán sắc năng
lượng EDS, đo khả năng quang xúc tác và đo khả năng siêu thấm ướt nước trên bề
mặt của màng)
PHẦN 2: là phần thực nghiệm, bao gồm 3 chương.
Chương 3: “Thiết kế và chế tạo hệ thực nghiệm tạo màng và hệ đo tính năng quang
xúc tác”. Trong chương này, mô tả cách thiết kế và chế tạo hệ phún xạ magnetron
không cân bằng và cách cải tiến để nâng cao tính không cân bằng của hệ cũng như
quy trình tạo màng, thiết kế chế tạo hệ đo tính năng quang xúc tác và hệ đo tính siêu
thấm ướt nước trên bề mặt màng.
Chương 4: “Nghiên cứu chế tạo màng quang xúc tác TiO
2
trong vùng ánh sáng UV
bằng phương pháp phún xạ magnetron không cân bằng”. Trong chương này, trình
bày các điều kiện thực nghiệm để chế tạo màng đạt được cấu trúc tinh thể anatase
ngay trong quá trình chế tạo và có tính năng quang xúc tác tốt trong vùng ánh sáng
UV. Đó là các điều kiện về: tỉ lệ thành phần hỗn hợp khí O
2
/Ar, áp suất phún xạ p,
khoảng cách bia – đế h, độ dày màng d
f
và công suất phún xạ P. Ngoài ra, còn trình
4
bày kết quả đo khả năng diệt khuẩn và khả năng chống đọng giọt trên bề mặt màng
dưới ánh sáng UV.
Chương 5: “Nghiên cứu cơ chế pha tạp nitrogen và tính chất quang xúc tác của
màng TiO

1.1. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC TINH THỂ CỦA VẬT LIỆU
TITANDIOXIDE, TiO
2
.
Màng titandioxide, TiO
2
, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật
như kính lọc, pin mặt trời, sensor quang, kính chống phản xạ, Trong thời gian
gần đây, TiO
2
được phủ lên bề mặt các loại vật liệu để diệt khuẩn, lọc không khí,
chống rêu bám, cũng như giúp bề mặt vật liệu có khả năng tự làm sạch, chống
sương bám, chống đọng nước,
Liên kết TiO
2
là liên kết ion. Các nguyên tử titanium (Ti) và oxygen (O) trao đổi
điện tử hóa trị cho nhau để trở thành các cation và anion. Liên kết xuất hiện giữa
các ion trái dấu thông qua lực hút tĩnh điện. Khi các nguyên tử Ti (hình 1.1.1) và O
(hình 1.1.3) tiến lại gần nhau để tạo nên tinh thể, do tương tác mà giữa chúng có sự
phân bố lại điện tử trong các nguyên tử. Quá trình phân bố lại điện tử thỏa mãn điều
kiện bảo toàn điện tích trong toàn hệ và có xu hướng sao cho các nguyên tử có lớp
vỏ ngoài cùng lấp đầy điện tử [1,57]. Khi tạo thành tinh thể, mỗi nguyên tử Ti cho
hai nguyên tử O bốn điện tử và trở thành cation Ti
4+
và mỗi nguyên tử O nhận hai
điện tử và trở thành anion O
2-
.
Hình 1.1. Cấu hình điện tử biểu diễn theo vân đạo
7

2
, ta có thể xếp nó thuộc loại chất bán dẫn có độ rộng vùng
cấm lớn và sử dụng lý thuyết bán dẫn để giải thích phần hấp thụ quang. Khi năng
lượng photon ánh sáng chiếu tới màng TiO
2
lớn hơn hay bằng độ rộng vùng cấm
của nó, chuyển mức cơ bản xảy ra và là chuyển mức xiên được phép. Mức Fermi
trong tinh thể TiO
2
nằm chính giữa vùng cấm.
8
Hình 1.2. Cấu trúc vùng TiO
2
.
Tinh thể TiO
2
(hình 1.3) bao gồm ba pha cấu trúc riêng là anatase, rutile và
brookite. Công trình này không thực nghiệm khảo sát pha brookite, nên hai pha
được nghiên cứu trọng tâm là pha anatase và rutile.
Mạng TiO
2
tuân theo kiểu mạng tinh thể của hợp chất hóa học ion AB
2
[16].
• n
B
= 2n
A
: số nguyên tử B gấp đôi A.
• K

ở pha rutile (3.1eV) nhỏ hơn so với pha
anatase (3.2eV) là do khoảng cách giữa các hạt trong pha rutile nhỏ hơn. Năng
lượng thành lập pha rutile (
mol)212.6kcal/ΔG
0
f
−≈
lớn hơn pha anatase (
Hình 1.3. Cấu trúc tinh thể TiO
2
.
9
mol)211.4kcal/ΔG
0
f
−≈
. Do đó, ứng với các mức năng lượng càng cao sự chồng
chập của các hàm sóng điện tử càng lớn nên dẫn đến bề rộng vùng cho phép càng
lớn và độ rộng vùng cấm càng nhỏ [13].
Cả hai mạng tinh thể
TiO
2
rutile và anatase
đều thuộc cùng nhóm
đối xứng điểm, viết theo
ký hiệu của Hermann -
Maugin là 4/mmm [14],
có các yếu tố đối xứng
C
M2

C [38,95].
Ngoài ra, màng TiO
2
vô định hình có chiết suất n nhỏ nhất so với các cấu trúc
TiO
2
đa tinh thể vì mật độ khối ρ (g/cm
3
) thấp nhất.
1.2. TÍNH CHẤT QUANG.
1.2.1. Sự liên hệ giữa chiết suất n và mật độ khối lượng ρ [34].
Hình 1.4. Ô cơ sở của cấu trúc anatase và rutile
(1)
(2)
10
Hình 1.5. Các yếu tố đối xứng của cấu trúc anatase và rutile
Từ biểu thức Lorentz – Lorenz [34]:
( )
( )
2
2
2
2 2 2
2 2
0
0
4 / 3
1
2
3

2
2
1
2
n
n
 

 ÷
+
 
sẽ tỷ lệ với mật độ điện tử.
Biểu thức Lorentz – Lorenz là tổng quát hóa khi (ω ≠ 0) của biểu thức Clausius –
Mossotti.
2
2
1 4
4
2 3 3
a
N N
n
n M
π
π
α
π
π α ρ
 


của màng tăng (do mật độ khối tăng).
Ngoài ra, từ biểu thức Clausius Mosstti cũng có thể suy ra mật độ xếp chặt của
màng [42]: ρ = ρ
f

m
(1.3.1)
ρ
f

m
= (n
f
2
- 1)(n
m
2
+ 2)/(n
m
2
- 1)(n
f
2
+ 2), (1.3.2)
với ρ: mật độ xếp chặt, ρ
f
: mật độ màng, ρ
m
: mật độ khối, ρ
anatase

R
n n n
 

=
 ÷
+
 
, (1.4)
với n
o
: chiết suất không khí; n
1
: chiết suất màng; n
s
: chiết suất của đế
Từ phương trình (1.4) cho thấy, khi chiết suất của màng tăng thì độ phản xạ của
màng tăng và độ truyền qua của màng sẽ giảm. Như vậy, khi màng chuyển từ pha
vô định hình sang pha anatase rồi pha rutile thì mật độ khối ρ tăng nên chiết suất n
tăng (công thức 1.2), do đó hệ số phản xạ R tăng và hệ số truyền qua T giảm.
1.2.3. Sự liên hệ giữa cấu trúc tinh thể và độ rộng vùng cấm E
g
[1,13,69].
Khi giải phương trình Schrodinger để xác định trạng thái điện tử bằng cách dùng
phương pháp gần đúng liên kết mạnh, sẽ dẫn đến một số kết quả quan trọng sau
đây:
1. Mức năng lượng
a
E
của điện tử trong nguyên tử cô lập khi tạo thành tinh thể sẽ

a
E
a
+C
E
a
+C ± 6|A|
Hình 1.6. Dạng các vùng năng lượng
được thành lập từ các mức năng lượng
khi các nguyên tử cô lập được tập hợp lại.
Hình 1.7. Dạng của các vùng năng lượng khi
các nguyên tử được tập hợp lại.
13
Dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại (UV),

các điện tử từ vùng hóa trị (hình 1.8)
chuyển lên vùng dẫn thành các điện tử tự do, để lại các lỗ trống ở vùng hóa trị. Điện
tử và lỗ trống khuếch tán ra bề mặt và phản ứng với H
2
O và O
2
hấp thụ trên bề mặt
màng và tạo ra các gốc có khả năng ôxy hóa khử chất hữu cơ.
Về nguyên tắc, điện tử muốn khử một chất thì mức năng lượng của cực tiểu
vùng dẫn phải âm hơn thế khử của chất đó và lỗ trống muốn ôxy hóa một chất thì
mức năng lượng của cực đại vùng hóa trị phải dương hơn thế ôxy hóa của chất đó.
Mức không của giản đồ thế được xác định bằng thế ôxy hóa khử của nguyên tử
hydrogen (H).
Trên giản đồ thế (hình 1.9), thế ôxy hóa của lỗ trống ở vùng hóa trị là +2.53V,
dương hơn thế ôxy hóa của gốc hydroxyl là +2.27V nên lỗ trống có thể ôxy hóa

O
(1.6)
Từ (1.5) và (1.6) cho thấy, sản phẩm là gốc hydroxyl

OH có tính ôxy hóa rất
mạnh và gốc superoxyt


2
O
có tính khử, nên chúng sẽ ôxy hóa khử các chất hữu cơ
trên bề mặt để tạo ra các sản phẩm phân hủy (CO
2
và H
2
O). Hiệu ứng phân hủy hợp
Hình 1.8. Phản ứng quang xúc tác của TiO
2
.
14
chất hữu cơ được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực diệt khuẩn vì chúng đều là những
chất hữu cơ (là các dạng sống, có màng tế bào và đều tạo nên từ các lipid khác
nhau) nên bị phá hủy bất chấp ở hình thái nào. Nhờ vậy, vật liệu TiO
2
được ứng
dụng để làm sạch nguồn nước, không khí, các bề mặt, …
1.3.2. Tính chất quang siêu thấm ướt nước [51,52].
Bề mặt của các loại vật liệu rắn đều có tính
kỵ nước ở một mức độ nào đó. Mức độ kỵ
nước được phản ánh qua góc tiếp xúc của giọt

, tính thấm ướt
nước của màng thay đổi
từ trạng thái kỵ nước
chuyển sang trạng thái
ái nước. Như vậy, ánh
sáng UV đã làm thay
đổi cấu trúc bề mặt của
màng TiO
2
. Màng TiO
2
,
khi chưa chiếu UV, có
góc nước
θ
khá lớn.
Với thời gian chiếu
sáng đủ lâu,
θ
có thể
giảm và nhỏ hơn 0
o
. Ta
nói, màng TiO
2
có tính
siêu thấm ướt nước, nghĩa là các giọt nước nếu bám trên bề mặt màng sẽ loang rất
nhanh thành một màng nước rất mỏng.
Cơ chế quang siêu thấm ướt nước của màng TiO
2

e
-
+ Ti
4+
 Ti
3+
, (1.8)
Còn lỗ trống ôxy hóa anion O
2-
thành O
2
:
4h
+
+ 2O
2-
 O
2
(1.9)
O
2
tạo thành trong phản ứng (1.9) bay ra khỏi bề mặt màng, nghĩa là các hạt O
bắc cầu bị bứt ra khỏi bề mặt màng và để lại các chỗ khuyết O. Lúc này, khi các
16
Hình 1.11. Cơ chế siêu thấm ướt nước của màng TiO
2
.
phân tử nước H
2
O bám trên bề mặt màng bị phân ly thành anion OH

2
đều có hình thái bề mặt riêng. Trong đó, mật độ và vị trí sắp xếp
của các hạt O bắc cầu khác nhau. Do đó, các màng khác nhau sẽ có tính năng quang
siêu thấm ướt nước khác nhau. Hình 1.12 minh họa vị trí các hạt O bắc cầu trên bề
mặt thuộc họ mặt mạng rutile lý tưởng R(110). Ở đó, các hạt O bắc cầu được sắp
xếp rất thẳng hàng.
Hiệu ứng quang siêu thấm ướt nước có nhiều ứng dụng trong thực tế. Dưới tác
dụng của ánh sáng UV màng TiO
2
trở nên có tính siêu thấm ướt nước. Các hạt
sương bám trên bề mặt màng sẽ nhanh chóng loang thành một màng nước cực
mỏng hoàn toàn trong suốt. Nhờ tính chất này, màng TiO
2
được ứng dụng để chống
sương bám trên bề mặt kính xe; tự làm sạch bề mặt của các thiết bị như: kính xây
dựng, kính mắt,…
1.4. CẤU TRÚC CỦA TINH THỂ TiO
2
KHI PHA TẠP N VÀ TÍNH CHẤT
QUANG XÚC TÁC CỦA NÓ TRONG VÙNG ÁNH SÁNG KHẢ KIẾN.
1.4.1. Cấu trúc tinh thể TiO
2
khi pha tạp Nitrogen (N) [94,97].
Hình 1.12. Vị trí các hạt O bắc cầu trên mặt R(110).
17
Khi tinh thể TiO
2
được pha tạp N, một số nguyên tử O bị thay thế bởi nguyên tử
N, (ta có cấu trúc TiO
2-x

.
Tuy nhiên, khi pha tạp thay thế N thì sự biến thiên về cấu trúc trong pha anatase
TiO
2
không rõ ràng. Do sự chênh lệch nhỏ của kích thước chiều dài liên kết giữa
Ti – N và Ti – O nên mạng tinh thể hầu như ít bị biến dạng.
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu, pha tạp thay thế N được xem là quan
trọng vì nó làm tăng khả năng quang xúc tác trong vùng ánh sáng khả kiến
[53,61,62,68,71]. Ta có thể quan sát cấu hình điện tử của các nguyên tử và ion để
hiểu được quá trình pha tạp N thay thế O trong tinh thể TiO
2
:
Ti: 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
6
3d
2
4s
2
O : 1s
2
2s
2

2p
3
Như vậy, trong Ti
4+
, trạng thái 3d (tương ứng với vùng dẫn, trống điện tử) chồng
chập lên trạng thái 4s. Trong khi đó, đối với O
2-
, trạng thái 2p nằm ở vùng hóa trị
(1)
(2)
Hình 1.13. (1) Cấu trúc tinh thể anatase TiO
2
; (2) Cấu trúc tinh thể TiO
2
được pha tạp N
18
chứa đầy điện tử. Vì vậy, TiO
2
có vùng dẫn ứng với năng lượng của trạng thái Ti 3d
và vùng hóa trị ứng với năng lượng của trạng thái O 2p. Vì năng lượng của trạng
thái N 2p lớn hơn năng lượng của trạng thái O 2p, nên khi N thay thế cho O trong
cấu trúc TiO
2
thì năng lượng của vùng hóa trị trong cấu trúc TiO
2
:N sẽ âm hơn so
với năng lượng của vùng hóa trị trong cấu trúc TiO
2
. Kết quả là giá trị E
g

2-x
N
x
Orbital liên kết
trong TiO
2
Ti3d + O2p
Ti3d + O2p
O2p + Ti3d
O2p + Ti3d
Ti3d
O 2p
E
g
= 3.2 eV
Ti3d + O2p + N2p
Ti3d + O2p + N2p
N2p + O2p + Ti3d
N2p + O2p + Ti3d
Ti 3d
N2p
O2p
E
g
= 2.5 eV
19
thay thế và sự có mặt của trạng thái khuyết O mới có thể làm tăng khả năng quang
xúc tác trong vùng ánh sáng khả kiến. Bởi vì, trong điều kiện này, cho phép hình
thành cả hai mức acceptor và donor trong vùng cấm (ở gần đỉnh vùng hóa trị và đáy
vùng dẫn). Ngoài ra, nồng độ pha tạp N cũng ảnh hưởng lên tính năng quang xúc



2
O
.
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN TÍNH NĂNG QUANG XÚC TÁC
[51,52].
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính năng quang xúc tác của màng như: phương
pháp chế tạo, độ kết tinh của tinh thể, nhiệt độ nung, diện tích hiệu dụng bề mặt,
khối lượng xúc tác, cường độ chiếu sáng, … [75]. Tuy nhiên, hai yếu tố chủ yếu
quyết định tính năng quang xúc tác của màng TiO
2
là diện tích hiệu dụng bề mặt và
độ kết tinh của màng. Ngoài ra, để phản ứng quang xúc tác xảy ra trong vùng ánh
sáng khả kiến thì cần quan tâm đến một yếu tố quan trọng là bờ hấp thụ của màng
20
Hình 1.15. Quang xúc tác của vật liệu TiO
2
:N
Vùng dẫn
Vùng hóa trị
phải nằm trong vùng ánh sáng này. Muốn vậy, cần pha tạp một lượng N thích hợp
vào tinh thể TiO
2
.
1.5.1. Diện tích hiệu dụng bề mặt.
Bề mặt được xem là hiệu dụng nhất khi màng có khả năng hấp thụ nhiều lượng
hữu cơ cần xử lý. Thông thường bề mặt càng hiệu dụng khi màng càng xốp hoặc độ
ghồ ghề bề mặt càng lớn. Khi kích
thước hạt càng nhỏ, biên hạt càng

Khi màng TiO
2
có độ kết tinh càng cao thì sự tái hợp của điện tử-lỗ trống càng
nhỏ, do đó mật độ của chúng càng nhiều và tính năng quang xúc tác càng mạnh.
Tuy nhiên, khi độ kết tinh của màng càng cao thì độ xốp của màng lại càng giảm
và có thể dẫn đến làm giảm diện tích hiệu dụng bề mặt. Ngoài ra, nếu độ kết tinh
vừa đủ lớn, độ giảm xốp không đáng kể mà độ ghồ ghề bề mặt của màng vẫn đủ cao
thì vẫn có thể làm tăng diện tích hiệu dụng bề mặt. Vì vậy, để có tính năng quang
xúc tác tối ưu cần lựa chọn điều kiện chế tạo màng thích hợp sao cho vừa có độ kết
tinh cao (giảm tái hợp của điện tử – lỗ trống) đồng thời diện tích hiệu dụng bề mặt
lớn (tăng khả năng hấp thụ chất cần xử lý).
1.5.3. Cường độ chiếu sáng.
Hiệu ứng quang xúc tác trên bề mặt màng TiO
2
không phụ thuộc vào cường độ
ánh sáng kích thích mà chỉ phụ thuộc vào bước sóng của ánh sáng kích thích hay
năng lượng photon. Như vậy, những chùm ánh sáng kích thích có cường độ chiếu
sáng yếu nhưng năng lượng photon đủ lớn đều có khả năng gây ra hiệu ứng quang
xúc tác. Điều này có nghĩa là, ánh sáng đèn huỳnh quang trong phòng ở (có chứa
khoảng 4% bức xạ UV) cũng có thể gây ra được hiệu ứng quang xúc tác.
Trong quang xúc tác nhờ TiO
2
, yêu cầu cần thiết là vật liệu sau khi được chế tạo
phải hấp thụ tốt ánh sáng UV. Tương tự với quang xúc tác nhờ TiO
2
:N, vật liệu sau
khi chế tạo cũng phải có khả năng hấp thụ tốt ánh sáng vùng khả kiến. Điều này chỉ
đạt được khi bờ hấp thụ của màng sau khi chế tạo nằm trong vùng tử ngoại hoặc
khả kiến.
Ngoài các yếu tố trên, còn một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến khả năng

trên bề mặt màng). Vì vậy, khi chiếu ánh sáng thích hợp và có sự hiện diện của
nước trên bề mặt màng thì bề mặt màng có khả năng tự làm sạch (hình 1.17).
Vật liệu TiO
2
được phủ trên bề mặt các kính xây dựng sử dụng ngoài trời và đã
cho thấy rõ chức năng tự làm sạch rất tốt của nó.
1.6.2. Chống mờ bề mặt.
Hình 1.17. Cơ chế tự làm sạch bề mặt
23
Hình 1.18. Khả năng chống mờ của màng TiO
2
Một chức năng khác do hiện tượng siêu thấm ướt tạo ra là chức năng chống mờ.
Bề mặt của những tấm gương hoặc tấm kính bị mờ là do hơi nước bám lên trên bề
mặt và đọng lại thành giọt. Với bề mặt siêu thấm ướt thì không có giọt nước nào
được hình thành (hình 1.18), thay vào đó là một lớp màng mỏng nước trong suốt
được hình thành trên bề mặt vật liệu.
1.6.3. Diệt khuẩn.
Vật liệu TiO
2
có khả năng ôxy hóa mạnh với hầu hết các loại vi khuẩn, virus,
nấm. Đầu tiên nó phá hủy màng tế bào của vi khuẩn, làm cho tế bào chất vỡ ra và
cuối cùng thì vi khuẩn bị giết và bị phân hủy (hình 1.19).
Nhìn chung, vật liệu TiO
2
có khả năng tẩy uế vi khuẩn mạnh gấp ba lần so với
chlorination và mạnh gấp 1.5 lần so với ozone [51].
1.6.4. Những ứng dụng thân thiện với môi trường.
* Khử độc nước thải do việc diệt sâu, rầy trên lúa.
Các dung dịch khử vi sinh vật gây hại cho lúa thường chứa nồng độ hóa chất
nông nghiệp cao. Vì vậy, nguồn nước thải nông nghiệp bị nhiễm bẩn và chính

, PO
4
3-
,
K
+
.
* Xử lý đất bị ô nhiễm
bởi các thành phần hữu
cơ dễ bay hơi.
Các thành phần
hữu cơ khử trùng
bằng clo dễ bay hơi
như trichloroethylene
và tetrachloroethylene
được sử dụng rộng rãi
như là dung môi làm
sạch và tẩy rửa các
vật liệu. Nước thải có
chứa các chất này là nguyên nhân làm đất bị ô nhiễm và tạo ra các chất gây ung thư
và chất độc hóa học lan rộng trong môi trường. Đã có nhiều phương pháp được thực
hiện nhưng vẫn không thực sự làm sạch được môi trường.
25
Hình 1.20. Hệ thống trồng cà chua với nước có xử lý
bằng TiO
2
Nước thải
Hình 1.21. Hệ thống xử lý đất bị ô nhiễm

Trích đoạn Kết quả thực nghiệm. Bàn luận. ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH BIA-ĐẾ (h). ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG SUẤT PHÚN XẠ (P). Kết quả thực nghiệm.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status